Thứ Tư, 26 tháng 2, 2014

Bàn về các phương pháp tính giá thành sản phẩm sản xuất trong các loại hình doanh nghiệp hiện nay

5
Nếu căn cứ vào cách phân loại này thì giá thành sản phẩm được chia
thành hai loại : giá thành sản xuất và giá thành tồn bộ .
Giá thành sản xuất là chỉ tiêu phản ánh tất cả các chi phí phát sinh liên
quan đến việc sản xuất , chế tạo sản phẩm , gắn liền với qui trình cơng nghệ sản
xuất sản phẩm . Giá thành sản xuất bao gồm chi phí ngun vật liệu trực tiếp ,
chi phí nhân cơng trực tiếp và chi phí sản xuất chung. Giá thành sản xuất được
sử dụng ghi sổ cho sản phẩm đã hồn thành nhập kho hay đã giao cho khách
hàng. Giá thành sản xuất còn là căn cứ để xác định giá vốn hàng bán và lãi gộp
ở các doanh nghiệp sản xuất .
Giá thành tồn bộ là chỉ tiêu phản ánh tồn bộ các khoản chi phí phát
sinh liên quan đến việc sản xuất , tiêu thụ sản phẩm . Giá thành tồn bộ bao
gồm giá thành sản xuất , chi phí quản lý doanh nghiệp và chi phí bán hàng .
Giá thành tồn bộ là cơ sở tính tốn lãi trước thuế của doanh nghiệp .
Như vậy , cách phân loại này giúp nhà quản lý biết được kết quả kinh
doanh lãi lỗ của từng mặt hàng , từng loại sản phẩm mà doanh nghiệp kinh
doanh . Tuy nhiên , do cách phân loại này phụ thuộc vào tiêu thức phân bổ chi
phí quản lý doanh nghiệp và chi phí bán hàng cho từng mặt hàng , từng loại dịch
vụ nên cách phân loại này chỉ mang ý nghĩa học thuật , nghiên cứu .
1.2.Sự cần thiết của kế tốn chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
trong doanh nghiệp sản xuất hiện nay
Doanh nghiệp sản xuất là một chủ thể độc lập , chủ động trong việc lựa
chọn phương án sản xuất , tự hạch tốn kinh doanh , bồi hồn chi phí , bảo tồn
vốn kinh doanh và có lãi . Muốn vậy , doanh nghiệp khơng chỉ phải tổ chức
hạch tốn chi phí sản xuất đầy đủ, hợp lý mà còn tính tốn chính xác giá thành
sản phẩm .
Giá thành sản phẩm là một chỉ tiêu tổng hợp phản ánh chất lượng của
hoạt động sản xuất kinh doanh . Thơng qua những thơng tin về giá thành thực
tế của từng loại sản phẩm mà doanh nghiệp có thể phân tích , đánh giá tình hình
thực hiện các định mức , các dự tốn chi phí cũng như tình hình sử dụng tài
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
6
sản, vật tư , lao động , tiền vốn của doanh nghiệp và hiệu quả của các dự án ,
các giải pháp kinh tế –xã hội – kỹ thuật .
Hơn nữa , Ban lãnh đạo còn dựa vào chỉ tiêu này để xác định kết quả kinh
doanh . Có những thơng tin về giá thành sản xuất và giá bán , doanh nghiệp sẽ
đánh giá mức độ bù đắp chi phí và hiệu quả sử dụng chi phí sản xuất . Giá thành
sản phẩm cũng là căn cứ giúp doanh nghiệp tính tốn giá vốn hàng bán , lãi gộp
, từ đó xác định lãi trước thuế thu nhập doanh nghiệp .
Ngồi ra , giá trị sản phẩm dở dang và thành phẩm còn là những chỉ tiêu
quan trọng của bảng cân đối kế tốn, phản ánh tình hình tài sản của doanh
nghiệp. Tính giá thành sản phẩm một cách đúng đắn và trung thực sẽ tạo niềm
tin cho người quan tâm và đảm bảo cho doanh nghiệp thực hiện đầy đủ trách
nhiệm với nhà nước .
Để tồn tại và phát triển trong cơ chế thị trường , doanh nghiệp phải ln
tìm mọi cách nâng cao chất lượng sản phẩm , cải tiến mẫu mã phù hợp với thị
hiếu người tiêu dùng , đồng thời với việc hạ giá thành sản phẩm . Đây cũng là
trách nhiệm chính của kế tốn giá thành . Bằng việc cung cấp các thơng tin liên
quan đến giá thành định mức , giá thành sản phẩm thực tế , kế tốn giá thành
có thể hỗ trợ cơng tác hạ giá thành sản phẩm . Đơn giá tiêu chuẩn , ngân sách
linh hoạt và kết hợp kế tốn phần hành khác chính là cơng cụ của kế tốn giá
thành .
Bên cạnh chức năng hỗ trợ hạ giá thành sản phẩm , kế tốn giá thành còn
có chức năng lập giá , có nghĩa là căn cứ vào giá thành để xác định giá bán , tỉ
lệ chiết khấu bán hàng . . Một trong những căn cứ để doanh nghiệp tính tốn tỉ
lệ chiết khấu phù hợp với khách hàng là giá thành sản phẩm trong mối quan hệ
với giá bán . Như vậy , kế tốn giá thành cũng góp một phần quan trọng trong
việc ra quyết định của nhà quản trị .
Trước khi ra quyết định quan trọng , ký kết một hợp đồng kinh tế , các dự
án , các giải pháp kinh tế xã hội thì yếu tố đầu tiên mà doanh nghiệp phải tính
đến là chi phí của cơng trình dự án đó . Từ đó, doanh nghiệp đối chiếu với khả
năng sản xuất, tài chính để đưa ra ý kiến chính thức .
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
7
Qua việc tìm hiểu những vai trò của kế tốn giá thành đối với mỗi doanh
nghiệp sản xuất, ta khẳng định kế tốn giá thành là một khâu trọng tâm của kế
tốn . Đây là cơ sở để doanh nghiệp lập một báo cáo trung thực , hợp lý cũng
như cung cấp thơng tin kịp thời chính xác cho nhà quản trị . Nhưng , một hệ
thống kế tốn khơng bản thân nó mang lại kết quả đó mà ln cần có sự vận
dụng hợp lý từ phía doanh nghiệp .
2. u cầu quản lý chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm tại các
doanh nghiệp hiện nay
2.1.u cầu và ngun tắc quản lý
Để thực hiện tốt chức năng kiểm tra và cung cấp thồng tin , tính giá trong
doanh nghiệp nói chung cũng như kế tốn giá thành nói riêng phải tn thủ
u cầu “chính xác ’’và u cầu “nhất qn ’’ . u cầu “ chính xác ’’ đòi hỏi
việc tính giá phải bảo đảm trung thực, đúng , phù hợp , với giá cả đương thời và
phù hợp với số lượng , chất lượng sản phẩm . Nếu việc tính giá khơng chính xác
, thơng tin do tính giá cung cấp sẽ mất tính xác thực , khơng đáng tin cậy, ảnh
hưởng đến việc đề ra quyết định kinh doanh . Cũng để thực hiện tốt chức năng
của mình , kế tốn giá thành phải đảm bảo u cầu “thống nhất ’’ .u cầu này
có nghĩa là việc tính giá phải thồng nhất về phương pháp tính tốn giữa các kỳ
khác nhau . Có như vậy , số liệu tính tốn ra mới có thể so sánh giữa các thời kỳ
và so sánh với doanh nghiệp khác được .
Ngồi việc tn thủ các u cầu trên kế tốn còn phải qn triệt các
ngun tắc như “ngun tắc xác định đối tượng và phương pháp tính giá phù
hợp’’, “ngun tắc phân loại chi phí một cách khoa học ’’, “ngun tắc phải nắm
được các cách phân loại giá thành khác nhau phục vụ cho cơng tác quản lý và
hạch tốn ’’ .

Ngun tắc xác địmh đối tượng và phương pháp tính giá phù hợp
Đòi hỏi đầu tiên của cơng việc quản lý là phải xác định đúng đối tượng
tính giá , phù hợp với đặc điểm của cơng nghệ sản xuất và q trình kinh doanh
của doanh nghiệp . Xác định đối tượng tính giá thành chính là việc xác định
sản phẩm , bán thành phẩm cơng việc , lao vụ nhất định cần phải tính giá .
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
8
Bên cạnh đó thì doanh nghiệp phải lựa chọn phương pháp tính giá thành
sản phẩm phù hợp đặc điểm của q trình sản xuất , đặc điểm ngun vật liệu ,
đặc điểm của sản phẩm mà doanh nghiệp sản xuất . Phương pháp tính giá thành
là một phương pháp hay một hệ thống phương pháp được sử dụng để tính tổng
giá thành và giá thành một đơn vị sản phẩm .

Ngun tắc xác định , phân loại chi phí một cách hợp lý : Từ nội dung
giá thành có thê thấy chi phí là một bộ phận quan trọng cấu thành nên giá thành
sản phẩm . Phân loại , phân bổ chi phí một cách khoa học nhằm đảm bảo các chỉ
tiêu tính giá phản ánh được cơ cấu , phát sinh thực của chi phí cũng như kiểm
sốt tìm ra ngun nhân và phân tích sự biến động của giá thành sản phẩm. Để
phục vụ cho tính giá thành sản phẩm , chi phí sản xuất thường được chia thành
ba loại là chi phí sản xuất , chi phí bán hàng , chi phí quản lý doanh nghiệp .
Theo thơng tư số 63 /1999 – TT/BTC ngày 7

tháng 6 năm 1999 trong
trường hợp đặc biệt , trong năm khơng có sản phẩm tiêu thụ hoặc doanh thu tiêu
thụ khơng tương xứng với chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp thì
chi phí bán hàng và chi phí quản lý phát sinh trong năm được phân bổ cho sản
phẩm dở dang và tồn kho , căn cứ vào chi phí sản xuất dở dang và giá thành
sản xuất sản phẩm tồn .

Ngun tắc phải nắm được các cách phân loại giá thành khác nhau
đáp ứng cơng tác quản lý và hạch tốn : Để đáp ứng các u cầu của quản lý ,
hạch tốn , kế hoạch hố giá thành và xây dựng giá cả hàng hố , giá thành
được xem xét nhiều góc độ khác nhau , phạm vi tính tốn khác nhau . Mỗi cách
phân loại đều có tác dụng khác nhau đối với cơng tác quản lý , hạch tốn kế
hoạch . Giá thành sản phẩm có thể phân loại theo phạm vi phát sinh chi phí
hoặc thời điểm và nguồn số liệu tính giá .
Những ngun tắc trên là những ngun tắc tác động trực tiếp tới kế tốn
giá thành . Ngồi ra kế tốn còn phải tn thủ các ngun tắc kế tốn khác .
2.2.Nhiệm vụ kế tốn giá thành

THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
9
Với những u cầu và ngun tắc trên , kế tốn giá thành cần thực hiện
những nhiệm vụ chủ yếu sau :
Căn cứ vào đặc điểm quy trình cơng nghệ , đặc điểm tổ chức sản xuất
sản phẩm của doanh nghiệp để xác định đối tượng và phương pháp tính giá
thành thích hợp .
Vận dụng phương pháp tính giá thành hợp lý để tính tổng giá thành và
giá thành đơn vị của các đối tượng tính giá thành theo đúng các khoản mục quy
định và đúng kỳ tính giá thành xác định .
Cung cấp kịp thời những số liệu , thơng tin tổng hợp về các khoản mục
chi phí và giá thành thực tế cho nhà quản trị doanh nghiệp .
Định kỳ lập báo cáo về giá thành sản phẩm và tham gia phân tích tình
hình thực hiện kế hoạch , đề xuất biện pháp để tiếc kiệm chi phí và hạ thấp giá
thành sản phẩm .
II. CHI PHÍ SẢN XUẤT LÀ CƠ SỞ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN
PHẨM
1. Chi phí sản xuất là cơ sở tính giá thành sản phẩm
1.1.Chí phí sản xuất
Thành phẩm là kết quả của q trình hoạt động sản xuất . Muốn tiến hành
các hoạt động sản xuất kinh doanh , doanh nghiệp cần có ba yếu tố cơ bản là
tư liệu sản xuất , đối tượng sản xuất và lao động của con người . Đối với doanh
nghiệp sản xuất thì đối tượng sản xuất chính là các ngun liệu, nhiên liệu , vật
tư …. , tư liệu sản xuất là các nhà xưởng , máy móc , thiết bị và các tài sản cố
định khác . Đồng thời với q trình sử dụng các yếu tố cơ bản trong sản xuất
cũng là q trình doanh nghiệp chi ra những chi phí sản xuất tương ứng . Tương
ứng với việc sử dụng ngun vật liệu là chi phí ngun vật liệu trực tiếp , tương
ứng với việc sử dụng tài sản cố định là chi phí khấu hao tài sản cố định và tương
ứng với việc sử dụng lao động là chi phí về tiền lương, tiền trích bảo hiểm xã
hội , bảo hiểm y tế của cơng nhân sản xuất, … . Do đó muốn tính giá thành sản
phẩm hồn thành , kế tốn phải tính được tổng chi phí đã chi ra để sản xuất và
tiêu thụ số sản phẩm ấy . Vậy chi phí là căn cứ để tính giá thành sản phẩm .
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
10
Theo chế độ kể tốn mới ban hành ngày 01-01-1996 , chi phí sản xuất là
tồn bộ lao phí về lao động sống , lao động vật hố mà doanh nghiệp chi ta để
tiến hành các hoạt động sản xuất trong một thời kỳ nhất định . Để phục vụ cho
việc tính giá thành sản phẩm , chi phí thường được chia thành ba loại là chi phí
sản xuất , chi phí quản lý , chi phí bán hàng .
Trong đó , chi phí bán hàng là chi phí liên quan đến việc tiêu thụ sản
phẩm như chi phí nhân cơng bán hàng , chi phí dụng cụ bán hàng … . Chi phí
quản lý doanh nghiệp bao gồm tồn bộ các khoản chi phí mà doanh nghiệp đã
bỏ ra có liên quan đến việc tổ chức , điều hành , quản lý hoạt động sản xuất –
kinh doanh .
Những chi phí này được dùng để tính giá thành tồn bộ sản phẩm .
Và phần quan trọng nhất trong tổng chi phí là chi phí sản xuất . Chi phí
sản xuất là những chi phí phát sinh liên quan trực tiếp đến việc sản xuất , chế
tạo sản phẩm, thực hiện lao vụ, dịch vụ trong phạm vi phân xưởng , bộ phận sản
xuất . Thuộc chi phí sản xuất bao gồm chi phí ngun vật liệu trự c tiếp , chi phí
nhân cơng trực tiếp và chi phí sản xuất chung . Chi phí ngun vât liệu trực
tiếp là chi phí về ngun vật liệu chính , phụ , nhiên liệu mà đơn vị bỏ ra có
liên quan trực tiếp đến việc sản xuất , chế tạo sản phẩm hay thực hiện các lao vụ
, dịch vụ . Chi phí sản xuất được hạch tốn vào tài khoản “ Chi phí ngun vật
liệu trực tiếp” . Chi phí nhân cơng trực tiếp là số thù lao phải trả cho số lao
động trực tiếp sản xuất chế tạo sản phẩm hay thực hiện lao vụ , dịch vụ cùng
với các khoản trích cho các quỹ Bảo hiểm xã hội , kinh phí cơng đồn , bảo
hiểm y tế theo chế độ quy định . Chi phí nhân cơng sản xuất được hạch tốn
vào tài khoản “Chi phí nhân cơng trực tiếp ’’. Chi phí sản xuất chung là tồn bộ
các chi phí phục vụ và quản lý sản xuất gắn liền với từng phân xưởng sản xuất
, bộ phận sản xuất ( trừ chi phí vật liệu và nhân cơng sản xuất ) . Chi phí sản
xuất chung là loại chi phí tổng hợp bao gồm các khoản chi phí nhân viên quản
lý phân xưởng , chi phí vật liệu phân xưởng , chi phí khấu hao tài sản cố định
dùng ở phân xưởng , chi phí dịch vụ mua ngồi , các khoản chi phí khác bằng
tiền ở phân xưởng . Ngồi ra , chi phí sản xuất chung còn bao gồm các khoản
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
11
chi phí trả trước , chi phí phải trả được phân bổ trong kỳ và chi phí sản phẩm
hỏng và thiệt hại ngừng sản xuất theo kế hoạch mà doanh nghiệp chấp nhận
tính vào giá thành sản phẩm . Chí phí sản xuất chung được tập hợp theo từng
phân xưởng sản phẩm hoặc bộ phận sản xuất kinh doanh và hạch tốn vào tài
khoản “ Chí phí sản xuất chung” . Vào cuối mỗi kỳ quyết tốn , kế tốn tiến
hành phân bổ chi phí vào từng đối tượng tính giá thành sản phẩm . Tất cả các
khoản chi phí trên, cuối kỳ , được kết chuyển và tập hợp vào tài khoản “chi phí
sản xuất kinh doanh dở dang ( Theo phương pháp kê khai thường xun ) , vào
tài khoản “ Giá thành sản phẩm “ ( Theo phương pháp kiểm kê định kỳ ) để tính
giá thành sản phẩm .
1.2.Chí phí sản xuất dở dang
Do các doanh nghiệp sản xuất thường có q trình cơng nghệ sản xuất
liên tục và xen kẽ lẫn nhau , nên ở thời điểm cuối tháng , cuối q , cuối năm
thường có khối lượng sản phẩm dở dang . Sản phẩm dở dang là các chi tiết hoặc
bộ phận sản xuất đang gia cơng chế biến trên dây chuyền sản xuất hoặc tại đơn
vị sản xuất, các bán thành phẩm nhập kho , bán thành phẩm và những thành
phẩm , sản phẩm cơng việc đã kết thúc giai đoạn sản xuất cuối cùng nhưng
chưa làm thủ tục nhập kho thành phẩm .
Khi có sản phẩm dở dang thì chi phí sản xuất đã tập hợp trong kỳ khơng
chỉ liên quan tới sản phẩm , cơng việc đã hồn thành mà còn liên quan đến sản
phẩm , cơng việc dở dang . Để tính giá thành đúng và đầy đủ kế tốn phải đánh
giá chính xác sản phẩm dở dang , có nghĩa là tính tốn và xác định đúng phần
chi phí sản xuất mà sản phẩm dở dang cuối kỳ phải chịu .Tuy nhiên , đây là
một cơng việc rất phức tạp đòi hỏi kế tốn phải tuỳ thuộc vào đặc điểm , tình
hình cụ thể về tổ chức sản xuất và qui trình cơng nghệ , tính chất cấu thành của
chi phí sản xuất và u cầu trình độ quản lý của từng doanh nghiệp mà xác định
phương pháp xác định sản phẩm dở dang
Doanh nghiệp có thể đánh giá sản phẩm dở dang phương pháp ước tính
sản lượng tương đương Theo phương pháp này căn cứ vào số lượng sản phẩm
dở dang và mức độ số lượng hồn thành sản phẩm dở dang để qui đổi sản phẩm
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
12
dở dang ra sản phẩm đã hồn thành sau đó xác định giá trị sản phẩm dở dang .
Chi phí sản Chi phí ngun vật liệu chính Chí phí chế biến
phẩm = phân bổ cho + phân bổ
dở dang sản phẩm dở dang cho sản phẩm dở dang

Doanh nghiệp có thể tính theo phương pháp 50 % chế biến (chi phí chế
biến chiêm tỉ trọng thấp trong tổng chi phí ) . Chi phí chế biến là các chi phí phát
sinh ở phân xưởng bộ phận sản xuất trong doanh nghiệp khơng kể chi phí
ngun vật liệu chính và nhan cơng trực tiếp , chi phí sản xuất chung , chi phí
ngun vật liệu phụ .

Chi phí sản Giá trị ngun vật liệu chính 50% chi phí chế biến
phẩm = phân bổ cho + phân bổ
dở dang sản phẩm dở dang cho sản phẩm dở dang

Doanh nghiệp có thể chi phí sản phẩm dở dang bằng chí phí ngun vật
liệu trực tiếp hoặc chi phí ngun vật liệu chính hoặc chi phí trực tiếp còn các
chi phí khác như chi phí chi phí sản xuất chung , chi phí nhân cơng trực tiếp và
các chi phí khác tính vào thành phẩm hồn thành .
Ngồi ra , các doanh nghiệp có thể tính theo phương pháp chi phí định
mức hay chi phí kế hoạch . Theo phương pháp này căn cứ vào số lượng sản
phẩm dở dang và chi phí định mức hay chi phí kế hoạch ở từng giai đoạn chế
biến hay từng bước cơng việc để xác định giá trị sản phẩm dở dang .
Bên cạnh các phương pháp trên , trong thực tế , người ta còn áp dụng các
phương pháp khác để xác định giá trị sản phẩm dở dang như phương pháp thống
kê kinh nghiệm ,phương pháp tính theo chi phí vật liệu chính và vật liệu phụ
trong sản phẩm dở dang … .



THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
13
2. Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
Từ trên , ta thấy giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm có mối
quan hệ chặt chẽ với nhau trong q trình sản xuất tạo ra sản phẩm . Chi phí
sản xuất là biểu hiện bằng tiền của tồn bộ các hao phí về lao động sống , lao
động vật hố mà doanh nghiệp đã bỏ ra có liên quan đến hoạt động sản xuất
kinh doanh trong một thời kỳ nhất định . Còn giá thành sản phẩm là biểu hiện
bằng tiền của tồn bộ lao động sống , lao động vật hố có liên quan đến khối
lượng sản phẩm hồn thành . Chúng giống nhau về chất . Chi phí sản xuất và
giá thành sản phẩm đều bao gồm những hao phí về lao động sống , hao phí vật
hố mà doanh nghiệp đã bỏ ra trong q trình chế biến . Chi phí sản xuất biểu
hiện về mặt hao phí sản xuất , giá thành sản phẩm biểu hiện mặt kết quả của
q trình sản xuất . Chúng là hai mặt thống nhất của một q trình .
Tuy nhiên , do chi phí sản phẩm dở dang nên giá thành sản phẩm và chi
phí sản xuất thường khác nhau về lượng . Tính vào giá thành sản phẩm chỉ có
những chi phí gắn liền với sản phẩm hay khối lượng cơng viêc đã hồn thành
khơng kể chi phí đã chi ở kỳ nào . Do lượng chi phí sản xuất kỳ này chuyển
sang kỳ sau (chi phí sản phẩm dơ dang cuối kỳ ) thường khơng khớp với lượng
chi phí sản xuất đã chi ra trong kỳ trước đó (chi phí sản phẩm dở dang đầu kỳ )
,vì vậy chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ khơng bằng giá thành sản phẩm sản
xuất trong kỳ .
Sơ đồ mối quan hệ giứa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm


CPSX đã chi ra trong
kỳ trước đó


CPSX phát sinh trong kỳ

Tổng giá thành sản phẩm

CPSX kỳ này chuyển
sang kỳ sau

THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
14
CPSX là chi phí sản xuất .
Trên góc độ biểu hiện bằn tiền , chi phí sản xuất cũng khác với giá thành
sản phẩm . Đặc biệt trong các ngành cơng nghiệp , giá thành sản phẩm khơng
bao gồm các chi phí đã chi ra trong kỳ mà trừ chi phí phân bổ dần cho kỳ sau và
cộng thêm các khoản chi phí thực tế chưa phát sinh trong kỳ được tính trước
vào giá thành hoặc cộng thêm chi phí đã chi ra kỳ trước chưa phân bổ , kết
chuyển sang .
Tóm lại, chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm có mối quan hệ chặt chẽ
với nhau. Chi phí sản xuất phản ánh về mặt hao phí còn giá thành sản phẩm
phản ánh mặt kết quả sản xuất . Chi phí sản xuất là cơ sở để kế tốn xác định
giá thành sản phẩm một cách trung thực , hợp lý .
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét