Thứ Hai, 24 tháng 2, 2014

Phát triển và đào tạo nguồn nhân lực Việt Nam trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Ngược lại nguồn nhân lực mà có trình độ văn hoá và chuyên môn nghiệp vụ
thấp thì sẽ không đủ khả năng để tiếp thu những công nghệ khoa học hiện đại, khoa
học kỹ thuật thì lạc hậu, năng suất lao động thì thấp sẽ làm cho tốc độ phát triển của
các ngành công nghiệp và các ngành dịch vụ công nghệ cao thấp và quá trình chuyển
dịch cơ cấu kinh tế cũng sẽ diễn ra chậm chạp, hoặc “ dậm chân tại chỗ” thậm chí có
khi còn thụt lùi. Do đó để phát triển đất nước thì việc đầu tiên cần làm là nâng cao
trình độ cho người lao động và đào tạo nguồn nhân lực là một việc làm cấp thiết cần
phải được quan tâm đúng mức. Nhất là trong hoàn cảnh hịên nay của nước ta thì điều
này càng cần phải được quan tâm nhiều hơn. Nước ta là nước nông nghiệp lạc hậu
lâu đời, với gần 80% dân số làm nông nghiệp, chỉ vừa tiến hành đổi mới nền kinh tế
chưa lâu, đang tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Khoa học kỹ thuật
còn rất lạc hậu, trình độ học vấn và trình độ chuyên môn kỹ thuật còn nhiều hạn chế.
Để có thể theo kịp được các nước trên thế giới và khu vực thì nước ta cần phải đầu tư
các nguồn lực phát triển đất nước nhiều hơn nữa, trong đó có việc phát triển nguồn
nhân lực là nhân tố bên trong quan trọng góp phần quyết định sự phát triển của đất
nước.
Hiện nay lực lượng lao động trong các ngành công nghiệp và dịch vụ của nước
ta đã qua đào tạo là rất ít, và số đã qua đào tạo thì trình độ cũng còn rất hạn chế chưa
đáp ứng được nhu cầu của quá trình công nghiệp hoá. Tỉ lệ lao động qua đào tạo theo
các cấp trình độ: đại học, cao đẳng, trung cấp, công nhân kỹ thuật ở các nước phát
triển trên thế giới là 1/4/10, trong khi tỉ lệ đó ở nước ta là 1/1, 2/2,7. Như vậy có thể
thấylà nước ta số lượng lao động có trình độ trung cấp và trình độ kỹ thuật còn thiếu
rất nhiều đặc biệt là lực lượng công nhân kỹ thuật, do đó cần phải chú trọng hơn vào
công tác đào tạo công nhân kỹ thuật trong các ngành công nghiệp và dịch vụ và tập
trung chủ yếu vào các nghề như là cơ khí, chế tạo và chế biến, công nghệ các ngành
xây dựng và kiến trúc, y tế, tài chính và bưu chính viễn thông
5
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
PHẦN II: Đánh giá thực trạng của đào tạo và phát triển nguồn nhân lực ở
Việt Nam hiện nay.
I. Đánh giá thực trạng nguồn nhân lực.
1) Quy mô nguồn nhân lực.
Cơ cấu nguồn nhân lực theo tuổi
Nước ta là một nước thuộc loại dân số trẻ. Số lao động có độ tuổi từ 15- 44
chiếm gần 80%, lao động ở độ tuổi trên 60 chiếm khoảng trên 3% tổng lao động của
cả nước. Nguồn nhân lực của nước ta rất dồi dào và ngày càng tăng. Tỉ lệ lao động
trong độ tuổi 15-34 và độ tuổi trên 60 có xu hướng giảm. Còn độ tuổi từ 35-59 thì có
xu hướng tăng lên, tuy nhiên sự thay đổi này là không đáng kể. Trong tổng số lao
động của cả nước thì lao động nông thôn chiếm tỉ trọng lớn. Năm 2002 cả nước có
31012699 lao động nông thôn (chiếm 76,17% lao động cả nứơc) năm 2004 thì có
31298750 lao động nông thôn ( chiếm 75,76% lao động cả nước). Số lao động nông
thôn vẫn ngày càng tăng tuy nhiên tỷ trọng trong tổng số lao độngcả nước thì lại có
xu hướng giảm dần.
Khu vực thành thị có số lao động thất nghiệp tương đối cao và có xu hướng
tăng lên năm 2002 là 6,85% và năm 2003 là 7,22%.
Bảng 1: Lực lượng và cơ cấu lao động chia theo nhóm tuổi của cả nước
Các chỉ tiêu Năm 2002 Năm 2003
Tổng số Tỷ lệ Tổng số Tỷ lệ
Chung cả nước 40716856 100 41313288 100
15 – 24 8868700 21,78 8895951 21,53
25 _ 34 11346249 27,87 11164509 27,02
35 _ 44 11216660 27,55 11496511 27,83
45 _ 54 6544274 15,07 7175375 17,37
55 _ 59 1289063 3,11 1411690 3,42
>= 60 1450858 3,60 1168413 2,83
Như vậy ta có thể thấy là nguồn nhân lực của nước ta có nhu cầu đào tạo rất
lớn do số lượng lao động lớn, chủ yếu là lao động nông thôn nên muốn đáp ứng được
6
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
nhu cầu của quá trình chuyển dịch cơ cấu thì lao động cần phải được đào tạo, trang bị
và nâng cao trình độ chuyên môn kỹ thuật
Cơ cấu nguồn nhân lực theo giới tính
Nguồn lao động nước ta nữ chiếm gần 52%, lao động nữ trong và trên độ tuổi
lao động đều nhiều hơn lao động nam, trong đó thì lao động nữ trên độ tuổi lao động
cao hơn rất nhiều so với lao động nam ( gấp 2 lần ).
Theo điều tra lao động việc làm 1/7/2004 tỷ lệ lao động nữ trong độ tuổi lao
động tham gia vào lực lượng lao động xã hội chiếm khoảng 77,4%.
Bảng 2: Cơ cấu lao động theo giới tính của cả nước
Đơn vị: %
Các chỉ tiêu nữ nam
chung 51,4 48,6
trong độ tuổi lao động 50,74 49,26
trên độ tuổi lao động 63,5 36,5
Do đặc điểm về giới tính và chức năng của người phụ nữ nên tỷ lệ nữ tham gia
vào hoạt động kinhtế ít hơn so với nam giới ở cả 2 khu vực thành thị và nông thôn.
Bảng 3: Tỷ lệ người tham gia HĐKT chia theo giới và khu vực
Đơn vị tính: %
Chung Thành thị nông thôn
nam nữ nam nữ nam nữ
từ 15 tuổi trở lên 75,51 67,62 68,9 57,95 77,9 71,3
trong độ tuổi lao động 81,9 77,4 76,07 67,3 84,16 81,3
Khu vực nông thôn tỷ lệ nữ tham gia hoạt động kinh tế cao hơn thành thị
( 81,3% ở nông thôn so với 67,3% ở khu vực thành thị). Điều này cho thấy ở nông
thôn chủ yếu là lao động nông nghiệp nên thu hút nhiều lao động nữ hơn khu vực
thành thị.
7
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Bảng 4: Tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi lao động ở khu vực
thành thị
đơn vị : %
Các chỉ tiêu Năm 2002 Năm 2003
Chung 6,01 5,78
Lao động nữ 6,85 7,22
Lao động nữ chiếm tỷ lệ tương đương với lao động nam trong lực lượng lao
động của cả nước tuy nhiên thì tỉ lệ lao động nữ tham gia vào hoạt động kinh tế lại ít
hơn so với lao động nam ( 77,4% so với 81,9% ) và nhất là ở khu vực thành thị, thì
khoảng cách chênh lệch tỉ lệ này là rất cao ( tỉ lệ nữ tham gia hoạt động kinh tế là
67,3% trong khi tỉ lệ nam là 76,6%). ở khu vực thành thị tỷ lệ lao động nữ thất
nghiệp là cao ,cao hơn so với tỷ lệ thất nghiệp chung và ngày càng có xu hướng tăng
lên ( năm 2002 là 6,85% năm 2003 là 7,22% ) . Như vậy để có thể phát huy hết
nguồn lực để phát triển đất nước thì cần phải có giải pháp để tăng tỷ lệ lao động nữ
tham gia vào hoạt động kinh tế, giảm tỷ lệ thất nghiệp của lao động nữ, để có thể tận
dụng hết nguồn lực bên trong phát triển đất nước.
Theo trình độ học vấn
Trình độ học vấn và dân trí của nước ta là khá cao nhờ phát triển mạnh nề giáo
dục quốc dân và coi giáo dục là quốc sách hàng đầu. Đây là chìa khoá quan trọng để
tiếp thu khoa học kỹ thuật và công nghệ mới cho tăng trưởng và phát triển kinh tế đất
nước. Quy mô giáo dục vẫn không ngừng tăng lên cả về số lượng và chất lượng. Số
lượng trường cấp II và cấp III tăng nhanh theo thời gian, cùng với sự gia tăng của
trường công lập thì số lượng trường ngoài công lập cũng không ngừng tăng lên.
B ng 5: S l ng v lo i hình các tr ng trung h c trong c n c ả ố ượ à ạ ườ ọ ả ướ
Trung học cơ sở Trung học phổ thông
tổng cl n cl tổng cl ncl
2000- 2001 7733 7635 98 1251 905 346
2001- 2002 8092 7997 95 1397 995 402
2002- 2003 8396 8314 82 1532 1090 442
Không chỉ quy mô hệ thống trường học tăng lên mà quy mô học sinh trong các
cấp học cũng không ngừng phát triển, phản ánh nhu cầu học tập ngày càng tăng của
8
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
nhân dân ta. Trong đó thì số học sinh nữ cũng tăng qua các thời kỳ cho thấy sự bình
đẳng giới trong xã hội đã được quan tâm, chú ý nhiều hơn vào việc đào tạo lao động
nữ, nâng cao dân trí cho phụ nữ, và tổng số học sinh tốt nghiệp cũng tăng qua các
năm, làm cho lượng lao động có trình độ học vấn tăng lên.
Bảng 6 : Tổng số học sinh trung học phổ thông trong cả nước
Năm tổng số công lập
ngoài
công
trong tổng số
nữ
mới
tuyển
tốt
nghiệp
2000- 2001 2199814 1444376 755438 1028351 830826 598957
2001- 2002 2328965 1545120 783845 1091430 853998 634628
2002- 2003 2458446 1656942 801504 1164367 942111 686478
Tuy nhiên tỉ lệ tôt nghiệp này là chưa cao chỉ khoảng 28% học sinh tốt nghiệp
ra trường, như vậy có thể thấy là chất lượng giáo dục vẫn chưa cao. do đó tỉ lệ lực
lượng lao động có trình độ học vấn vẫn còn rất hạn chế.
9
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Bảng 7: Lực lượng lao động chia theo trình độ văn hoá phổ thông
Các chỉ tiêu Năm 2002 Năm 2003
tổng cả nước 40716856 41313288
không biết chữ 1523001 1752393
chưa tốt nghiệp cấp 1 6433724 6393460
tốt nghiệp cấp 1 12911678 13017458
tốt nghiệp cấp 2 12400369 12560352
tốt nghiệp cấp 3 7447084 7589625
Trong tổng số lao động của cả nước số lao động biết chữ là khá cao chiếm gần
95% như vậy số lao động không biết chữ chiếm khoảng gần 5% và có xu hướng tăng,
năm 2002 tỉ lệnày là 3,74% đến năm 2003 là 4,24 % và năm 2004 là 5 %, chủ yếu là
tập trung ở các vùng núi, cao nguyên và miền nông thôn. Tỷ lệ tốt nghiệp phổ thông
cơ sở và tốt nghiệp phổ thông trung học có tăng nhưng không đáng kể và tỷ lệ này
vẫn còn thấp so với yêu cầu của xã hội.
Theo trình độ chuyên môn kỹ thuật
Trình độ chuyên môn kỹ thuật là chỉ tiêu thể hiện chất lượng nguồn nhân lực và
tiềm năng to lớn của nguồn nhân lực. Do đó để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
thì phải nâng cao trình độ chuyên môn kỹ thuật cho người lao động. Tính đến nay cả
nước đã có 127 trường cao đẳng, 87 trường đại học, học viện, 147 cơ sở đào tạo sau
đại học, 95 cơ sở đào tạo tiến sĩ. Hệ thống các trường đào tạo của nước ta ngày càng
tăng về số lượng và loại hình, số trường dân lập cũng đang ngày càng tăng, tính đến
năm 2003, ở bậc đào tạo đại học - cao đẳng đã có 27 trường ngoài công lập, chiếm
gần 21,7%. Số trường ngoài công lập ở hệ trung cấp là 30, chiếm trên 11%. trong đào
tạo nghề cho công nhân bên cạnh các trường đào tạo chính quy, cả nước còn có 359
trung tâm đào tạo nghề và 634 cơ sở dạynghề khác, đa số trong đó là các cơ sở ngoài
công lập ( tư nhân hoặc bán công ), mạng lưới trường đại học và dạy nghề phân bố
không đều theo vùng lãnh thổ, các trường đại học và cao đẳng tập trung chủ yếu ở
các thành phố lớn như Hà nội, thành phố hồ chí minh các trường dạy nghề thì chủ
yếu tập trung ở vùng đồng bằng Sông Hồng ( 69 trường ), vùng Đông nam bộ ( 52
trường ), vùng đông bắc ( 37 trường ). Ba vùng này chiếm 70% tổng số trường dạy
nghề trong cả nước. để có thể đảm bảo được chất lượng đào tạo thì đội ngũ giáo viên
cũng đang ngày càng tăng cả về số lượng và chất lượng .năm 2004 số lượng giáo
viên dạy nghề là 7056 người, trung học chuyên nghiệplà 11121 người, trong đó
10
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
ngoài công lập là 1104 người, giáo viên đại học_ cao đẳng là 39985 người, trong đó
ngoài công lập là 5071 người. tỷ lệ giáo viên được đào tạo đạt chuẩn là 71% đối với
dạy nghề, trung học chuyên nghiệp là 86,3%, đại học_ cao đẳng có 45% giáo viên đạt
trình độ thạc sĩ trở lên. Cùng với sự phát triển ngày càng nhanh của hệ thống cơ sở
giáo dục đào tạo thì quy mô tuyển sinh vào các trường đại học ,cao đẳng và các
trường trung học chuyên nghiệp cũng không ngừng tăng lên
Bảng 8 : Số sinh viên tuyển vào các trường theo cấp và loại hình trường
Năm Tổng Chia ra Loại hình
CĐ ĐH CL BC DL
2000-2001 215281 59892 155389 187330 6535 21416
2001-2002 239584 68643 170941 207902 7959 23723
2002-2003 256935 70378 186557 225528 7065 24342
Trong tổng số sinh viên tuyển mới vào các trường đại học và cao đẳngthì chủ
yếu tập trung vào các trường đại học, và trong đó phần lớn là vào các trường công
lập. Quy mô tuyển sinh dạy nghề hiện nay khoảng 364400 học viên, tăng 66,1% so
với thời kỳ 1998- 1999.
Tuy đã có những bước phát triển nhưng chất lượng nguồn lao động cuả nước ta
vẫn thấp so với các nước trên thế giới và trong khu vực, chưa đáp ứng được yêu cầu
của quá trình chuyển dich cơ cấu, phát triển kinh tế.
Trình độ văn hoá và dân trí của nước ta cũng đã tăng qua các thời kỳ, tuy nhiên
chất lượng thì vẫn chưa được tốt, đặc biệt là lao động ở vùng nông thôn và miền núi,
cao nguyên thì tỷ lệ mù chữ là rất cao và tỷ lệ tốt nghiệp các cấp học vẫn còn thấp.
Không chỉ có trình độ học vấn chưa cao mà trình độ chuyên môn kỹ thuật của lực
lượng lao động nước ta cũng vẫn còn rất thấp.
Bảng 9 : Lực lượng lao động chia theo trình độ chuyên môn kỹ thuật
năm 2002 năm 2003
không có chuyên môn kỹ thuật 33090589 32575528
có trình độ từ sơ cấp, học nghề trở lên 7564874 8625038
11
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
từ công nhân kỹ thuật có bằng trở lên 4800517 4887362
Tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo, không có chuyên môn kỹ thuật trong tổng lực
lượng lao động là rất cao, chiếm gần 80% .Trong đó thì tỷ lệ qua đào tạo nghề là rất
thấp chiếm trên 10% tổng lực lượng lao động, các công nhân kỹ thuật được đào tạo
thì chủ yếu là qua hình thức đào tạo nghề ngắn hạn, không chính quy. Năm 2004 chỉ
có khoảng 17,3% là đào tạo dài hạn chính quy. Do không được đào tạo một cách
chính quy nên khả năng làm việc phát triển nghề của họ không cao. Một vấn đề cần
được quan tâm nữa hiện nay là cơ cấu đào tạo, tỷ lệ lao động qua đào tạo theo các
cấp trình độ ở việt nam năm 2002 là 1/1/3,65, năm 2004 là 1/1,2/2,7, trong khi các
nước phát triển trên thế giới là 1/4/10. Như vậy có thể thấy là cơ cấu đào tạo của
nước ta đang có sự mất cân đối lớn và lại có xu hướng ngày càng bất hợp lý hơn, gây
ra tình trạng thừa thầy thiếu thợ làm hạn chế rất lớn việc sử dụng nguồn nhân lực làm
lãng phí nguồn nhân lực của đất nước, không đáp ứng được yêu cầu của quá trình
chuyển dịch cơ cấu.
Tỷ lệ lao động qua đào tạo thấp mà lượng lao động đã qua đào tạo thì chất
lượng cũng không được cao. thể hiện ở năng suất lao động thấp và tỷ lệ thất nghiệp
vẫn còn cao. Năng suất lao động chung của cả nước năm 2002 là 7,974 triệu
VNĐ/LĐ, năm 2003 tăng lên là 8,212 triệu VNĐ/LĐ, như vậy năng suất lao động
của cả nước có xu hướng tăng lên, nhưng tỷ lệ tăng là không đáng kể, và mức năng
suất lao động này là còn rất thấp so với các nước tiên tiến trong khu vực và trên thế
giới. tỷ lệ lao động thất nghiệp của nước ta là khá cao, trong đó thì những lao động đã
qua đào tạo bị thất nghiệp cũng còn khá lớn, ngoài ra thì với các lao động đang làm
việc trong các doanh nghiệp thì tỷ lệ đào tạo lại công nhân kỹ thuật, trung học chuyên
nghiệp, và cao đẳng là khá cao, chiếm hơn 20% tổng số lao động được chọn. qua đó
ta có thể thấy là chất lượng của nguồn nhân lực nước ta là rất thấp, tuy những năm
gần đây thì đã có những sự thay đổi tiến bộ nhưng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu
của xã hội, của quá trình chuyển dich cơ cấu kinh tế. do đó để có thể thúc đẩy quá
trình phát triển kinh tế thì cần phải chú trọng hơn nữa đến công tác giáo dục, đào tạo
nâng cao trình độ văn hoá và trình độ chuyên môn kỹ thuật cho lực lượng lao động-
nguồn lực bên trong của đấy nước.
2) Những kết quả đã đạt được và những mặt còn hạn chế của đào tạo
nguồn nhân lực.
Ttrong những năm qua thì công tác giáo dục đào tạo của nước ta đã đạt được
những kết quả nhất định.
12
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Tỷ lệ dân số biết chữ nước ta có xu hướng tăng và chiếm tỷ trọng cao. Đến
năm 2000 toàn quốc đạt tiêu chuẩn quốc gia về xoá mù chữ và phổ cấp giáo dục tiểu
học, bắt đầu chuyển sang thời kỳ mới thực hiện mục tiêu phổ cập giáo dục phổ thông
cơ sở.
Nước ta đã có một hệ thống các trường dạy học có quy mô lớn và ngày càng
được mở rộng hơn, có nhiều tiềm năng để phát triển đào tạo một cách đa dạng và
phong phú, đội ngũ giáo viên giảng dạy cũng liên tục tăng cả về số lượng và chất
lượng, các lĩnh vực và loại hình đào tạo ngày càng được mở rộng và đa dạng hơn đáp
ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu đào tạo của nhân dân. Công tác giáo dục giáo dục đào
tạo vùng sâu vùng xa, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số đã được quan tâm nhiều
hơn, tỷ lệ người mù chữ đã giảm và số lượng người dân tộc thiểu số được cử đi học
ngày càng nhiều, các cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật phục vụ cho việc giảng
dạy cũng được trang bị nhiều hơn. Đặc biệt là ở các vùng sâu, vùng xa, miền núi và
cao nguyên đã được cải thiện đáng kể giảm bớt tình trạng khó khăn do thiếu thốn
trang thiết bị trong công tác giảng dạy.
Phương pháp giáo dục đào tạo cũng đã được đổi mới cho phù hợp với tình hình
phát triển của xã hội và sự phát triển không ngừng của khoa học kỹ thuật. Một số
trường và cơ sở đào tạo đã có phương pháp đào tạo và trang thiết bị hiện đại có thể
sánh ngang với các nước tiên tiến trong khu vực.
Hiện nay đào tạo nghề đã gắn liền với giải quyết việc làm và yêu cầu của thị
trường lao động, nhằm giảm bớt tỷ lệ thất nghiệp và tình trạng thiếu lao động trong
một số lĩnh vực, ngành nghề mới đáp ứng được nhu cầu của xã hội
Tuy đã đạt được những thành tựu nhất định nhưng công tác giáo dục đào tạo
nước ta còn nhiều mặt hạn chế cần được khắc phục để nâng cao trình độ của người
lao động. Chất lượng giáo dục phổ thông chưa được cao. Học sinh bị hạn chế về tính
linh hoạt, độc lập và sáng tạo trong tư duy kỹ năng thực hành, khả năng vận dụng
kiến thức vào các tình huống thực tiễn.
Chất lượng đào tạo chuyên môn kỹ thuật chưa cao, chất lượng còn đại trà,
phương pháp giáo dục đào tạo còn lạc hậu và chậm đổi mới trong đào tạo các ngành
mũi nhọn và các lĩnh vực công nghệ mới ở các bậc đại học và sau đại học còn thấp
hơn nhiều so với các nước trong khu vực cả về nội dung lẫn phương pháp đào tạo.
làm cho các ngành kỹ thuật, công nghệthiếu nhân lực trình độ cao. Hiện nay cơ cấu
đào tạo nghề còn bất hợp lý với 85% là đào tạo ngắn hạn, và 15% là đào tạo chính
quy dài hạn. các cơ sở đào tạo nghề phân bố không đều tập trung nhiều ở các vùng
13
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
đồng bằng và các thành phố lớn, làm cho chất lượng của lực lượng lao động chưa
cao và có sự chênh lệch giữa các vùng và khu vực.
Ở tất cả các cấp học và bậc học phương pháp giảng dạy còn nặng về lý thuyết,
nhẹ về thực hành chưa phát huy được tinh thần sáng tạo và tư duy của học viên. cơ sở
vật chất và các trang thiết bị phục vụ cho đào tạo chuyên môn kỹ thuật, dạy nghề còn
nhiều bất cập, vừa thiếu về số lượng vừa lạc hậu về chất lượng( số trang thiết bị phục
vụ tốt cho công tác dạy nghề chỉ đạt 20%.) đặc biệt là trang thiết bị đào tạo nghề
trong các ngành cơ khí, hoá chất, luyện kim, sửa chữa thiết bị chính xác in ấn
Đội ngũ giáo viên giảng dạy còn thiếu nhiều về số lượng ( đội ngũ giáo viên
đạihọc-cao đẳng và dạy nghề chỉ gần bằng 50% so với chuẩn quy định ) và trình độ
chuyên môn nghiệp vụ thì còn thấp so với yêu cầu đổi mới giáo dục, đa số còn lúng
túng trong đổi mới phương pháp giảng dạy, đặc biệt nhiều giáo viên còn có biểu hiện
về sự tha hoá đạo đức, phẩm chất, thiếu tinh thần trách nhiệm và chưa tâm huyết với
nghề.
Hiện nay tỉ lệ lao động qua đào tạo theo các cấp trình độ ở nước ta là 1/1,2/2,7,
cơ cấu đào tạo này còn nhiều bất cập đã gây nên tình trạng “ thừa thầy thiếu thợ “
đang ngày một gia tăng, gây nhiều khó khăn cho sự phát triển kinh tế.
Nhìn chung lực lượng lao động nước ta đã qua đào tạo và chất lượng lao động
là rất thấp, khả năng thực hành và tác phong công nghiệp cũng như khả năng tiếp cận
công nghệ kỹ thuật tiên tiến còn rất thấp. do đó để có đổi mới nền kinh tế thì cần
phải nhanh chóng đổi mới công tác giáo dục đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn
nhân lực.
3) Nguyên nhân của thực trạng trên.
Công tác đào tạo của nước ta còn nhiều bất cập như vậy là do rất nhiều các
nguyên nhân trong dó có các nguyên nhân chủ yếu sau:
Trong giáo dục phổ thông thì việc học đối phó là rất phổ biến. Học sinh ít được
thực hành , chưa có thói quen tự học một cách nghiêm túc có hiệu quả.
Đối với công tác giáo dục đại học thì hệ thống các trường đại học, cao đẳng của
nước ta vẫn chưa được thống nhất các loại hình : dân lập, công lập, tư thục gây khó
khăn rất nhiều trong việc ban hành các chính sách và công tác quản lý.
Mạng lưới các trường dạy học, dạynghề phân bố không đều theo vùng lãnh thổ
tập trung nhiều ở vùng đồng bằng và các thành phố lớn gây khó khăn trong việc đào
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét