người tiêu dùng sức lao động. Trong quá trình sử dụng sức lao động khi có
các điều kiện về tư liệu sản xuất, đối tượng lao động, môi trường tự nhiên,
kinh tế, xã hội, pháp lý sức lao động mới biến thành hoạt động lao động. Do
đó, hoạt động lao động là quá trình sử dụng sức lao động xảy ra trong quá
trình lao động. Sự bù đắp các hao phí về sức cơ bắp, sức thần kinh thông qua
việc tiêu dùng tư liệu sinh hoạt vật chất, tinh thần và học tập.
b. Nguồn nhân lực: là tiềm năng về lao động trong một thời kỳ xác định
của một quốc gia, cũng có thể được xác định trên một địa phương, một ngành
hay một vùng (Bộ Lao động - Thương binh và xã hội: Thuật ngữ lao động -
Thương binh và xã hội. NXB Lao động - xã hội, Hà Nội, 1999, tr13). Theo
đó, nguồn nhân lực được xác định bằng số lượng và chất lượng của bộ phận
dân số có thể tham gia vào hoạt động kinh tế xã hội.
Tiềm năng lao động của con người bao hàm cả thể lực, trí lực và tâm
lực (như đạo đức, lối sống, nhân cách và truyền thống lịch sử văn hoá dân
tộc).
Số lượng, chất lượng của bộ phận dân số có thể tham gia vào hoạt động
kinh tế xã hội chính là số lượng, chất lượng của bộ phận dân số trong độ tuổi
đang có việc làm, chưa có việc làm nhưng có khả năng làm việc. Độ tuổi
được theo Luật tính từ 15 tuổi đến 60 tuổi (cho nam giới) và 15-55 tuổi (cho
nữ giới). Về chất lượng nguồn nhân lực được thể hiện bằng các chỉ tiêu về
tình trạng phát triển thể lực; trình độ học vấn, kiến thức, tay nghề, tác phong
nghề nghiệp; cơ cấu tuổi tác, giới tính, thiên hướng, tình trạng phân bổ theo
lãnh thổ và khu vực hoạt động là thành thị, hay nông thôn.
Có ý kiến đề nghị về mặt số lượng nên tính cả những người trên độ tuổi
lao động đang tham gia hoạt động kinh tế. Theo Tổng cục Thống kê nguồn
lao động gồm những người trong độ tuổi có khả năng lao động và cả những
người ngoài độ tuổi đang làm việc trong nền kinh tế quốc dân (số ngoài độ
tuổi được quy đổi để tính toán cân đối nguồn lao động xã hội). Theo Công
5
ước 138 của ILO thì số ngoài độ tuổi chỉ nên tính những người trên độ tuổi
lao động.
Vậy, nguồn lao động và nguồn nhân lực có ý nghĩa tương đồng.
Theo Bộ Lao động Thương binh và xã hội khái niệm lực lượng lao
động là bộ phận hoạt động của nguồn lao động. Nguồn lao động rộng hơn lực
lượng lao động. Nó không chỉ bao gồm lực lượng lao động; mà còn bao gồm
cả bộ phận dân số từ đủ 15 tuổi trở lên có khả năng lao động, nhưng chưa
tham gia hoạt động kinh tế (đang đi học; nội trợ gia đình; không có nhu cầu
làm việc, nghỉ hưu nhưng vẫn có khả năng lao động v.v )
Sơ đồ 1: Mối quan hệ giữa quy mô dân số từ đủ 15 tuổi trở lên với lực
lượng lao động và nguồn lao động ở Việt Nam
6
Dân số từ đủ 15 tuổi trở lên
Có khả năng lao động Không có khả năng lao động
Đang
làm việc
trong các
ngành
kinh tế
quốc dân
Thất
nghiệp
Đi
học
Nội trợ
cho gia
đình
mình
Không
có nhu
cầu làm
việc
Tình
trạng
khác
Lực lượng lao động
Nguồn nhân lực được phân chia thành: Nguồn nhân lực sẵn có; nguồn
nhân lực tham gia vào hoạt động kinh tế; nguồn nhân lực dự trữ.
Quan hệ giữa 3 khái niệm này mô hình hoá trong sơ đồ 2
Sơ đồ 2: Quan hệ giữa các bộ phận trong nguồn nhân lực.
c. Đặc trưng cơ bản của nguồn nhân lực
Có thể quy tụ vào 3 đặc trưng cơ bản sau:
- Đặc trưng về mặt sinh học và xã hội con người. Con người sống trong
môi trường tự nhiên và xã hội, nên các yếu tố tự nhiên và xã hội gắn bó khăng
khít, hoà quyện vào nhau. Hoạt động của con người chủ yếu là hoạt động sản
xuất, hoạt động cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội và thông qua những hoạt động
7
Đang
làm
nghĩa
vụ
quân
sự
Nguồn nhân lực sẵn có
trong dân cư
Nguồn nhân lực
dự trữ
Nguồn nhân lực tham gia
trong hoạt động kinh tế
Đi
học
Nội
trợ
Chưa
có
nhu
cầu
làm
việc
Lao động
đang làm
việc trong
các ngành
kinh tế
quốc dân
Lực lượng
lao động
đang thất
nghiệp
Nguồn lao động (Nguồn nhân lực)
đó, con người cải tạo chính bản thân mình, làm cho con người ngày càng trở
nên hoàn thiện hơn. Lao động, do đó, đã sáng tạo ra con người.
- Đặc trưng về số lượng: về mặt số lượng, quy mô nguồn nhân lực phụ
thuộc vào phạm vi lãnh thổ tính toán, các quy định pháp luật về giới hạn tuổi
tác và cơ cấu dân số theo độ tuổi và giới tính v.v Theo quy định ở Việt Nam
nguồn nhân lực được tính với những người có độ tuổi từ 16 ÷ 60 (đối với nam
giới), 15 ÷ 55 (đối với nữ giới) (Nếu những quy định này thay đổi sẽ ảnh
hưởng tới quy mô nguồn nhân lực). Sự gia tăng tổng dân số là cơ sở hình
thành và gia tăng nguồn nhân lực. Nhưng nhịp độ tăng giảm dân số phải sau
15 năm mới tác động đến nhịp tăng, giảm nguồn nhân lực.
- Đặc trưng về chất lượng: Chất lượng nguồn nhân lực là tổng thể
những nét đặc trưng phản ánh bản chất, tính đặc thù liên quan trực tiếp đến
hoạt động sản xuất và phát triển con người. Những nét đặc trưng đó bao gồm:
những nét đặc trưng về trạng thái thể lực, trí lực, năng lực, phong cách đạo
đức, lối sống và tinh thần của nguồn nhân lực, thí dụ trạng thái sức khoẻ, trình
độ học vấn, trình độ chuyên môn kỹ thuật, cơ cấu nghề nghiệp, thành phần xã
hội cũng như các lĩnh vực bảo đảm dinh dưỡng, chăm sóc sức khoẻ, giáo dục,
đào tạo, lao động việc làm, trả công cũng như nhiều mối quan hệ xã hội khác.
Chất lượng là một đặc trưng quan trọng của nguồn nhân lực, cần vượt
trước trình độ phát triển của cơ sở vật chất - kỹ thuật để sáng tạo, cũng như,
sẵn sàng đón nhận những tiến bộ kỹ thuật - công nghệ mới.
1.1.2. Phát triển nguồn nhân lực
a) Bản chất của phát triển nguồn nhân lực
Có thể tìm hiểu vấn đề phát triển nguồn nhân lực theo các cách tiếp cận
khác nhau:
- Tiếp cận theo hướng tìm hiểu nội dung thì phát triển nguồn nhân lực
là quá trình gia tăng về số lượng; nâng cao về chất lượng của nguồn nhân lực
bao gồm ba nội dung cơ bản: phát triển quy mô và cơ cấu dân số thích hợp;
8
đào tạo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp
hoá, hiện đại hoá; giải quyết việc làm, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn nhân
lực.
- Phát triển nguồn nhân lực đòi hỏi mỗi một thành viên của nguồn nhân
lực phải phát triển nhân cách; phát triển năng lực vật chất và năng lực tinh
thần; tạo dựng, hoàn thiện và ngày càng nâng cao cả về đạo đức và tay nghề;
cả tâm hồn và hành vi (tức là phải phát triển cả kiến thức lẫn kỹ năng; cả thể
lực lẫn tinh thần, đạo đức nhân cách…).
- Ở tầm vĩ mô phát triển nguồn nhân lực là tạo ra nguồn nhân lực có khả
năng đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế, xã hội trong từng thời kỳ phát triển
cả về mặt quy mô, cơ cấu số lượng và chất lượng. Tiếp cận theo tiêu chức
"Mục đích" ở nước ta phát triển nguồn nhân lực trong giai đoạn hiện nay là
nhằm đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá
nhanh, vững chắc. Các yêu cầu đó là:
Một, công nghiệp hoá, hiện đại hoá là quá trình chuyển đổi căn bản,
toàn diện các hoạt động kinh tế, xã hội từ sử dụng lao động thủ công là chính
sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ, phương
tiện, phương pháp tiên tiến hiện đại có khả năng tạo năng suất lao động xã hội
cao. Trong điều kiện nước ta cần chú ý mối quan hệ giữa công nghệ hiện đại
sử dụng ít lao động với công nghệ sử dụng được nhiều lao động; giữa việc sử
dụng yếu tố vốn và yếu tố lao động. Do vậy, khái niệm lựa chọn công nghệ và
công nghiệp thích hợp ra đời.
Hai, công nghiệp hoá, hiện đại hoá là quá trình đổi mới cơ cấu kinh tế
và tổ chức lại nền sản xuất xã hội. Về đại thể thì tỷ trọng nông nghiệp sẽ
giảm, tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ sẽ tăng lên trong tổng thể nền kinh tế
quốc dân; nền kinh tế tự cung tự cấp trước đây sẽ được tổ chức lại theo kiểu
sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa có sự phân công hợp tác chặt chẽ, song song với
quá trình trang bị công nghệ tiên tiến hiện đại.
9
Theo hướng đó cơ cấu lao động xã hội sẽ thay đổi, trình độ kiến thức,
tay nghề, tư duy, quan hệ xã hội sẽ thay đổi cùng với sự phát triển của sự
phân công lao động và tổ chức lại nên sản xuất xã hội.
Ba, quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá không chỉ là quá trình kinh
tế - kỹ thuật; mà còn là các quá trình kinh tế - xã hội, quá trình kinh tế và bảo
vệ, tái tạo môi trường sống. Do vậy cùng với quá trình thực hiện trang bị lại,
tổ chức lại lao động xã hội, thì phải rất chú trọng các vấn đề tổ chức lại đời
sống xã hội về bảo vệ, tái tạo môi trường sống cho thế hệ hiện tại và cho các
thế hệ tương lai.
Bốn, quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá là quá trình đô thị hoá,
đồng thời phát triển nông nghiệp, nông thôn. Đất đai giành cho kinh doanh
nông nghiệp giảm trong khi đất chuyên dùng phục vụ đô thị hoá tăng nhanh.
Cùng với xu hướng di cư từ nông thôn ra thành thị thì nhiều vùng nông thôn
bị đô thị hoá, lao động nông thôn chuyển thành lao động thành thị.
Vấn đề giải quyết việc làm cho lao động ở đô thị trở nên cấp bách. Cần
có những chính sách thích hợp để giải quyết nhu cầu này trong ngắn hạn và
trong dài hạn. Trong nông thôn cùng với việc phát triển nền nông nghiệp hàng
hoá, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ cùng phát triển. Cơ cấu ngành
nghề biến động, thúc đẩy quá trình đổi mới cơ cấu lao động, và đời sống kinh
tế xã hội nông thôn.
Năm, quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn liền với quá trình
phân công sản xuất kinh doanh quốc tế. Thị trường lao động cũng được quốc
tế hoá. Vấn đề đặt ra là phải làm gì để có thể hội nhập thị trường lao động
quốc tế.
b) Các nhân tố tác động đến quá trình phát triển nguồn nhân lực
Có ba nhóm nhân tố ảnh hưởng:
- Nhóm nhân tố "tự nhiên" gồm quy mô, cơ cấu và tốc độ tăng dân số.
Các nhân tố này được xem xét trong mối quan hệ qua lại giữa sự biến dộng
dân số, với nguồn nhân lực và giải quyết việc làm.
10
Quy mô dân số được biểu thị khái quát bằng tổng số dân cư của một
khu vực vào thời điểm nhất định. Quy mô dân số là nhân tố quan trọng là căn
cứ để hoạch định chiến lược phát triển. Mỗi một nước (cũng như một vùng,
địa phương) cần có một quy mô dân số thích hợp, tương thích với điều kiện tự
nhiên, cũng như trình độ phát triển kinh tế xã hội của mình.
Cơ cấu dân số thích hợp bảo đảm cho sự phát triển ổn định, được nhiều
nhà dân số học nhất trí: Tỷ lệ trẻ em dưới tuổi lao động là 26%÷28%; Tỷ lệ
người trong độ tuổi lao động là 60÷64%; Tỷ lệ người già trên độ tuổi lao động
là: 10÷12%. Muốn vậy, thì tỷ suất sinh (TFR) phải giữ ở mức thay thế.
Gia tăng dân số là cơ sở để hình thành và phát triển nguồn nhân lực.
Nhưng nếu dân số có tăng nhanh trong điều kiện nước nghèo, khi mà không
có khả năng cung cấp đầy đủ dinh dưỡng và chăm sóc y tế, trình độ học vấn
thấp v.v Năng suất lao động thấp, sản phẩm quốc dân tăng chậm thì rất bất
lợi cho phát triển kinh tế - xã hội.
Cơ cấu dân số theo độ tuổi có tác động đến số lượng nguồn nhân lực:
tăng nhanh hay chậm.
Cơ cấu dân số theo giới tính có vai trò trong cân bằng sinh thái của
cộng đồng, trong những mối liên hệ xã hội và kinh tế.
Cơ cấu dân số theo khu vực thành thị, nông thôn thể hiện mức độ đô thị
hoá.
Di dân là một trạng thái vận động của dân cư. Di dân (theo nghĩa đơn
giản, trực tiếp) là sự di chuyển dân cư từ đơn vị lãnh thổ này tới một đơn vị
lãnh thổ khác. Di dân là một hiện tượng chịu ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố có
những yếu tố khó kiểm soát.
Trong quá trình công nghiệp hoá, hiện tượng di dân từ nông thôn ra
thành thị là một tất yếu.
- Nhóm nhân tố về kinh tế xã hội:
Các nhân tố này liên quan chặt chẽ với chất lượng nguồn nhân lực.
11
Trình độ phát triển con người (HDI): HDI được tính căn cứ: GDP hoặc
GNP bình quân đầu người; trình độ dân cư, tuổi thọ bình quân.
GNP (GDP)/người phụ thuộc vào tốc độ tăng của GDP (GNP) và quy
mô, tốc độ tăng dân số. Chỉ tiêu này ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng cuộc
sống, thể lực của nguồn nhân lực. Chỉ tiêu này được cụ thể hoá trong các chỉ
tiêu: sức khoẻ; dinh dưỡng; mức tiêu thụ điện năng v.v
Sức khoẻ là trạng thái thoải mái về thể chất, tinh thần và xã hội. Nó
được tạo nên bởi sự hoà hợp của nhiều yếu tố như thể chất, tinh thần, nội
tạng, môi trường v.v Sức khoẻ là nhân tố rất quan trọng tác động đến thể
chất của nguồn lao động. Sức khoẻ và dinh dưỡng được cải thiện sẽ nâng cao
chất lượng nguồn nhân lực, là cơ sở để phát triển. Tình trạng sức khoẻ và dinh
dưỡng tác động đến tuổi thọ trung bình.
Trình độ dân trí được thể hiện qua các chỉ tiêu: Tỷ lệ người biết chữ; số
năm đi học bình quân (có thể chi tiết đến từng nhóm tuổi, giới tính) tình hình
giáo dục phổ thông, trung học chuyên nghiệp; cao đẳng đại học và đào tạo
công nhân kỹ thuật. Trình độ học vấn thể hiện mặt bằng dân trí. Trình độ học
vấn là cơ sở quan trọng để nâng cao trình độ và kỹ năng làm việc của người
lao động.
Trình độ học vấn nâng cao càng tạo thuận lợi mang tính nội sinh để
phát triển giáo dục, đào tạo nghề, là nhân tố quan trọng nâng cao chất lượng
nguồn nhân lực.
Trình độ chuyên môn kỹ thuật là sự hiểu biết, khả năng thực hành về
lĩnh vực ngành nghề nào đó của người lao động.
Chất lượng nguồn nhân lực còn phụ thuộc vào quy mô, cơ cấu đội ngũ
học viên, sinh viên đang được đào tạo trong các trường cao đẳng, đại học, học
nghề.
Các yếu tố về văn hoá truyền thống:
Yếu tố văn hoá và truyền thống dân tộc chi phối mạnh mẽ hành vi ứng
xử của con người trong công việc và cuộc sống, do đó, trực tiếp ảnh hưởng
12
đến tính cách, phẩm chất riêng của lao động mỗi vùng trong một nước, cũng
như từng bước. Trong điều kiện kinh tế thị trường, cơ chế mới có tác dụng
tích cực như kích thích người lao động vươn lên, tích cực học tập, rèn luyện,
nâng cao trình độ nghề nghiệp thích ứng với đòi hỏi của thị trường; đồng thời
ma lực của đồng tiền ảnh hưởng đến nhân cách và lối sống, đến quan niệm và
nhận thức về trách nhiệm và nghĩa vụ. Do vậy, yếu tố văn hoá truyền thống
dân tộc ngày càng có vai trò quan trọng, góp phần tạo nên những con người
có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao, tay nghề, kỹ năng giỏi, đồng thời có tâm
hồn, tinh thần lành mạnh.
Các nhân tố thuộc về cơ chế, chính sách: Chính sách là một công cụ hết
sức quan trọng trong việc tạo điều kiện và thúc đẩy sự phát triển của nguồn
nhân lực.
Mục tiêu hướng tới của các chính sách là phải phát huy được nhân tố
con người trên cơ sở bảo đảm công bằng, bình đẳng về quyền lợi, nghĩa vụ
công dân, kết hợp tốt tăng trưởng kinh tế và tiến bộ xã hội; chú trọng nâng
cao đời sống vật chất, đồng tời với đời sống tinh thần; quan hệ giữa cá nhân,
tập thể với cộng đồng xã hội được giải quyết hợp lý, hài hoà. Việc đáp ứng
nhu cầu của thể chế hiện tại không được làm tổn hại việc đáp ứng nhu cầu của
các thế hệ tương lai.
Đối với con người, trước hết cần quan tâm giải phóng khả năng lao
động sáng tạo, do đó cần khắc phục những quan niệm, những lề luật trói buộc,
hạn chế nhằm giải phóng lực lượng sản xuất. Cần tập trung xoá đói, giảm
nghèo, tạo điều kiện cho người nghèo chủ động tạo việc làm, tăng thu nhập
bằng cách phát triển sản xuất - dịch vụ hợp pháp. Mục tiêu chiến lược của các
chính sách là:
"Đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao rõ rõ rệt đời
sống vật chất tinh thần của nhân dân, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta
cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại…"
13
Vậy phải rất coi trọng "tăng trưởng" nguồn lực con người, năng lực
khoa học và công nghệ v.v (Báo cáo chính trị tại Đại hội IX).
Theo đó, phải "chuyển biến mạnh cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động theo
hướng CNH, HĐH (Văn kiện Đại hội IX. Báo cáo Chính trị trang 90). "Tạo
chuyển biến mạnh về giáo dục và đào tạo… Phát huy nhân tố con người". Cụ
thể hơn Đại hội nhấn mạnh "Tạo nhiều việc làm, cơ bản xoá đói, giảm hộ
nghèo v.v (Văn kiện Đại hội IX, BCCT trang 90) và: "Bằng nhiều giải pháp,
tạo nhiều việc làm mới, tăng quỹ thời gian lao động được sử dụng, nhất là
trong nông nghiệp và nông thôn. Các thành phần kinh tế mở mang các ngành
nghề, các cơ sở sản xuất, dịch vụ có khả năng sử dụng nhiều lao động. Khôi
phục phát triển các làng nghề, đẩy mạnh phong trào lập nghiệp của thanh niên
và đào tạo lao động có nghề. Tổ chức quản lý chặt chẽ hoạt động xuất khẩu
lao động…"(Báo cáo chính trị - ĐH IX trang 104).
Quan điểm giải quyết vấn đề trên là: Tạo lập, phát triển và sớm hoàn
thiện thị trường lao động. Văn kiện Đại hội IX nhấn mạnh: "Mở rộng thị
trường lao động trong nước có sự kiểm tra giám sát của Nhà nước, bảo vệ lợi
ích của người là và người sử dụng lao động. Đẩy mạnh xuất khẩu lao động có
tổ chức, có hiệu quả. Hoàn thiện hệ thống pháp luật và chính sách tạo cơ hội
bình đẳng về việc làm cho người lao động, tạo điều kiện thuận lợi và khuyến
khích người lao động tự tìm việc làm, nâng cao trình độ đào tạo lại, học nghề
mới.
Để tạo nhiều việc làm (tăng cầu) Đảng ta chủ trương "giải phóng lực
lượng sản xuất", "thực hiện nhất quán chính sách phát triển nền kinh tế nhiều
thành phần" các thành phần kinh tế cùng tham gia phát triển lực lượng sản
xuất, tạo nhiều chỗ làm việc, tăng thu nhập cho người lao động. Cụ thể là:
- Đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn.
Một mặt, tiếp tục đưa nông nghiệp, ngư nghiệp, lâm nghiệp lên một trình độ
mới. Mặt khác, đầu tư phát triển công nghiệp, dịch vụ, các ngành nghề đa
dạng, chú trọng công nghiệp chế biến, cơ khí phục vụ nông nghiệp, các làng
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét