Thứ Bảy, 22 tháng 2, 2014

v6127

Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
phán xét của một người hiểu biết dựa trên thông tin đó”. Khái niệm này đã
hàm ý rằng “mức độ lớn của điều bị bỏ sót hay sai phạm của thông tin kế
toán” không cố định, tức là “trọng yếu” phải được xem xét trên cả mặt chất
lượng, số lượng và tromg mối quan hệ với “các tình huống xung quanh”.
Chuẩn mực Kiểm toán Quốc tế Số 320 và Chuẩn mực Kiểm toán Việt
Nam Số 320 – “Tính trọng yếu trong kiểm toán” định nghĩa như sau: “Thông
tin là trọng yếu nếu việc bỏ sót hoặc sai sót của thông tin đó có thể ảnh hưởng
tới quyết định kinh tế của người sử dụng báo cáo tài chính. Tính trọng yếu
phụ thuộc vào mức độ quan trọng của các khoản mục hay sai sót được đánh
giá theo bối cảnh cụ thể tạo ra việc bỏ sót hoặc sai sót đó. Vì thế tính trọng
yếu là một ngưỡng hoặc một điểm định tính cơ bản của một thông tin hữu ích
cần phải có. Tính trọng yếu của thông tin phải được xem xét trên cả phương
diện định lượng và định tính”
(8, 12)
. Định nghĩa này đã chỉ ra sự phụ thuộc của
tính trọng yếu vào bản chất của các khoản mục và cũng đã đề cập một phần
tới mối quan hệ về mặt số lượng giữa tính trọng yếu với độ lớn của điều bị bỏ sót.
Nguyên tắc Kiểm toán Quốc tế Số 25, Mục 05 quy định: “Trọng yếu là
khái niệm về tầm cỡ, bản chất của sai phạm (kể cả bỏ sót) thông tin tài chính
hoặc đơn lẻ hoặc tổng cộng, mà trong bối cảnh cụ thể nếu ta dựa vào thông tin
này để xét đoán thì không chính xác hoặc là sẽ đưa ra kết luận sai lầm”
(9, 246)
. So
với cách định nghĩa của Hội đồng Chuẩn mực Kế toán tài chính Mỹ (FASB 2),
“trọng yếu” trong Nguyên tắc này được định nghĩa một cách rõ ràng hơn, thể
hiện được sự xem xét trên cả mặt số lượng và chất lượng của vấn đề.
Qua tất cả các cách định nghĩa trên có thể thấy tính “trọng yếu” là một
phạm trù để đánh giá vai trò then chốt của thông tin tài chính trong bối cảnh
cụ thể. Nếu thiếu thông tin hoặc thông tin đó không chính xác thì sẽ gây ảnh
hưởng đến việc ra quyết định của người sử dụng thông tin tài chính. Để đánh
giá tính trọng yếu phải xem xét trên cả hai mặt: quy mô hay tầm cỡ (mặt
lượng) và vị trí hay tính hệ trọng (mặt chất) của thông tin tài chính.
Vũ Thị Huy Kiểm toán 44
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Trong mỗi cuộc kiểm toán, xác định tính trọng yếu là công việc cần thiết
và quan trọng của kiểm toán viên. Việc xác định này nhằm mục đích trợ giúp
kiểm toán viên lập kế hoạch kiểm toán, thiết kế phương pháp kiểm toán và
đưa ra ý kiến kiểm toán phù hợp khi cuộc kiểm toán kết thúc.
Chuẩn mực Kiểm toán Quốc tế Số 320 và Chuẩn mực Kiểm toán Việt
Nam Số 320 – “Tính trọng yếu trong kiểm toán”, Mục 10 quy định: “Khi lập
kế hoạch kiểm toán, kiểm toán viên phải xem xét đến các nhân tố có thể làm
phát sinh những sai sót trọng yếu trong báo cáo tài chính”
(6, 13)
.
Nguyên tắc Kiểm toán Quốc tế Số 25, Mục 08: “Vấn đề trọng yếu được
kiểm toán viên quan tâm, xem xét khi:
- Xác định nội dung, thời gian và phạm vi của các phương pháp kiểm toán.
- Đánh giá ảnh hưởng của những sai phạm đối với việc tính toán, phân
loại các tài khoản.
- Xác định tính hợp lý của việc trình bày và sự thể hiện xác đáng trong
các thông tin tài chính”
(9, 247)
.
Khái niệm trọng yếu đã khẳng định trọng yếu cần phải được xác định
trên hai mặt định tính và định lượng. Vì vậy tính trọng yếu được biểu hiện
trên hai phương diện như sau:
Thứ nhất, Tính trọng yếu biểu hiện qua quy mô của khoản mục, nghiệp vụ:
Quy mô của một sai phạm trên khoản mục, nghiệp vụ là một nhân tố
quan trọng để xác định tính trọng yếu của sai sót. Trong lĩnh vực kiểm toán,
kiểm toán viên luôn mong muốn có một chỉ dẫn ban hành để định hướng rõ,
cụ thể về mặt lượng đối với tính trọng yếu. Tuy nhiên, do việc xác định tính
trọng yếu mang tính chủ quan, óc xét đoán nghề nghiệp cao nên khó có thể ấn
định con số cụ thể về tầm cỡ cho khoản mục cốt yếu của đối tượng kiểm toán
nhất là khi có yếu tố tiềm ẩn.
Vũ Thị Huy Kiểm toán 44
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Xét theo sự ảnh hưởng của các khoản mục, nghiệp vụ đối với việc đưa ra
ý kiến đánh giá của kiểm toán viên, có hai mức độ khác nhau về quy mô của
khoản mục, nghiệp vụ tác động đến việc xác định tính trọng yếu:
Một là, Một khoản mục, nghiệp vụ sai phạm với quy mô nhỏ không ảnh
hưởng đến việc ra quyết định của người sử dụng thông tin trên báo cáo tài
chính thì được coi là không trọng yếu.
Hai là, Một khoản mục, nghiệp vụ sai phạm với quy mô lớn, ảnh hưởng
đến việc ra quyết định của người sử dụng thông tin trên báo cáo tái chính thì
được coi là trọng yếu.
Kiểm toán viên khi xem xét vấn đề quy mô của đối tượng kiểm toán
thường quan tâm tới quy mô tương đối hơn quy mô tuyệt đối. Quy mô tương
đối là mối quan hệ tương quan giữa đối tượng cần đánh giá với một số gốc.
Số gốc thường khác nhau trong từng hoàn cảnh cụ thể. Nếu sử dụng báo cáo
kết quả kinh doanh, số gốc thường được dùng là thu nhập trước thuế. Nếu sử
dụng bảng cân đối kế toán, số gốc có thể là tổng tài sản, tài sản lưu động hoặc
tổng các khoản phải thu, phải trả…Trong số các chỉ tiêu được sử dụng làm số
gốc, chỉ tiêu thu nhập trước thuế là chỉ tiêu quan trọng nhất vì nó là khoản
mục thông tin then chốt với người sử dụng báo cáo tài chính trong việc ra
quyết định của mình.
Bên cạnh việc xem xét quy mô tương đối, kiểm toán viên cũng sử dụng
quy mô tuyệt đối để xác định tính trọng yếu. Quy mô tuyệt đối là số thể hiện
mức độ quan trọng của khoản mục, nghiệp vụ mà không cần nhắc thêm bất kỳ
một yếu tố nào khác. Khi kiểm toán viên cho rằng con số 1.000.000USD là
lớn thì nó luôn là trọng yếu mà không cần xem xét một yếu tố nào khác. Tuy
nhiên, quy mô tuyệt đối không phải là số cố định đối tất cả các khoản mục,
nghiệp vụ, các khách hàng kiểm toán. Quy mô 1.000.000USD có thể coi là
trọng yếu đối với các doanh nghiệp Việt Nam nhưng không thể coi là chắc
Vũ Thị Huy Kiểm toán 44
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
chắn trọng yếu đối với một công ty như Microsoft của Mỹ. Vì vậy quy mô
tuyệt đối không phải là một cơ sở chắc chắn để đánh giá tính trọng yếu.
Khi xem xét về quy mô của tính trọng yếu, kiểm toán viên cần phải chú
ý không chỉ quy mô tuyệt đối hay tương đối mà còn phải cân nhắc cả sự ảnh
hưởng luỹ kế của khoản mục, nghiệp vụ đang được kiểm toán. Chẳng hạn, có
nhiều sai phạm khi xem xét một cách cô lập thì không đủ để coi là trọng yếu
vì có quy mô nhỏ. Song nếu kiểm toán viên cộng dồn tất cả các sai phạm sẽ
phát hiện thấy sự liên quan và tính hệ thống của sai phạm và khi đó phát hiện
tính trọng yếu của chúng.
Khi xác định tính trọng yếu trên phương diện quy mô của khoản mục,
nghiệp vụ, để đạt được hiệu quả cao nhất kiểm toán viên cần quán triệt các
nguyên tắc cơ bản sau:
Một là, Quy mô trọng yếu phải được xác định tuỳ thuộc đối tượng cụ thể
(các báo cáo tài chính, tài liệu kế toán hay thực trạng tài chính), khách thể
kiểm toán (khách hàng trong lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp, thương mại
hay sự nghiệp) và kiểm toán viên cần có sự hiểu biết về tài chính, kế toán,
lĩnh vực hoạt động của khách thể kiểm toán.
Hai là, Quy mô của khoản mục, nghiệp vụ không chỉ xét về quy mô tuyệt
đối mà phải đặt trong mối quan hệ tương đối với toàn bộ đối tượng kiểm toán.
Ba là, Quy mô trọng yếu phụ thuộc vào từng mục tiêu cụ thể của cuộc
kiểm toán. Cùng một quy mô, một số tiền có thể trọng yếu đối với mục tiêu
kiểm toán này nhưng không trọng yếu đối với mục tiêu kiểm toán khác.
Chẳng hạn, đối với mục tiêu quyền và nghĩa vụ, kiểm toán viên luôn xác định
một sự sai phạm không quá lớn của khách hàng trong việc kê khai và nộp
thuế cho Nhà nước là trọng yếu.
Thứ hai, Tính trọng yếu biểu hiện qua bản chất của khoản mục, nghiệp vụ:
Xác định tính trọng yếu trên phương diện quy mô của khoản mục,
nghiệp vụ là cần thiết nhưng chưa đủ, kiểm toán viên phải xem xét trên cả
Vũ Thị Huy Kiểm toán 44
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
phương diện bản chất của khoản mục, nghiệp vụ đó. Theo Nguyên tắc Kiểm
toán Quốc tế Số 25, Mục 07 quy định: “Kiểm toán viên xem lại cả về mặt định
tính và định lượng những sai sót mà mình quan tâm. Vì xét về định tính, các
sai phạm có thể làm nảy sinh các vấn đề liên quan khác. Kiểm toán viên cần
tỉnh táo đề phòng các sai phạm dù nhỏ nhưng có tính dây chuyền, ảnh hưởng
nghiêm trọng đến báo cáo tài chính. Ví dụ một khoản thanh toán không hợp
pháp của một khoản mục tương đối quan trọng có thể coi là một sai lầm
nghiêm trọng nếu sai phạm này có tính dây chuyền dẫn đến các sai phạm về công
nợ, lỗ, tài sản và doanh thu. Một ví dụ khác về sai phạm mang tính định tính: sự
mô tả không đúng đắn, không xác đáng về chế độ kế toán có thể dẫn đến việc
những người sử dụng thông tin tài chính hiểu sai về bản chất của vấn đề”
(9, 247)
.
Như vậy, việc xác định tính trọng yếu chỉ mang lại hiệu quả khi kiểm
toán viên căn cứ vào đặc điểm, đặc thù của doanh nghiệp, bản chất của các
khoản mục nghiệp vụ. Khái niệm trọng yếu bản thân nó đã gắn với tính hệ
trọng của vấn đề xem xét. Đánh giá tính trọng yếu trong mối quan hệ với bản
chất của các khoản mục, nghiệp vụ thường xảy ra hai trường hợp:
Một là, Các nghiệp vụ thường xảy ra các sai sót hệ trọng, bao gồm:
- Các khoản mục, nghiệp vụ có sai sót ở quy mô lớn hoặc có chênh lệch
lớn so với kỳ trước hoặc với các căn cứ đối chiếu (dự toán, kế hoạch ). Để
phát hiện ra sai sót này đòi hỏi kết quả kỳ trước hoặc các căn cứ đối chiếu
phải được xác định một cách hợp lý, chuẩn xác.
- Các nghiệp vụ vi phạm nguyên tắc kế toán và pháp lý nói chung. Tuy
nhiên sự vi phạm này phải xuất phát từ nguyên nhân không do lỗi cố ý. Nếu
vi phạm bắt nguồn từ việc cố ý thì hành động đó phải bị coi là gian lận chứ
không phải sai sót và mức độ ảnh hưởng của nó sẽ nghiêm trọng hơn.
- Các khoản mục, nghiệp vụ có sai sót lặp lại nhiều lần. Ví dụ, khoản
mục doanh thu là khoản mục thường hay xảy ra sai sót về thời điểm ghi nhận
doanh thu. Đặc biệt nếu doanh thu của hàng xuất khẩu thì việc sai sót trong
Vũ Thị Huy Kiểm toán 44
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
thời điểm ghi nhận doanh thu sẽ tạo ra các khoản chênh lệch khi quy đổi ra
VNĐ vì tỷ giá ngoại tệ luôn thay đổi. Quy mô của các sai sót này có thể
không đủ lớn nhưng do lặp lại nhiều lần nên ảnh hưởng cộng dồn hay luỹ kế
của nó phải được đánh giá là nghiêm trọng.
- Các khoản mục, nghiệp vụ có ảnh hưởng trọng yếu đến kỳ sau. Khoản
mục chi phí trả trước dài hạn là một ví dụ điển hình cho trường hợp này. Nếu
có sai sót trong việc ghi nhận giá trị của khoản mục này thì quá trình phân bổ
chi phí không những chỉ ảnh hưởng đến kỳ kinh doanh hiện tại mà còn ảnh
hưởng đến các kỳ kinh doanh tiếp theo.
- Các khoản mục, nghiệp vụ là đầu mối hoặc hậu quả liên quan đến nhiều
khoản mục, nghiệp vụ khác. Khi có sai sót xảy ra ở các khoản mục đầu mối
này sẽ gây ra phản ứng dây chuyền dẫn đến sai sót ở các khoản mục khác, vì
vậy sai sót đó phải bị đánh giá là trọng yếu. Chẳng hạn nếu có sai sót ở khoản
mục chi phí sản xuất sẽ dẫn đến sai sót ở khoản mục hàng tồn kho, khoản mục
giá vốn hàng bán và từ đó dẫn đến sai sót ở khoản mục lợi nhuận. Mặt khác,
các sai sót ở khoản mục lợi nhuận thường bị đánh giá là nghiêm trọng vì nó
liên quan trực tiếp đến nghĩa vụ của doanh nghiệp đối với Nhà nước. Do đó
sai sót ở khoản mục chi phí sản xuất được xác định là trọng yếu.
Hai là, Các khoản mục, nghiệp vụ chứa đựng khả năng gian lận cao:
- Các nghiệp vụ đấu thầu và giao thầu, giao dịch không hợp pháp. Các
giao dịch không hợp pháp luôn bị pháp luật ngăn cấm. Tuy nhiên trong một
số trường hợp, các giao dịch này vẫn thực hiện do sự cố ý gian lận của các
chủ thể. Khi đó gian lận này là đặc biệt nghiêm trọng. Trong thực tế các
nghiệp vụ đấu thầu và giao thầu thường xuyên có gian lận vì có sự móc ngoặc
giữa chủ đầu tư hoặc cơ quan chỉ định thầu với bên nhận thầu nhằm thu lợi
bất chính, do đó sự gian lận này phải luôn được chú ý xem xét trong quá trình
kiểm toán, đặc biệt là kiểm toán công trình xây dựng cơ bản.
Vũ Thị Huy Kiểm toán 44
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
- Các nghiệp vụ về thanh lý tài sản. Nghiệp vụ này sẽ xảy ra gian lận khi
công ty có chính sách bán ưu đãi tài sản thanh lý cho một số đối tượng,
thường là các nhân viên trong công ty. Khi đó thường xảy ra sự gian lận về
tình trạng và giá trị còn lại của máy móc, thiết bị…nhằm định giá thanh lý
thấp, công ty bị thiệt hại còn các đối tượng được mua ưu đãi sẽ hưởng lợi.
- Các nghiệp vụ về tiền mặt. Tiền mặt là loại tài sản có tính thanh khoản cao
nhất nhưng cũng dễ dàng xảy ra gian lận nhất. Quá trình gian lận đối với các
nghiệp vụ tiền mặt phát sinh từ khâu lập chứng từ cho đến khâu thanh toán vì vậy
quản lý tốt tiền mặt là một vấn đề khó khăn. Ngay cả khi kiểm toán viên chứng
kiến quá trình kiểm kê quỹ khi tiến hành kiểm toán, kiểm tra được số lượng và giá
trị của tiền mặt tại quỹ nhưng kiểm toán viên cũng không thể kiểm soát được tính
thời gian của tiền trước khi kiểm kê. Hay nói cách khác, kiểm toán viên không thể
chắc chắn hoàn toàn trước khi kiểm kê, tiền mặt tại quỹ luôn khớp đúng với sổ
quỹ mà không bị chi dùng vào các mục đích khác.
- Các nghiệp vụ mua bán và thanh toán. Có thể khẳng định đây là loại
nghiệp vụ thường xuyên phát sinh các gian lận nghiêm trọng như mua bán
khống nhưng vẫn hợp lý hoá chứng từ, thỏa thuận ngầm giữa bộ phận thu
mua với nhà cung cấp để hưởng lợi cá nhân…
- Các nghiệp vụ bất thường. Mặc dù không phát sinh thường xuyên
nhưng khả năng gian lận tiềm ẩn của các nghiệp vụ này luôn ở mức cao.
Nghiệp vụ thanh lý tài sản cũng là một dạng của các nghiệp vụ bất thường. Vì
vậy, kiểm toán viên luôn phải chú ý tác động của các nghiệp vụ này đến báo
cáo tài chính khi nó phát sinh.
- Các nghiệp vụ phân chia quyền lợi. Khoản mục lợi nhuận luôn chứa
đựng khả năng gian lận cao và bất kỳ sai sót đối với khoản mục này cũng
được xác định là nghiêm trọng. Trong quá trình phân chia lợi nhuận, các cá
nhân luôn có xu hướng thu lợi nhiều hơn cho mình vì vậy kiểm toán viên cần
căn cứ vào cơ sở phân chia lợi nhuận để tìm ra các gian lận.
Vũ Thị Huy Kiểm toán 44
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
- Các nghiệp vụ cố ý bỏ ngoài sổ sách. Bản thân hành vi cố ý bỏ ngoài sổ
sách đã là biểu hiện của sự gian lận nghiêm trọng. Chẳng hạn khi một nghiệp
vụ bán hàng cố ý không được ghi nhận thì khả năng doanh thu của lượng
hàng bán đó đã bị tham ô rất dễ xảy ra.
- Các nghiệp vụ xảy ra vào cuối kỳ kế toán hoặc thuộc loại nghiệp vụ
mới phát sinh. Thời gian chuyển giao giữa niên độ kế toán mới và niên độ kế
toán cũ thường xảy ra gian lận vì kế toán thường thực hiện các bút toán điều
chỉnh cho phù hợp với kế hoạch mà công ty đã đặt ra. Khi đó sẽ xảy ra trường
hợp các nghiệp vụ phát sinh cuối năm nay nhưng được ghi nhận vào năm sau
và các nghiệp vụ phát sinh đầu năm sau nhưng cố ý ghi nhận vào cuối năm
nay. Riêng đối với các nghiệp vụ mới phát sinh, kiểm toán viên phải luôn có
thái độ nghi ngờ thích đáng về tính thời gian, tính hiện hữu và giá trị của
nghiệp vụ này.
- Các khoản mục, chứng từ có sửa chữa. Trong kế toán, việc sửa chữa
các sai sót phải tuân theo những quy tắc nhất định. Mặc dù vậy, kiểm toán
viên vẫn phải luôn nghi ngờ thích đáng về lý do của hành vi sửa chữa. Bởi vì,
chứng từ khoản mục có sửa chữa rất có thể là hành vi gian lận của kế toán
hoặc sự chỉ đạo từ phía ban giám đốc cho kế toán mà không có những căn cứ
hợp lý.
Như vậy để đánh giá toàn diện tính trọng yếu, kiểm toán viên phải xem
xét trên cả mặt định tính và định lượng. Nguyên tắc Kiểm toán Quốc tế Số 25,
Mục 07 quy định: “Kiểm toán viên xem lại cả về mặt định tính lẫn định lượng
những sai sót mà mình quan tâm. Vì xét về định tính, các sai phạm có thể nảy
sinh các vấn đề liên quan khác. Kiểm toán viên cần tỉnh táo đề phòng các sai
phạm dù nhỏ nhưng có tính dây chuyền, ảnh hưởng nghiêm trọng đến báo cáo
tài chính”
(9, 247)
. Tất cả khoản mục, nghiệp vụ mang tính bản chất của đối
tượng kiểm toán đều liên quan trực tiếp đến quá trình nhận thức đúng đắn và
đầy đủ về đối tượng kiểm toán, từ đó đưa ra ý kiến kiểm toán. Do đó, về
Vũ Thị Huy Kiểm toán 44
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
nguyên tắc, kiểm toán viên không được bỏ sót khoản mục, nghiệp vụ nào.
Tuy nhiên, kiểm toán viên vẫn có xu hướng tập trung nhiều hơn vào các
khoản mục có sai sót hệ trọng hay khoản mục chứa đựng khả năng gian lận
cao. Bản thân khái niệm trọng yếu tự nó đã đặt ra yêu cầu xác định nội dung
kiểm toán với nguyên tắc không được bỏ sót các khoản mục có quy mô lớn và
có tính hệ trọng. Nếu vi phạm nguyên tắc này thì rủi ro kiểm toán sẽ xảy ra nhiều
hơn và không thể kiểm soát.
1.1.2. Rủi ro kiểm toán trong kiểm toán tài chính
Trong kiểm toán nói chung và kiểm toán tài chính nói riêng, rủi ro kiểm
toán là khái niệm quen thuộc gắn liền với trách nhiệm của kiểm toán viên. Vì
vậy, việc hiểu rõ và quản lý tốt rủi ro kiểm toán là yếu tố quyết định trong việc
hạn chế rủi ro kinh doanh của các công ty kiểm toán.
Từ điển Thuật ngữ Kiểm toán – Kế toán Anh – Việt ghi: “Rủi ro kiểm
toán là một phạm trù dùng để chỉ trường hợp kiểm toán viên đã đưa ra một ý
kiến kiểm toán không phù hợp với báo cáo tài chính. Báo cáo tài chính đã
kiểm toán vẫn chứa đựng những sai lầm nghiêm trọng. Rủi ro kiểm toán có ba
thành phần: rủi ro tiềm tàng, rủi ro kiểm soát và rủi ro phát hiện”
(4, 41)
.
Từ điển Kinh tế - Kinh doanh Anh – Việt ghi: “Rủi ro kiểm toán là một
phạm trù dùng để chỉ trường hợp kiểm toán viên không phát hiện được sai sót
trọng yếu và do đó đưa ra ý kiến kiểm toán không xác đáng”
(13, 79)
.
Như vậy rủi ro kiểm toán có mối quan hệ chặt chẽ với trọng yếu. Rủi ro
kiểm toán chỉ xảy ra khi báo cáo tài chính đã kiểm toán chứa đựng các sai sót
trọng yếu. Nếu báo cáo tài chính đã kiểm toán chứa đựng các sai sót không
trọng yếu, rủi ro kiểm toán sẽ không xảy ra. Do đó, việc xác định trọng yếu và
rủi ro kiểm toán có ý nghĩa quan trọng.
Nguyên tắc Kiểm toán Quốc tế Số 25, Mục 09 ghi: “Rủi ro kiểm toán là
những rủi ro mà kiểm toán viên có thể mắc phải khi đưa ra những nhận xét không
xác đáng về các thông tin tài chính và đó là các sai phạm nghiêm trọng. Ví dụ, kiểm
Vũ Thị Huy Kiểm toán 44
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
toán viên có thể đưa ra ý kiến chấp nhận toàn bộ về một bản báo cáo tài chính mà
không biết rằng các báo cáo này có những sai phạm nghiêm trọng”
(9, 248)
. Như vậy,
Nguyên tắc này đã chỉ rõ bản chất và nguyên nhân của rủi ro kiểm toán.
Phù hợp với Nguyên tắc Kiểm toán Quốc tế Số 25, Chuẩn mực Kiểm
toán Quốc tế Số 400 và Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam Số 400 – “Đánh giá
rủi ro và kiểm soát nội bộ” đã đưa ra định nghĩa về rủi ro kiểm toán như sau:
“Rủi ro kiểm toán là rủi ro do kiểm toán viên và công ty kiểm toán đưa ra ý
kiến nhận xét không thích hợp khi báo cáo tài chính đã được kiểm toán còn có
những sai sót trọng yếu. Rủi ro kiểm toán bao gồm 3 bộ phận: rủi ro tiềm
tàng, rủi ro kiểm soát và rủi ro phát hiện”
(6, 78)
. Định nghĩa này không những
chỉ ra bản chất mà còn chỉ ra các bộ phận của rủi ro kiểm toán.
Như vậy, rủi ro kiểm toán là khả năng mà kiểm toán viên đưa ra ý kiến
không xác đáng về đối tượng được kiểm toán. Trong thực tế, rủi ro kiểm toán
luôn tồn tại ngay cả khi kiểm toán viên đã lập kế hoạch kiểm toán rất chu đáo.
Kiểm toán viên chỉ có thể kỳ vọng một mức độ rủi ro chấp nhận được để đảm
bảo hợp lý các sai sót trọng yếu không xảy ra. Vì vậy khái niệm rủi ro kiểm
toán mong muốn thường được sử dụng nhiều hơn khái niệm rủi ro kiểm toán.
Xác định rủi ro kiểm toán mong muốn là việc cần thiết và quan trọng của
mọi cuộc kiểm toán. Việc xác định rủi ro kiểm toán mong muốn đồng thời là
cơ sở để kiểm toán viên xác định mức trọng yếu có thể chấp nhận được. Rủi
ro kiểm toán được xác định trước khi lập kế hoạch kiểm toán và trước khi
thực hiện kiểm toán nhằm các mục đích:
- Tìm hiểu và đánh giá thông tin sơ bộ về khách hàng để có chiến lược
chung đối với khách hàng và việc thực hiện hợp đồng kiểm toán.
- Phục vụ trực tiếp cho việc lập kế hoạch kiểm toán cụ thể.
- Hỗ trợ và kết hợp với việc đánh giá tính trọng yếu.
Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam Số 400 – “Đánh giá rủi ro và kiểm soát
nội bộ”, Mục 08 có quy định: “Rủi ro kiểm toán được xác định trước khi lập
Vũ Thị Huy Kiểm toán 44

Xem chi tiết: v6127


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét