1
MỞ ĐẦU
Văn minh Trung Hoa là một trong những nền văn minh xuất hiện sớm
nhất trên thế giới với hơn 4000 năm phát triển liên tục. Có thể nói, văn minh
Trung Hoa là một trong những cái nôi của văn minh nhân loại. Bên cạnh những
phát minh, phát kiến về khoa học, văn minh Trung Hoa còn là nơi sản sinh ra
nhiều học thuyết triết học lớn có ảnh hưởng đến nền văn minh Châu Á cũng như
toàn thế giới.
Nét đặc trưng của triết học Trung Hoa là có xu hướng đi sâu giải quyết
những vấn đề thực tiễn chính trị - đạo đức của xã hội với nội dung bao trùm là
vấn đề con người, xây dựng con người, xã hội lý tưởng và con đường trị nước.
Trong số các học thuyết triết học lớn đó phải kể đến trường phái triết học Nho
giáo. Nho giáo xuất hiện rất sớm, lúc đầu nó chỉ là những tư tưởng hoặc trí thức
chuyên học văn chương và lục nghệ góp phần trị nước. Đến thời Khổng tử đã hệ
thống hoá những tư tưởng và tri thức trước đây thành học thuyết. Nho giáo rất
phát triển ở các nước châu Á là Trung Hoa, Nhật Bản, Triều Tiên, và Việt Nam.
Theo Nho giáo mọi thành viên trong xã hội đều bị trói buộc bởi Ngũ
Thường gồm Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín. Ngũ Thường quy định hành vi ứng xử
của con người nó phản ánh hai mặt của cuộc sống hiện thực là quan hệ gia đình
và quan hệ xã hội. Trong những phạm trù đạo đức ấy, chữ “nhân” (人 ) được
Khổng Tử đề cập nhiều nhất và được coi là nguyên lý đạo đức cơ bản, quy định
bản tính con người trong quan hệ giữa người và người từ gia tộc đến xã hội. Để
hiểu hơn về chữ “nhân” của Khổng Tử, em thực hiện đề tài “Chữ Nhân trong
luận thuyết Ngũ Thường của Khổng Tử”.
2
1. GIỚI THIỆU CHUNG
1.1. Sơ lược về Nho giáo
Nho giáo, còn được gọi là Khổng giáo, là một hệ thống đạo đức, triết lý và
tôn giáo do Khổng Tử phát triển để xây dựng một xã hội thịnh trị. Việc tìm hiểu
tư tưởng gốc của Khổng Tử rất khó khăn sau thời kỳ “đốt sách, chôn Nho” của
nhà Tần, hai trăm năm sau khi Khổng Tử qua đời. Tuy nhiên, cũng cái tên Nho
giáo đó nhưng nội dung khác đã được đề cao. Đó là hầu hết các đặc điểm trọng
văn của văn hóa nông nghiệp trong Nho giáo nguyên thủy (tính “hài hòa”, tính
“dân chủ”, tính coi trọng văn hóa tinh thần) bị loại bỏ và bị thay thể bằng các đặc
điểm trọng võ của văn hóa du mục (Tính “quốc tế”, tư tưởng “bá quyền”, Tính
“trọng sức mạnh” được thể hiện ở chữ “Dũng”, Tính “nguyên tắc” được thể hiện
ở học thuyết “chính danh”).
Đến đời Hán, Hán Vũ Đế đưa Nho giáo lên hàng quốc giáo và dùng nó
làm công cụ thống nhất đất nước về tư tưởng. Và từ đây, Nho giáo trở thành hệ
tư tưởng chính thống bảo vệ chế độ phong kiến Trung Hoa trong suốt hai ngàn
năm. Nho giáo thời kỳ này được gọi là Hán Nho. Điểm khác biệt so với Nho
giáo nguyên thủy là Hán Nho đề cao quyền lực của giai cấp thống trị, Thiên Tử
là con trời, dùng “lễ trị” để che đậy “pháp trị”. Đến Hán nho, nhà Hán chủ
trương “dương đức”, “âm pháp”, hay còn gọi là “ngoại Nho, nội pháp”, tức là
chủ trương nhân trị chỉ còn là hình thức mà thực chất là pháp trị.
Đến đời Tống, Nho giáo được gọi là Tống nho, với các tên tuổi như Chu
Hy (thường gọi là Chu Tử), Trình Hạo, Trình Di. (Ở Việt Nam, thế kỷ thứ 16,
Nguyễn Bỉnh Khiêm rất giỏi Nho học nên được gọi là “Trạng Trình”). Chu Hi
bắt đầu như một người theo học Phật giáo nhưng vì không thể chấp nhận ý tưởng
3
về vô ngã – không có bản ngã cố định – nên ông hướng tới truyền thống Nho
giáo và rồi trở thành người trình giải chính của Tống Nho. Điểm khác biệt của
Tống nho với Nho giáo trước đó là việc bổ sung các yếu tố “tâm linh” (lấy từ
Phật giáo) và các yếu tố “siêu hình” (lấy từ Đạo giáo) phục vụ cho việc đào tạo
quan lại và cai trị.
Như vậy, Khổng giáo nguyên bản có thể bị coi là thất bại. Trước khi chết,
Khổng Tử rất u buồn bởi lẽ ông hiểu rằng, hút nhụy một phần từ văn minh nông
nghiệp, Nho giáo mang tính nhân bản của ông chỉ thích hợp trong phạm vi làng
xã. Còn để phục vụ trong phạm vi quốc gia thì cần phải có một triết lý có tính
pháp luật cao hơn, và Hán nho đã hoàn thành xuất sắc điều này.
1.2. Cuộc đời và sự nghiệp của Khổng Tử
Khổng Tử nghĩa là vị thầy họ Khổng; còn
gọi là Khổng Phu Tử, tước hiệu mà nho sinh
dùng để tôn xưng vị thầy họ Khổng; ngoài
ra, còn được hậu thế vinh danh là “Vạn thế
sư biểu: vị thầy dạy vô số thế hệ”. Trong
thập niên 70 của thế kỷ trước, một học giả
Mỹ đã xếp Khổng Tử ở ngôi vị thứ 5, chỉ
sau chúa Giê-xu, Thính-ca-mâu-ni trong
số 100 nhân vật có ảnh hưởng trong lịch sử.
Đối với người Trung Quốc mà nói sự ảnh
hưởng của Khổng Tử có thể phải xếp
thứ nhất. Mỗi con người ít nhiều đều chịu sự ảnh hưởng của học thuyết Khổng
Tử.
Khổng Tử (孔子)(551 – 479)
4
Thời đại của Khổng Tử là thời đại “vương đạo” suy vi, “bá đạo” nổi lên, chế độ
tông pháp nhà Chu đảo lộn, đạo lý suy đồi. Vì thế, Khổng Tử muốn đem tài sức
của mình ra giúp vua lập lại trật tự xã hội, nhưng không được vua nước Lỗ trọng
dụng. Sau đó, ông đem đạo của mình chu du qua 14 (16) nước, nhưng cũng
không được ông vua nào nghe theo. Về sau, ông trở về nước Lỗ mở trường dạy
học và viết sách. Trải qua bốn mươi năm “dạy người không mỏi”, Khổng Tử thu
nhận trên dưới ba nghìn môn đệ. Trong đó, có bảy mươi hai người được gọi là
hiền, bao gồm cả những người được gọi là “triết”, hậu thế gọi là “Thất thập nhị
hiền”.
Ông san định “Kinh Thi”, “Kinh Thư”, “Kinh Dịch”, “Kinh Lễ” … soạn
“Kinh Xuân Thu”. Môn đệ của ông chép lại lời thầy dạy thành bộ “Luận ngữ”,
“Trung dung”, “Đại học”.
2. CHỮ NHÂN TRONG LUẬN THUYẾT
NGŨ THƯỜNG CỦA KHỔNG TỬ
2.1 Tư tưởng về đức nhân
Nhân là phạm trù "hạt nhân” trong học thuyết của Nho giáo, được xem là
tư tưởng xuyên suốt của trường phái này.
Trong triết học Trung Hoa có hai chữ Nhân, nhân nghĩa là người, con
người và nhân nghĩa là nhân ái, nhân đức là bản tính của con người. Cũng trong
triết học Trung Hoa nhân bao gồm chữ nhân đứng kết hợp với chữ nhị có nghĩa
là đạo làm người. Như vậy, nhân theo nghĩa hẹp là một phẩm chất đạo đức cụ
thể, cơ bản và nền tảng của con người. Theo nghĩa rộng, nhân bao gồm mọi đức
của con người như lễ, nghĩa, trí, tín, hiếu, trung , đây là những phẩm chất có ý
nghĩa bao trùm lên mọi đức tính. Nhân là đạo làm người, là cách cư xử của mình
đối với người, là yêu người, là bác ái. Nhân là quy phạm nguyên tắc đạo đức chủ
5
yếu nhất có tính phổ biến nhằm chi phối ràng buộc con người trong việc tu
dưỡng hoàn thiện đạo đức của mình và ràng buộc mọi hành vi ứng xử trong các
quan hệ xã hội giữa người với người, giữa người với mọi giai cấp, tầng lớp khác
trong xã hội. Nhân còn là phạm trù đạo đức mang tính chất chính trị là công cụ
chính trị và nhằm mục đích chính trị.
Nhân được biểu hiện qua những việc làm cụ thể của con người như cung
kính với bề trên, nhân nhượng với người dưới, trung thực với người, quan trọng
hơn cả là lòng yêu thương con người. Nếu làm trái với những điều đó thì đều là
làm trái với đức nhân. Qua đó để khẳng định nhân là đạo đức của con người, là
hành vi ứng xử, là cách đối nhân xử thế giữa người với người. Nhân vừa bao la
vô cùng nhưng nhân cũng rất gần gũi với mọi người, nhân gắn liền với bản chất
tự nhiên của con người. Nếu hiểu theo tinh thần của Nho giáo thì nó là tinh thần
chính trị, của đạo đức con người, là tinh thần của "Lễ", "Nhạc". Cho nên sách
Nho định nghĩa: "Nhân là người và yêu người. Yêu người bắt đầu từ mình đến
người gắn với mình cho đến quốc gia, xã hội, đây là tình, là hiếu, là trung, là
nhân ái". Nếu nhân chỉ là yêu người thôi thì hoàn toàn chưa đủ, mà nhân còn là
yêu người một cách vô tư không gượng ép, đó là bản tính vốn có của con người.
Từ nhân mới nảy sinh ra các đức khác, nhân là gốc để sinh ra hiếu, lễ, trí, tín
Ngược lại các đức ấy lại hội tụ ở nhân. Như vậy nhân là phạm trù bao quát và
toàn diện nhất.
Trong lịch sử Nho học, phạm trù nhân không phải đến đời Khổng Tử mới
có mà quan niệm này đã có từ rất lâu. Sách Kinh Dịch cho rằng: "lập đạo của
trời nói rằng âm và dương, lập đạo của đất nói về nhu và cương, lập đạo của
người nói về Nhân và Nghĩa”. Đến thời Khổng Tử quan niệm về nhân mang tính
chất mới mẻ hơn và sâu sắc hơn. Trong suốt cuộc đời của mình, Khổng Tử luôn
6
mang hoài bão đưa tư tưởng của mình, học thuyết của mình để hướng con người
đạt đến điều nhân, thực hiện đường lối trị nước bằng đạo đức (đức trị) để xây
dựng một xã hội thái bình thịnh trị. Trong luận ngữ có 105 chỗ nói đến nhân,
nhưng không chỗ nào giống chỗ nào. Vậy “nhân” là gì?
• Phan Trì hỏi nhân là gì? Phu Tử nói "Yêu người" (Nhan Uyên).
• Trọng Cung hỏi nhân là gì? Phu Tử nói "Cái gì mình không muốn
thì không làm cho người ta; ở trong nước không có điều oán, ở trong
nhà không có điều oán" (Nhan Uyên). "Nhân là làm cái khó trước
mà để cái được lại sau" (Ung dã). "Người quân tử bỏ cái nhân thì
làm sao thành danh được? (Lý nhân)… Qua đó để ta thấy với
Khổng Tử đức nhân chẳng ở đâu xa mà ngay chính trong lòng,
trong tâm của mỗi người. Con người muốn đạt được điều nhân thì
dẹp bỏ tất cả tư dục mà làm theo điều Lễ.
Chữ nhân của Khổng Tử có nội dung phức tạp. Mặc dù vậy có thể hiểu
nhân là một khái niệm đạo đức chỉ phẩm chất cần có của người quân tử. Phẩm
chất đó được nhìn nhận từ hai mặt: đối với mình và đối với người. Đối với mình
phải trong sạch, không nghĩ và không làm điều xấu, điều ác, phải giữ đúng lễ và
vươn lên không ngừng. Theo cách nói của các nhà nho là phải "tu thân" theo các
tiêu chuẩn nhân, nghĩa, lễ, trí, tín để có thể "tề gia, trị quốc, bình thiên hạ". Đối
với người, phải thương yêu người (Phàn Trù vấn nhân, Tử viết: "ái nhân" - Nhan
Uyên); phải giúp người thành đạt như chính mình (Phù nhân giảm kỉ dục lập nhi
lập thân, kỉ dục đạt nhi đạt nhân - Ung dã). Đứng trên quan niệm triết lý, đạo đức
và tôn giáo của Khổng Tử thì nhân ở đây là “nhân trị” mà cốt lõi là cai trị bằng
tình người, là yêu người, coi người như bản thân mình phải tránh cho người khác
những điều chính mình cũng không muốn (Kỉ sở bất dục vật thi ư nhân - Nhan
7
Uyên). Mình muốn thì cũng giúp người khác thông đạt, đó là trung: mình không
muốn thì cũng tránh cho người khác, đó là thứ: "Trung thứ" chính là "nhân"vậy.
Tuy nhiên, không nên quá nhấn mạnh một chiều giá trị siêu việt của chữ
nhân như Phơ-bách đã làm khi mượn chữ nhân của Khổng Tử để minh họa cho
chủ nghĩa nhân đạo của giai cấp tư sản. Chủ ngĩa nhân đạo của Phương Tây
nghiêng về quyền lợi con người, chữ nhân phương Đông nghiêng về trách nhiệm
con người. Nói đến chữ nhân, Khổng Tử đặc biệt nhấn mạnh đến sự an phận mà
không oán trách, đặc biệt ở người dân (tại bang vô oán, tại gia vô oán - Nhan
Uyên), phải chống lại sự hiếu thắng, khoe khoang, oán giận, ham muốn (khắc
phạt, oán, dục, bất hành yên, khả dĩ vi nhân hĩ - Hiến vấn). Ông nói đến chữ nhân
là nhằm vào người quân tử; bên cạnh chữ nhân còn có chữ dân giành cho người
nô lệ. "Người quân tử học đạo thì biết thương người, kẻ tiểu nhân học đạo thì dễ
sai khiến" (quân tử học đạo tất ái nhân, tiểu nhân học đạo tất dị sử - Dương
Hóa).
Khổng Tử còn ví người đức nhân như nước vậy. "Nước chảy xuống
trủng, chảy quanh co như Nghĩa vậy. Nước từ trên cao trăm trượng đổ xuống mà
không ngần ngại giống như Dũng vậy. Nước ở lại chỗ cạn thì lưu hành, chỗ sâu
thì không lường được giống như Trí vậy. Yếu mờ nhỏ mà ở đâu cũng thấm được
giống như sát vậy. Cái gì không sạch vào nước thì cũng sạch, tinh khiết giống như
thiên hóa. Nước đứng động, bằng phẳng giống như Chính vậy, nước đầy thì
không phải giữ giống như Độ vậy Nước khi khúc chiết chảy về biển Đông, giống
như ý vậy" (Luận ngữ, Tử lộ). Như thế nhân cách theo Khổng Tử là mỗi người
phải tự trau dồi cho mình những đức tính tốt đẹp đủ để tỏa ra cho mọi người
xung quanh giống như nước vậy.
8
Như vậy ta thấy Nhân là yếu tố quan trọng, là cái gốc mở đầu của việc xây
dựng đạo đức của một con người. Ai đạt được bậc nhân thì làm gì cũng được
lòng người, ích cho đời. Bởi thế, "Người quân tử trong bữa cơm cũng không nên
trái điều nhân, vội vàng cũng phải theo nhân, loạn lạc cũng phải giữ nhân",
(Luận ngữ, Lễ nhân). Qua đó chúng ta thấy được quan niệm về nhân của Nho
giáo mang đậm tính nhân văn và có ý nghĩa thiết thực mà con người luôn hướng
đến.
2.2 Luận thuyết Ngũ Thường của Khổng Tử
Ngũ Thường là phần tư tưởng cuả Khổng Tử (551- 479 trước CN) đứng
trên mặt Nhân Sinh Quan mà xét, ông đưa ra học thuyết Chính Danh nhằm ổn
định trật tự vốn dĩ bất an trong thời Xuân Thu Chiến Quốc.
Chính Danh theo Khổng Tử là sự vật được tồn tại phải dùng ngôn ngữ để
biểu hiện một cách khách quan đó là danh, nhưng danh không thực chỉ có nội
hàm và sự vật thì luôn luôn thay đổi nên nội hàm thay đổi theo, nhưng ngôn ngữ
biểu hiện thì ổn định do đó danh bị tụt hậu hay lạc lối, nếu danh không thay đổi
để bắt kiệp với sự vật thực tại thì không còn chính danh, xã hội tất loạn.
Do đó Khổng Tử đặt ra một loạt Tam Cương, Ngũ Thường, Tam Tòng, Tứ
Đức mô hình chính danh cho con người theo đó để tu thân mà Ngũ Thường-
nhân, lễ, nghĩa, trí, tín là một hướng dẫn về phép ứng xử luân lí đạo đức tu thân
trong xã hội Nho giáo.
9
Ngũ Thường ở đây không đơn giản trong lẽ đạo đức thường của 5 phép:
nhân, lễ, nghĩa, trí, tín mà còn thâm thúy nằm trong ngũ Thường luận về quân
thần, phụ tử, huynh đệ, phu phụ và bằng hữu. Như vậy trong tư tưởng đạo đức
của Khổng Tử Ngũ Thường chính là ngũ luân là căn bản cơ sở như một nhân tố,
trong đó bốn điều sau vẫn còn có giá trị, trong khi quân thần đã mất đi phần ý
nghĩa vì thời thế thay đổi, tuy nhiên nếu lồng vào quân thần bằng ý nghĩa thời
đại suy rộng trong quan hệ liên đẳng cấp trên bình diện tương kính…thì vẫn có ý
nghĩa áp dụng được.
2.3 Chữ nhân trong luận thuyết Ngũ thường của Khổng Tử
“Nhất Nhân”, chữ nhân không phải tự nhiên được đứng đầu, các bậc hiền
triết xưa có cái lý cả. Nhân chính là kết tinh của Ngũ Thường, bởi nếu biết giữ
chữ tín, cái nghĩa con người, biết giữ lễ với nhau thì hẳn chúng ta mới hoàn thiện
được cái nhân, nếu mà một trong bốn đạo kia mà chưa giữ vẹn thì quả chữ nhân
cũng khó mà hoàn thiện được. Khổng Tử nói đến nhân là nói đến nhân phẩm cơ
bản để có thể thực hành “lễ, nghĩa, trí, tín”.
Tạm dịch nhân có nghĩa chính là Nhân ái. Nhân ái không dành riêng cho
bất kì tầng lớp nào, kể cả giàu sang hay nghèo hèn đều có thể thi hành Nhân ái.
Thật sự rằng, đã là con người thì bao giờ lòng Nhân ái cũng tìm ẩn trong trái tim,
Mạnh Tử đã nói : " Nhân chi sơ, tính bổn thiện " . Con người vừa mới sinh ra, ai
cũng hiền lương cả. Nhưng nhân chỉ có thể xuất phát nếu tâm hồn ta trong sạch
chớ vướng vào bụi trần làm cho ô uế ra, ta cứ yêu thương đồng loại để mà bao
dung, tha thứ và cho đi. Và lịch sử loài người cũng đã ghi lại không ít câu
chuyện những bậc cao nhân thi hành "Nhân ái" đáng cho ta phải học hỏi và nể
10
phục. Từ vua chúa đến các bậc hiền triết đã nhiều người đi dùng nhân nghĩa mà
trị quốc cũng như dùng để đối nhân sử thế.
Trong quan niệm của Khổng Tử, "nhân" không chỉ là "yêu người",
"thương người", mà còn là đức hoàn thiện của con người, và do vậy, "nhân"
chính là đạo làm người - sống với mình và sống với người, đức nhân là cái bền
vững như núi sông. Với ông, nếu thịnh đức của trời - đất là sinh thành, bắt nguồn
từ đạo trung hoà, trung dung thì cái gốc của đạo lý con người là "trung thứ" và
đạo đức, luân lý con người là "nhân", người có đạo nhân là bậc quân tử, nước có
đạo nhân thì bền vững như núi sông.
Tuy nhiên, trong thời kỳ Xuân Thu - Chiến Quốc đã có nhiều học thuyết
phê phán chữ "nhân" (yêu người) của Khổng Tử. Có người cho đó là giả dối, có
người cho đó là nói suông, có người lại cho đó là nguồn gốc của bất nhân, bất
nghĩa Thế nhưng không phải vì thế mà tư tưởng nhân của Khổng Tử không đi
vào lòng của nhiều người đương thời, gây cho họ biết bao sự xúc động và làm cơ
sở cho hành động nhân đạo của họ. Thực tế cho chúng ta thấy, "Từ đời Hán trở
đi, suốt trên hai nghìn năm đạo Khổng được độc tôn, Vua Chúa đời nào cũng
ráng áp dụng nó, mặc dầu không đúng. Nó thực tế hơn đạo Mặc, đạo Lão, nhân
bản hơn thuyết của Pháp gia". Cũng cần phải nói thêm rằng, trong Luận ngữ, tư
tưởng nhân của Khổng Tử còn bao gồm nhiều đức khác, như: Trực (ngay thẳng,
không giả dối), Kính (nghiêm trang, cẩn trọng, cẩn thận trong công việc), Nghĩa,
Lễ
Ngoài ra, đức nhân trong Ngũ Thường của Nho giáo cũng là xuất phát
điểm của học thuyết đạo đức, chính trị - xã hội. Vì vậy, nhân có mối quan hệ
chặt chẽ mật thiết với các đức khác. Chẳng hạn nhân với nghĩa trong đó nhân thể
hiện lòng thương người thì nghĩa là trách nhiệm thực hiện tình cảm đó. Muốn
11
thực hiện điều Nhân phải có ý chí sắt đá vì vậy đức nhân có quan hệ biện chứng
với trí, tín, dũng Tuy nhiên đối với người cầm quyền, đức nhân như một thành
trì vững chắc để giữ gìn và bảo vệ những gì họ đạt được.
Nhân là chữ đứng đầu trong Ngũ Thường, chúng ta thừa nhận nó thâm
thúy, cao sâu khó luận. Nhưng đã có nhiều bậc hiền triết đi tìm chân lý chữ nhân
nhưng hầu hết cũng chỉ tìm cũng chưa hoàn thiện. Chung quy lại nhân là căn
nguyên của tứ đạo còn lại.
Để hiểu rõ hơn về tư tưởng "nhân" của Khổng Tử, ta cần so sánh Nho giáo
với tư tưởng Kiêm ái của Mặc Tử và tư tưởng Từ bi của đạo Phật.
- Người nhân trong quan niệm của Khổng Tử, phân biệt mình và người,
coi trọng đạo đức, chú ý phần thiện trong bản tính con người. Còn tư tưởng
Kiêm ái của Mặc Tử thì xem ai cũng như mình, không phân biệt thân - sơ, chỉ
chú trọng đến sự cứu giúp vật chất, chú ý đến "giao tương lợi".
- Tư tưởng "nhân" của Khổng Tử cũng khác xa tư tưởng Từ bi của đạo
Phật.
Phật thương người và thương cả vạn vật, luôn u buồn vì sự mê muội của
con người, luôn tìm cách giải thoát mọi sinh linh ra khỏi vòng sinh, lão, bệnh, tử.
Còn đạo Khổng tìm mọi cách giúp cho con người sống một cuộc sống vui vẻ
hơn, có nghĩa lý hơn và tìm kiếm hạnh phúc ngay trên cõi trần (thực tế) chứ
không phải ở trên cõi niết bàn (mơ hồ).
Chính vì vậy, ngay cả khi tư tưởng từ bi, cứu khổ, cứu nạn của Phật giáo
du nhập và có chỗ đứng trong đời sống tinh thần của con người Đông Á, thì nó
cũng không thể thay thế được vai trò của đạo Khổng.
12
Có thể nói "nhân" của Khổng Tử là tư tưởng nhân đạo chủ nghĩa tiêu biểu
nhất trong lịch sử các nước Đông Phương.
- Chủ nghĩa "nhân đạo" của Phương Tây nghiêng về quyền lợi con người.
- Chữ "nhân" Phương Đông nghiêng về trách nhiệm con người.
Như vậy: nhân chính là "đạo đức - đạo làm người", là "phẩm chất tất yếu
cần có của người quân tử", là "nhân phẩm cơ bản" để có thể thực hành nghĩa - lễ
- trí - tín
Tóm lại, trong học thuyết Khổng Tử nói riêng, học thuyết Nho giáo nói
chung, nhân là một phạm trù trung tâm, là đạo đức sáng ngời kết tinh những tinh
hoa, chuẩn mực đạo đức của nhân loại. Chính từ mục đích vươn tới đức nhân
nên con người phải tự giác thực hiện tốt những chuẩn mực đạo đức khác trong
Ngũ Thường nói riêng và trong học thuyết về đạo đức luân lý của Nho giáo nói
chung như lễ, nghĩa, trí, tín, dũng, hiếu qua đó thấy được đức nhân trong tư
tưởng Ngũ Thường của Nho giáo.
2.4 So sánh chữ nhân của dân tộc Việt Nam và chữ nhân trong
luận thuyết Ngũ Thường của Khổng Tử
Trải qua hơn một ngàn năm phong kiến, Việt Nam là đất nước chịu nhiều
ảnh hưởng của các tư tưởng Phật giáo, Lão giáo , trong đó chịu ảnh hưởng sâu
sắc nhất của tư tưởng Nho giáo. Ngay từ khi Nho giáo xâm nhập vào Việt Nam,
nó đã thích nghi và phát triển mạnh mẽ. Từ xưa đến nay, Nho giáo ảnh hưởng rất
sâu sắc đến nhiều mặt trong đời sống xã hội Việt Nam, trong đó có sự nghiệp giáo
dục và đào tạo con người Việt Nam.
13
Cũng cùng chữ nhân nhưng người Trung Hoa và người Việt có những suy
tư và hành xử khác nhau.
Trong các bậc thang giá trị tinh thần, Việt Nam đề cao chữ nhân, kết hợp
chặt chẽ nhân với nghĩa, nhân với đức, bất nhân bất nghĩa đồng nghĩa với thất
đức. Nguyễn Trãi từng diễn tả quan niệm Nhân Nghĩa của người Việt - đối lập
với cường bạo, nâng lên thành cơ sở của đường lối trị nước và cứu nước.
Chữ nhân của người Trung Hoa được trình bày đầu tiên trong Ngũ
Thường của Khổng Tử. Vốn để đào tạo một chính nhân quân tử Trung Hoa.
Thầy Mạnh Tử định nghĩa người đại trượng phu quân tử như sau: “Phú quý bất
năng dâm” (Khi người quân tử được giàu sang thì không nên say mê danh vọng,
địa vị, sắc đẹp, bài bạc, hút sách ở cuộc đời); “Bần cùng bất năng di” (Người
quân tử cho dù gặp nhiều khó khăn trở ngại hay bần cùng trong lý tưởng hay trên
cuộc đời cũng không nên nản chí mà bỏ đi lý tưởng mình đã và đang theo đuổi);
“Uy vũ bất năng khuất” (Người quân tử không bao giờ bị khuất phục bởi sức
mạnh, cường quyền).
Tuy nhiên chữ nhân nói trên còn bị khá nhiều giới hạn. Giới hạn của nó ở
chổ chỉ nhằm tu chỉnh con người bên ngoài nhưng thiếu chú trọng về mặt tâm
hồn. Nghĩa là tu dưỡng nội tâm để trở nên một con người có thể tự thắng mình.
Con người tự thắng mình tức là con người đã vượt qua được những sự phiền não,
tựu chung ở tham lam, giận dữ và mê muội. Hơn nữa chữ nhân của người Trung
Hoa không mở rộng thành tình thương giống nòi đồng loại.
14
Chữ nhân của người Việt là trường hợp khá đặc biệt. Dân tộc ta sống cạnh
một nước láng giềng to lớn, hung hăng cũng như rất tham lam bành trướng lãnh
thổ. Kể từ thời lập quốc cách đây trên 4000 năm đã liên tục đề kháng lại sự xâm
lăng của người Trung Hoa phương Bắc. Chữ nhân này đã được tổ tiên chúng ta
ngay từ thuở xa xưa đã được phổ biến như là khuôn mẫu gìn giữ độc lập cũng
như sự tự do giống nòi. Với quan niệm :"Ta thà bỏ mạng sống một đời chứ
không bỏ chí lớn, quên mình để yên ổn quần sanh, đó là lòng nhân bao trùm trời
đất vậy". Cũng chính nhờ chữ nhân này mà sau khi Hai Bà Trưng thất bại trong
cuộc chiến chống quân Trung Hoa xâm lăng vào năm 43 sau Tây lịch, tổ tiên ta
đã có thể giữ vững nòi giống cũng như duy trì được văn hóa Lạc Việt, đồng thời
tạo nên những sức bật thần kỳ đánh đuổi quân xâm lăng phương Bắc của các bậc
anh hùng lớn 60 năm sau cuộc thất trận của Hai Bà Trưng ở cuộc khởi nghĩa
Tượng Lâm, đỉnh cao là chiến thắng sông Bạch Đằng đánh bại quân Nam Hán
của Ngô Vương Quyền năm 938 đã giải thoát hẳn dân tộc Việt Nam khỏi ách đô
hộ của người Trung Hoa phương Bắc.
Nhờ ở vị thế địa lý khá đặc biệt nên nước ta mới có cơ hội thâu nhập được
hai nền văn minh lớn đó là nước Trung Hoa phương Bắc và Ấn Độ phía Nam,
cùng với với nền văn minh tộc Việt là Đông Sơn và Lạch Trường đã hình thành
nên lòng nhân bao trùm trời đất. Chính nhờ lòng nhân này dân tộc Việt, văn hóa
Việt mới còn hiện diện cho đến ngày hôm nay. Điều tinh yếu làm thế nào để
dung hóa những nền tư tưởng nêu trên cũng như chan hòa với nền văn minh
Đông-Sơn và Lạch-Trường nhằm phục vụ một cách thiết thực cho dân tộc? Câu
trả lời đó là tư tưởng Tam giáo đồng nguyên tức là Phật giáo, Nho giáo và Lão
giáo. Khi đề cập đến ba hệ tư tưởng trên tức là đề cập đến cách sống và sự thích
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét