giáo dục mầm non trên địa bàn Quận Hai Bà Trng
3.2.5. Tổng kết kinh nghiệm tiên tiến về xã hội hóa giáo dục mầm
non và có phơng thức nhân điển hình
85
3.3. Kiểm chứng sự nhận thức tính cấp thiết và khả thi của
các biện pháp nêu ra.
Kết luận và khuyến nghị 89
Danh mục và tài liệu tham khảo
Phần Mở đầu
1. Lý do chọn đề tài
Trong những năm qua, quan điểm Phát triển giáo dục là quốc sách
hàng đầu, cha đợc nhận thức đầy đủ trong xã hội, cha thực sự chi phối sự chỉ
đạo tổ chức thực tiễn của nhiều cán bộ quản lý và cấp quản lý, kể cả đầu t
cho giáo dục và tạo cơ chế cho tổ chức và hoạt động giáo dục. Trong quản lý
về giáo dục cha tạo ra đợc sự phối hợp đồng bộ giữa các ngành, các cấp, các
lực lợng xã hội để phát triển sự nghiệp giáo dục.
Nhiệm vụ đặt ra cho công tác quản lý, cách làm, cách thực hiện chủ tr-
ơng đờng lối của Đảng bằng con đờng giác ngộ, huy động và tổ chức sự tham
gia của mọi ngời dân, mọi lực lợng xã hội; tạo ra sự phối hợp liên ngành một
cách có kế hoạch dới sự chỉ đạo và quản lý thống nhất của Nhà nớc làm cho
sự nghiệp giáo dục và đào tạo thực sự là của dân, do dân và vì dân.
Trong xu thế hội nhập và mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế đặt ra nhiều
yêu cầu mới đối với giáo dục. Giáo dục đang đứng trớc những thời cơ phát
triển cực kỳ thuận lợi, nhng cũng đang đối mặt với nhiều thách thức to lớn.
Báo cáo Chính trị của Ban chấp hành Trung ơng Đảng Cộng sản Việt
Nam tại Đại hội lần thứ VIII đã khẳng định: Các vấn đề chính sách xã hội
5
đều giải quyết theo tinh thần xã hội hoá. Nhà nớc giữ vai trò nòng cốt, đồng
thời động viên mỗi ngời dân, các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội, các cá
nhân và tổ chức nớc ngoài cùng tham gia giải quyết những vấn đề xã hội.
Mục đích cuối cùng của quá trình xã hội hoá sự nghiệp giáo dục là nâng cao
thêm mức hởng thụ về giáo dục của nhân dân, nâng cao chất lợng cuộc sống
tinh thần và vật chất của từng ngời dân.
Trẻ em hôm nay sẽ là chủ nhân đất nớc ngày mai, vì thế cần phải bắt
đầu từ việc chăm sóc, giáo dục trẻ em tuổi mầm non và trách nhiệm này
không chỉ thuộc về các nhà mầm non, mà còn là trách nhiệm của toàn xã hội.
Luật giáo dục sửa đổi năm 2005 đã khẳng định rõ ở điều 12 về Xã hội
hóa sự nghiệp giáo dục .
Theo tinh thần của Luật giáo dục, công tác quản lý chỉ đạo, phát triển
giáo dục mầm non cần phải gắn với công tác vận động xã hội mới đem lại
hiệu quả cao. Phát triển giáo dục luôn đi liền với xã hội hoá giáo dục. Đối với
giáo dục mầm non, xã hội hoá để phát triển luôn là quy luật tồn tại và phát
triển.
Trong giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc, xã hội hoá
giáo dục mầm non là một trong những nhân tố hàng đầu để thực hiện phát
triển giáo dục mầm non có chất lợng, phục vụ cho mục tiêu hình thành nhân
cách trẻ em, tạo điều kiện thực hiện phổ cập giáo dục ở các bậc học khác.
Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX và Văn kiện Đại hội
lần thứ X của Đảng đã chỉ rõ : Chăm lo phát triển mầm non, thực hiện
Chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa. Xã hội hóa sự nghiệp giáo dục mầm
non là một quy luật và khâu then chốt để thực hiện chuẩn hóa, hiện đại
hóa, thực hiện chủ trơng của Đảng và Nhà nớc ta đến năm 2020 là: Xây
dựng hoàn chỉnh và phát triển bậc học mầm non cho hầu hết trẻ em trong độ
tuổi. Phổ biến kiến thức nuôi dạy trẻ cho các gia đình.
6
Song hiện nay, xã hội hoá giáo dục mầm non trên thực tế cha phát huy
đợc thế mạnh của nó, bởi vì trong xã hội còn tồn tại nhiều nhận thức cha thật
tinh tế, toàn diện. Có quan điểm cho rằng xã hội hoá giáo dục mầm non chỉ
đơn thuần là sự đa dạng hoá các hình thức tham gia của nhân dân và xã hội
mà ít chú trọng tới nâng mức hởng thụ từ giáo dục của ngời dân. Vì vậy, có
nơi công tác xã hội hoá giáo dục mầm non chỉ đơn thuần về mặt huy động tài
chính, huy động cơ sở vật chất, Nhà nớc khoán cho dân, ít quan tâm đến sức
dân. Trái lại có nơi lại thụ động trông chờ vào sự bao cấp chủ yếu của Nhà n-
ớc.
Tình hình này cũng có ở Hà Nội. Vấn đề đặt ra là phải lámau sắc hơn
về lý luận và thực tiễn ở từng địa bàn dân c để tăng cờng công tác xã hội hoá
giáo dục mầm non.
Từ những lý do trên, tôi chọn đề tài nghiên cứu Biện pháp thực hiện
xã hội hoá giáo dục đối với ngành học mầm non trên địa bàn Quận Hai
Bà Trng (Hà Nội) đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục .
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và phân tích thực trạng giáo dục mầm
non Quận Hai Bà Trng, đề tài đề xuất các giải pháp xã hội hoá để phát triển
giáo dục mầm non quận Hai Bà Trng đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục.
3. Khách thể và đối tợng nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu : Giáo dục mầm non ở địa bàn Quận,
Đối t ợng nghiên cứu: Xã hội hoá giáo dục mầm non ở địa bàn Quận
Hai Bà Trng.
7
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
1. Làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận cơ bản về giáo dục, giáo dục
mầm non, quản lý giáo dục, quản lý giáo dục mầm non, xã hội hóa giáo dục,
xã hội hóa sự nghiệp giáo dục mầm non.
2. Chỉ ra thực trạng xã hội hóa sự nghiệp giáo dục mầm non và các
biện pháp thực hiện xã hội hóa sự nghiệp giáo dục mầm non ở Hai Bà Trng
Hà Nội.
3. Đề xuất các biện pháp tăng cờng thực hiện xã hội hóa sự nghiệp
giáo dục mầm non trên địa bàn Hai Bà Trng Hà Nội trong thời kỳ đổi mới
hiện nay.
5. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài này nghiên cứu đề xuất các giải pháp cơ bản về xã hội hoá giáo
dục mầm non nhằm phục vụ các cấp quản lý: Phòng giáo dục và các nhà tr-
ờng mầm non tháo gỡ khó khăn tạo cơ hội cho giáo dục mầm non phát triển
vững chắc.
6. Phơng pháp nghiên cứu
6.1. Phơng pháp nghiên cứu lý luận.
6.2. Phơng pháp nghiên cứu thực tiễn:
- Phơng pháp khảo sát qua trng cầu ý kiến
- Phơng pháp toạ đàm, phỏng vấn sâu,
- Phơng pháp tổng kết kinh nghiệm giáo dục thực tiễn.
7. Cấu trúc luận văn
Luận văn có dung lợng 95 trang bao gồm Phần mở đầu (Đề cập một số
vấn đề chung của đề tài) và phần kết quả nghiên cứu.
Phần kết quả nghiên cứu đợc bố trí thành ba chơng:
- Chơng 1. Trình bày "Cở sở lý luận của vấn đề nghiên cứu".
- Chơng 2. Phân tích "Thực trạng xã hội hoá giáo dục mầm non ở địa
bàn quận Hai Bà Trng Hà Nội".
8
- Chơng 3. Đề xuất "Các biện pháp thực hiện xã hội hoá giáo dục mầm
non ở địa bàn quận Hai Bà Trng - Hà Nội đáp ứng yêu cầu Đổi mới giáo
dục".
Chơng I
Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu
1.1. Sơ lợc về vấn đề nghiên cứu
9
Nghiên cứu về xã hội hoá công tác giáo dục mầm non đã đợc sự quan
tâm ở nớc ta trên cả hai phơng diện lý luận và thực tiễn.
Năm 1998, trong khuôn khổ của Đề án xã hội hóa giáo dục và đào
tạo, Vụ Giáo dục mầm non - Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đánh giá những
thành tựu và hạn chế, thiếu sót của hơn mời năm qua và xác định mục tiêu,
nhiệm vụ xã hội hóa đối với giáo dục mầm non.
Đứng trớc những yêu cầu và thách thức của việc thực hiện chiến lợc
phát triển giáo dục mầm non, nhằm phát triển giáo dục mầm non theo tinh
thần Nghị quyết Trung ơng 2 (Khóa VIII) và Nghị quyết Đại hội Đảng toàn
quốc lần thứ IX. Ngày 25/6/2002 Thủ tớng Chính phủ đã tổ chức Hội nghị
bàn về công tác giáo dục mầm non. Hội nghị đã đề ra những giải pháp cơ
bản, trong đó nhấn mạnh: Tiếp tục đẩy mạnh biện pháp xã hội hóa giáo dục
mầm non, đa dạng hóa các loại hình giáo dục mầm non.
Quán triệt chủ trơng của Đảng và Nhà nớc về xã hội hoá giáo dục trên
bình diện chung, ngành giáo dục mầm non đã có những văn bản chỉ thị nêu
rõ tầm quan trọng của hoạt động này trong công tác chung của ngành.
Đáng chú ý là các Văn bản 05/2003/TTLT của Bộ Giáo dục và Đào
tạo, Bộ Nội vụ, Bộ Tài chính ban hành ngày 24/2/2003, nêu lên trách nhiệm
chung của xã hội đối với sự nghiệp giáo dục mầm non từ cấp cơ sở (Phờng,
xã) đến Trung ơng.
Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp với tổ chức UNESCO đã tổ chức
nghiên cứu Dự án phát triển trẻ thơ dựa vào cộng đồng cho trẻ em nghèo
vùng nông thôn. Dự án này, đã thu đợc nhiều kết quả và đợc Hội nghị Tổng
kết tại Hà Nội ngày 7/4/2006 đánh giá có ý nghĩa về khoa học và giá trị thực
tiễn.
Một số công trình khoa học nh công trình luận án tiến sĩ của Dơng
Thanh Huyền Xã hội hoá giáo dục ngành giáo dục mầm non trên địa bàn Hà
10
Nội, công trình luận văn thạc sĩ của Nguyễn Văn Kiên đề cập Xã hội hoá
giáo dục ngành học mầm non vùng nông thôn.
Các công trình khác của Hồ Nguyệt ánh, Nguyễn Thanh Tâm, Trần
Thị Bích Liễu, Nguyễn Thị Hoài An (dới dạng các luận văn thạc sỹ) tuy
không trực diện bàn vào vấn đề xã hội hoá giáo dục mầm non nhng trong các
biện pháp đề cập vấn đề nâng cao chất lợng giáo dục mầm non đều coi Xã
hội hoá giáo dụcnh một phơng thức chủ đạo để ngành học vợt qua các khó
khăn khi nguồn lực tài chính còn hạn chế.
Công trình của Hồ Nguyệt ánh (1999) đề cập vấn đề Nâng cao chất
lợng, bồi dỡng cán bộ quản lý giáo dục mầm non đã nêu phải huy động các
lực lợng xã hội tham gia vào hoạt động này.
Công trình của Trần Thị Bích Liễu đề cập vấn đề Lập kế hoạch của
hiệu trởng các trờng mầm non năm 1999 đã nêu ngời hiệu trởng phải chú ý
đa xã hội hỗ trợ cho quá trình đào tạo giáo dục mầm non vào khâu kế hoạch.
Công trình của Nguyễn Thị Hoài An đề cập vấn đề Xây dựng trờng
mầm non t thục ở Hà Nội đã nhấn mạnh đến tiềm năng xã hội to lớn cho
mục tiêu này.
Công trình của Nguyễn Thị Thanh Tâm Những biện pháp nâng cao
chất lợng đội ngũ quản lý ngành học mầm non tỉnh Nghệ An cũng nêu đặc
thù xã hội hoá giáo dục vào hoạt động bồi dỡng cán bộ quản lý nhìn từ đặc
thù một tỉnh miền trung.
Các công trình đã nêu cung cấp nhiều kiến giải cho hoạt động này,
song hiện nay vẫn cần các kiến giải đặt trong bối cảnh của tinh thần Luật
giáo dục ban hành năm 2005.
1.2. Các khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1. Giáo dục
11
Có hai cách tiếp Phạm trù giáo dục thờng đợc tiếp cận theo hai phơng
diện:
Thứ nhất: Tiếp cận theo quá trình giáo dục- theo tiếp cận này thì Giáo
dục là quá trình đào tạo con ngời một cách có mục đích nhằm chuẩn bị cho
con ngời tham gia đời sống xã hội, tham gia lao động sản xuất, nó đợc thực
hiện bằng cách tổ chức tuyển chọn và lĩnh hội các kinh nghiệm lịch sử xã hội
của loài ngời.
Giáo dục là hoạt động nhằm tác động một cách có hệ thống đến sự
phát triển tinh thần, thể chất của một đối tợng nào đó, làm cho đối tợng ấy
dần dần có đợc những phẩm chất và năng lực nh yêu cầu đã đặt ra. Giáo dục
nảy sinh cùng phát triển xã hội loài ngời, trở thành một chức năng sinh hoạt
không thể thiếu đợc và không bao giờ mất đi ở mọi giai đoạn phát triển của
xã hội.
Giáo dục là một bộ phận của đời sống xã hội, hoạt động giáo dục luôn
luôn phát triển trong mối tơng tác biện chứng, qua lại với các lĩnh vực khác
của đời sống xã hội, nh quá trình kinh tế, văn hoá, xã hội tuy nhiên xã hội
muốn duy trì và phát triển đợc nhất thiết phải thực hiện chức năng giáo dục.
Giáo dục luôn luôn đợc coi là chức năng quan trọng bậc nhất, mang
tính tất yếu, đợc thực hiện thông qua các dạng hoạt động thực tiễn ở mức độ,
phạm vi khác nhau, ở môi trờng khác nhau: Nhà trờng, gia đình và xã hội.
Trong điều kiện giáo dục đợc xã hội hoá cao độ nh hiện nay thì các tổ chức
văn hoá, khoa học kỹ thuật cũng có thể tham gia gián tiếp hoặc trực tiếp
vào các hoạt động của giáo dục.
Nhờ thực hiện tốt chức năng giáo dục, xã hội tái sản xuất ra những
nhân cách, đáp ứng những nhu cầu phát triển của các thế hệ kế tiếp nhau.
Giáo dục sáng tạo nên các giá trị mới qua việc hình thành Nhân cách - Sức
lao động, tạo nên động lực phát triển và tiến bộ không ngừng của xã hội.
Các thế hệ nối tiếp nhau trong đời sống xã hội đều tiếp thu, kế thừa và phát
12
triển sáng tạo các thành tựu văn hóa, khoa học, kỹ thuật mà xã hội đã chọn
lọc, tích luỹ trong suốt tiến trình lịch sử của mỗi dân tộc, mỗi quốc gia và
nhân loại nói chung.
Thứ hai: Tiếp cận về mặt hệ thống giáo dục quốc dân - Theo cách tiếp
cận này thì Giáo dục là hệ thống các thể chế, các biện pháp tổ chức đào tạo
và giáo dục của một nớc. (Từ điển Bách khoa Việt Nam, tập 2 trang 120 -
Nhà Xuất bản Từ điển Bách khoa, Hà Nội 2002)
Trong xu thế phát triển của nó, giáo dục luôn luôn có xu thế "mở"
không chỉ trong phạm vi quốc gia, dân tộc mà cả ở bình diện quốc tế. Giáo
dục không đơn thuần là sự phản ảnh các lực lợng kinh tế và xã hội đang hoạt
động trong một xã hội. Nó còn là phơng tiện quan trọng để đào tạo nên các
lực lợng kinh tế, xã hội và văn hoá, khoa học, kỹ thuật, quyết định chiều h-
ớng phát triển của các lực lợng này. Đến lợt mình, động lực của chúng lại tác
động ngợc trở lại đối với giáo dục.
Với ý nghĩa trên, giáo dục đợc xem nh một hiện tợng xã hội đặc biệt vì
giáo dục tác động mạnh mẽ đến các hiện tợng xã hội khác và quyết định sự
tồn tại và chiều hớng phát triển của xã hội. Nếu không có giáo dục thì không
có sự truyền lại các kinh nghiệm xã hội, không tạo ra các tiền đề tạo đà cho
xã hội phát triển.
Vậy, giáo dục là một hiện tợng xã hội đặc biệt, là hoạt động đặc trng
của xã hội để hoàn thành những mẫu ngời của từng giai đoạn lịch sử nhất
định. Giáo dục vừa có vai trò động lực thúc đẩy sự phát triển và tiến bộ xã
hội vừa chịu sự quy định của trình độ phát triển chung của nền kinh tế- xã hội
trong từng giai đoạn lịch sử nhất định.
Nhấn mạnh vai trò to lớn của giáo dục trong phát triển kinh tế xã hội;
Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Đảng Cộng sản Việt
Nam đã khẳng định "Giáo dục là quốc sách hàng đầu" và "Đầu t cho giáo
dục là đầu t cho phát triển". Ông Ph. Mayer - Tổng giám đốc UNESCO còn
13
nhấn mạnh: Trong thế kỷ 21, nớc nào đầu t vào giáo dục thì nớc đó có khả
năng cạnh tranh mạnh nhất. Tuy nhiên thành công của giáo dục còn phụ
thuộc rất nhiều vào các yếu tố khác. Một trong những yếu tố quan trọng
nhất là quản lý giáo dục, đặc biệt đối với nớc ta trong thời kỳ công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nớc.
1.2.2. Giáo dục mầm non
a) Khái niệm giáo dục mầm non
Giáo dục mầm non đã đợc nghiên cứu một cách có hệ thống ở nớc ta
trong suốt tiến trình phát triển nền giáo dục cách mạng. Theo cách tiếp cận
nội dung thì giáo dục mầm non là một phân hệ của Hệ thống Giáo dục và
Đào tạo Giáo dục mầm non thực hiện việc nuôi dỡng chăm sóc giáo dục từ 3
tháng tuổi đến 6 tuổi.
Mục tiêu của giáo dục mầm non là giúp trẻ em phát triển về thể chất,
tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách,
chuẩn bị cho trẻ vào học lớp một.
(Luật Giáo dục năm 2005, Điều 21- 22)
Theo cách tiếp cận hệ thống thì Giáo dục mầm non có vị trí là phân hệ
đầu tiên trong Hệ thống giáo dục quốc dân. Phân hệ này có nhiệm vụ thực
hiện sự hài hoà giữa chăm sóc và giáo dục phù hợp với sự phát triển tâm sinh
lý của trẻ mầm non từ 3 tháng đến sáu tuổi.
Sự chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ chuyên môn của giáo dục mầm non đợc
thực hiện từ Bộ Giáo dục và Đào tạo xuống các Sở giáo dục và Đào tạo ở các
tỉnh, tới cơ quan giáo dục cấp quận (huyện), phờng (xã) và cuối cùng đợc
thực hiện ở cơ sở: trẻ em trong độ tuổi ở các nhà trẻ, trờng mầm non, trờng,
lớp mẫu giáo cũng nh một bộ phận trẻ em cha đợc đến trờng lớp nhng trực
tiếp hoặc gián tiếp đợc hởng các chơng trình phổ biến kiến thức đến các gia
đình.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét