Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
+Đầu t Tài Sản Cố Định làm cho phù hợp với thời đại,cần thiết cho
quá trình sản xuất kinh doanh.
+Trích khấu hao để thu hồi vốn,tính khấu hao đúng đủ.
3. Phân loại tài sản cố định:
a) Căn cứ vào hình thức Tài Sản Cố Định đợc chia thành hai loại:
+Tài Sản Cố Định hữu hình:là những tài sản cố định đợc chia thành
hai loại:
- Tài Sản Cố Định hữu hình: là những Tài Sản Cố Định có hình thái
vật chất hội đủ tiêu chuẩn về giá trị và thời gian sử dụng theo qui định
của chế độ quản lý hiện hành, bao gồm:
+ Đất: Gồm giá trị quyền sử dụng đất, mặt nớc, mặt biển và
những chi phí cải tạo chung nhằm mục đích tạo mặt bằng cho sản xuất ,
khai thác hoặc xây dựng cơ bản.
+ Nhà cửa, vật kiến trúc: gồm tất cả những công trình xây dựng cơ
bản nh: nhà cửa vật kiến trúc (bờ rào, tháp nớc, sân bãi ), các công
trình trang trí thiết kế cho nhà cửa,các công trình cơ sở hạ tầng nh : đ-
ờng sá, cầu cống, cầu tầu
+ Máy móc thiết bị: Gồm các loại máy móc thiết bị dùng trong sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm cả những máy móc chuyên
dùng, máy móc thiết bị công tác, dây chuyền công nghệ và những máy
móc đơn lẻ.
+Phơng tiện vận tải:Gồm tất cả các loại phơng tiện vận tải,kể cả
các loại đầu máy nh:ô tô,máy kéo và các loại phơng tiện vận tải khác
nh: rơ mooc,xe bò ,đờng ống dẫn dầu,dẫn nớc
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
+Thiết bị, dụng cụ quản lý: Gồm các dụng cụ đo lờng máy tính
điện tử, quạt trần, quạt bàn, bàn ghế
+Cây lâu năm,gia súc làm việc cho sản phẩm:gồm các loại cây lâu
năm (cà phê,chè,cao su ), các gia súc làm việc (trâu, bò, ngựa cầy
kéo), các gia súc nuôi để lấy sản phẩm (bò sữa, dê sữa, các vật sinh
sản )
+Các loại tài sản cố định khác nh: tài sản cố định phúc lợi (nhà
nghỉ, câu lạc bộ, sân bóng, các thiết bị dụng cụ thể dục, thể thao, văn
nghệ, học tập )
- Tài sản cố định vô hình: là những tài sản cố định không có hình
thái vật chất, đợc thể hiện bằng một lợng giá trị đã đợc đầu t,tham gia
vào hoạt động của doanh nghiệp, các lợi ích hoặc các nguồn có tính
kinh tế mà giá trị của chúng xuất phát từ các độc quyền hoặc quyền của
doanh nghiệp nh:
+Chi phí thành lập doanh nghiệp, chuẩn bị sản xuất: là những chi
phí phát sinh từ lúc doanh nghiệp mới bắt đầu thành lập nh: tiền thù lao
cho công tác nghiên cứu, thăm dò, lập dự án đầu t, chi phí về huy động
vốn ban đầu, chi phí đi lại, chi phí về các cuộc họp thành lập, chi ohí
khai hoang các chi phí này thờng có giá trị tơng đối cao với mục đích
tổ chức cơ cấu để hoàn thành việc khai sinh ra doanh nghiệp và phục vụ
một, lợi ích lâu dài.
Bằng phát minh sáng chế: Đối với loại tài sản cố định vô hình này,
giá trị của nó đợc xác định bởi các chi phí doanh nghiệp phải trả cho
các công trình nghiên cứu sản xuất thử đợc nhà nớc cấp bằng sáng chế
hoặc doanh nghiệp mua lại tác quyền, bằng sáng chế của các nhà
nghiên cứu khác.
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
+Chi phí nghiên cứu, phát triển doanh nghiệp: Là các chi phí do
doanh nghiệp tự thực hiện hoặc thuê ngoài thực hiện các công trình có
qui mô về nghiên cứu, lập các kế hoạch dài hạn để đầu t, phát triển
nhằm đem lại lợi ích lâu dài cho doanh nghiệp.
+Chi phí về lợi thế thơng mại: Là các khoản chi phí tính thêm
ngoài giá trị thực tế của tài sản cố định hữu hình bởi sự thuận lợi của vị
trí thơng mại, sự tín nhiệm đối với khách hàng, danh tiếng của doanh
nghiệp.
+Quyền đặc nhợng: Là các chi phí mà doanh nghiệp phải trả để có
đợc quyền đợc thực hiện khai thác các nghiệp vụ quan trọng hoặc sản
xuất độc quyền một loại sản phẩm theo hợp đồng đặc nhợng kí kết với
nhà nớc hoặc đơn vị nhợng quyền.
+ Quyền thuê nhà: Là một chi phí về sang nhợng, chuyển quyền
mà doanh nghiệp trả cho ngời thuê trớc đó để đợc thừa kế quyền lợi về
thuê nhà theo hợp đồng kí kết với nhà nớc hoặc đơn vị nhợng quyền.
+ Quyền thuê nhà: là một chi phí về sang nhợng, chuyển quyền mà
doanh nghiệp trả cho ngời thuê trớc đó để đợc thừa kế quyền lợi về thuê
nhà theo hợp đồng kí kết với nhà nớc hoặc đối tợng khác.
+ Bản quyền tác giả: là chi phí tiền thù lao mà doanh nghiệp trả
cho tác giả và đợc nhà nớc công nhận cho tác giả độc quyền phát hành
và bán tác phẩm của mình.
+ Độc quyền nhãn hiệu và tên hiệu: là chi phí mà doanh nghiệp trả
cho việc mua loại nhãn hiệu và tên hiệu nào đó.
+ Tài sản cố định vô hình khác nh: chi phí đầu t cải tạo đất trong
ngành nông-lâm nghiệp, chi phí đầu t bốc đất đá để khai thác trong
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
ngành công nghiệp khai thác, chi phí nạo vét lòng sông, bến cảng,
luồng lạch trong ngành giao thông vận tải
b. Căn cứ vào công cụ kinh tế, tài sản cố định đợc chia thành 2 loại:
- Tài sản cố định dùng trong sản xuất kinh doanh cơ bản: là những
tài sản cố định hữu hình và vô hình trực tiếp tham gia vào quá trình
hoạt động sản xuất kinh doanh và kinh doanh cơ bản của đơn vị.
- Tài sản cố định dùng ngoài sản xuất kinh doanh cơ bản: là những
tài sản cố định hữu hình và vô hình dùng trong sản xuất kinh doanh phụ
trợ của doanh nghiệp và những tài sản cố định không mang tính chất
sản xuất chẳng hạn nh: tài sản cố định phúc lợi, tài sản cố định cho
thuê
c. Căn cứ vào tình hình sử dụng tài sản cố định của doanh nghiệp
đợc chia thành ba loại:
- Tài sản cố định đang dùng.
- Tài sản cố định cha cần dùng.
- Tài sản cố định không cần dùng và chờ thanh lý.
4. Vai trò và ý nghĩa của tài sản cố định đối với hoạt động của
doanh nghiệp.
Tài sản cố định là cơ sở vật chất kĩ thuật, là yếu tố chủ yếu thể
hiện năng lực sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nói cách khác tài
sản cố định là "hệ thống xơng" và "bắp thịt" của quá trình kinh doanh.
Vì vậy trang thiết bị hợp lý, bảo quản và sử dụng tốt tài sản cố định có
ý nghĩa quyết định đến việc tăng năng suất lao động, tăng chất lợng
kinh doanh, tăng thu nhập và lợi nhuận cho doanh nghiệp.
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Trong quá trình hoạt đông kinh doanh, tài sản cố định có vai trò
hết sức lớn lao và bất kì hoạt động kinh doanh nào muốn diễn ra đều
phải có tài sản cố định.
Nh trên ta đã nói, tài sản cố định là một "hệ thống xơng" và "bắp
thịt" của quá trình kinh doanh. Thật vậy bất kì một doanh nghiệp nào
muốn tiến hành kinh doanh đều phải có tài sản cố định, có thể là tài sản
cố định của doanh nghiệp, có thể là tài sản cố định đi thuê ngoài. Tỉ
trọng của tài sản cố định trong tổng số vốn kinh doanh của doanh
nghiệp cao hay thấp phụ thuộc vào tính chất kinh doanh từng loại hình.
Các đơn vị kinh doanh có các loại hàng giá trị lớn thì tỉ trọng tài sản cố
định của nó thấp hơn so với đơn vị kinh doanh mặt hàng có giá trị nhỏ.
Tỉ trọng tài sản cố định càng lớn (nhng phải nằm trong khuôn khổ của
nhu cầu sử dụng tài sản cố định) thì chứng tỏ trình độ kinh doanh của
doanh nghiệp càng hiện đại với kĩ thuật cao.
Tuy nhiên các doanh nghiệp hiện nay đang nằm trong tình trạng
thiếu vốn để phát triển và tái sản xuất mở rộng. Vì vậy vấn đề phân bổ
hợp lý tài sản cố định và tài sản lu độnglà rất quan trọng. Việc đầu t vào
tài sản cố định phải thoả đáng tránh tình trạng thừa tài sản cố định sử
dụng không hết năng lực tài sản cố định trong khi đó tài sản lu động lại
thiếu.
Cơ cấu các loại tài sản cố định (tài sản cố định hữu hình, tài sản cố
định vô hình và tài sản cố định tài chính) trong các doanh nghiệp phụ
thuộc vào năng lực kinh doanh, xu hớng đầu t kinh doanh, phụ thuộc
vào khả năng dự đoán tình hình kinh doanh trên thị trờng của lãnh đạo
doanh nghiệp. Nói chung tỷ trọng tài sản cố định trong các doanh
nghiệp nó có tỷ trọng phụ thuộc vào đặc thù của ngành.
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Việc sử dụng tài sản cố định hợp lý có một ý nghĩa hết sức quan
trọng. Nó cho phép khai thác tối đa năng lực làm việc của tài sản cố
định góp phần làm giảm tỷ suất chi phí tăng doanh lợi cho doanh
nghiệp. Mặt khác sử dụng tài sản cố định hợp lý là một điều kiện đảm
bảo giữ gìn hàng hoá sản phẩm an toàn và cũng chính là điều kiện bảo
quản tài sản cố định.
II. Phơng pháp xác định hiệu quả sử dụng vốn cố định và
các biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản cố định
của công ty CTĐT.
1. Khái niệm hiệu quả
a) Khái niệm hiệu quả
Hiệu quả là vấn đề đợc các nhà nghiên cứu kinh tế cũng nh các nhà
quản lý kinh doanh quan tâm hàng đầu.
Hiệu quả theo cách duy nhất đợc hiểu là một chỉ tiêu chất lợng
phản ánh mối quan hệ giữa kết quả và chi phí. Nếu chi phí bỏ ra càng ít
và kết quả mang lại càng nhiều thì điều đó có nghĩa là hiệu quả càng
cao và ngợc lại.
Trong điều kiện kinh doanh theo cơ chế thị trờng để thực hiện
nghiêm ngặt chế độ hạch toán kinh tế đảm bảo lấy thu nhập bù đắp chi
phí và có lãi đòi hỏi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp phải có
hiệu quả cao để doanh nghiệp có thể đứng vững và phát triển trong nền
kinh tế có nhiều thành phần, có cạnh tranh và quan hệ quốc tế với nớc
ngoài ngày càng đợc mở rộng.
Hiệu quả kinh doanh theo khái niệm rộng là một phạm trù kinh tế
phản ánh những mặt lợi đạt đợc từ các hoạt động kinh doanh của doanh
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
nghiệp. Hiệu quả kinh doanh của nớc ta đợc phản ánh trên 2 mặt: hiệu
quả kinh tế và hiệu quả xã hội.
Hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp phản ánh sử dụng các yếu tố
trong quá trình kinh doanh của doanh nghiệp. Tiêu chuẩn của hiệu quả
kinh tế là tối đa hoá kết quả kinh tế thu đợc hoặc tối đa hoá chi phí bỏ
ra để thực hiện đợc kết quả đó.
Hiệu quả xã hội của doanh nghiệp phản ánh sự đóng góp của
doanh nghiệp vào thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội của nền kinh tế
quốc dân. Cụ thể là hiệu quả xã hội của doanh nghiệp đợc biểu hiện
thông qua hoạt động của doanh nghiệp góp phần nâng cao trình độ văn
hoá xã hội, góp phần làm giảm bớt những chi phí tiêu dùng của xã hội
và lĩnh vực thoả mãn nhu cầu tiêu dùng hàng hoá, góp phần nâng cao
văn minh xã hội, đồng thời doanh nghiệp cũng có trách nhiệm trong
việc cải tạo tiêu dùng phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội. Tiêu chuẩn
của hiệu quả xã hội là sự thoả mãn nhu cầu có tính chất xã hội trong sự
tơng ứng với các nguồn nhân tài vật lực ảnh hởng tới mục đích đó. Hiện
nay hiệu quả xã hội của hoạt động kinh doanh đợc đánh giá thông qua
các biện pháp xã hội của nhà nớc trong từng thời kỳ.
Hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội có khi thống nhất cũng có khi
mâu thuẫn với nhau. Nếu doanh nghiệp hoạt động kinh doanh có lãi thì
đời sống của cán bộ công nhân viên đợc cải thiện, đồng thời doanh
nghiệp sẽ nộp nhân sách để thực hiện chính sách xã hội nh: xây dựng
các công trình công cộng, giảm bớt sự bất công bằng trong xã hội
Nh vậy doanh nghiệp vừa đạt đợc hiệu quả kinh tế vừa đạt đợc hiệu
quả xã hội, nếu hiệu quả kinh tế kém thì doanh nghiệp cũng không đạt
đợc hiệu quả của xã hội.
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Đối với các doanh nghiệp nhà nớc đợc giao nhiệm vụ kinh doanh
nhằm phục vụ hải đảo và miền núi thì chi phí rất cao làm cho giá thanh
toán trở thành cá biệt, cao hơn giá thị trờng chấp nhận hoặc giá chỉ đạo
của nhà nớc do đó doanh nghiệp sẽ bị thua lỗ. Vì vậy doanh nghiệp
không đạt đợc hiệu quả kinh tế nhng thực hiện đợc hiệu quả xã hội.
Một doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì quá trình hoạt động
kinh doanh phải đem lại hiệu quả. Do vậy các doanh nghiệp trên thờng
phải đợc nhà nớc có biện pháp về giá, bù đắp tài chính để doanh
nghiệp yên tâm thực hiện nhiệm vụ của mình đồng thời đảm bảo doanh
nghiệp vừa đạt đợc hiệu quả xã hội vừa đạt đợc hiệu quả kinh tế, ổn
định mức thu nhập cho cán bộ công nhân viên.
Tuy nhiên việc xác định rõ hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội chỉ
là tơng đối vì có thể chỉ tiêu phanr ánh đồng thời hiệu quả kinh tế và
hiệu quả xã hội.
Thông thờng, hiệu quả kinh tế luôn luôn đợc các doanh nghiệp
quan tâm hơn, bởi vì chỉ tiêu cơ sở hoạt động có hiệu quả kinh tế thì
doanh nghiệp đó mới tồn tại và phát triển đợc. Mặt khác các kết quả mà
doanh nghiệp đạt đợc về mặt kinh tế cũng chính là sự phục vụ nhu cầu
xã hội tức là các doanh nghiệp này cũng đạt đợc hiệu quả xã hội.
Trong điều kiện kinh tế thị trờng hiện nay có thể nói doanh nghiệp
nào phục vụ tốt khách hàng, chiếm đợc "cảm tình" và lòng tin của
khách hàng thì doanh nghiệp đó hoạt động có hiệu quả kinh tế cao, đó
cũng là phù hợp. Nh vậy thì hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội là hai
mặt của một vấn đề mà một trong hai mặt đó tốt sẽ làm ảnh h ờng tới
mặt kia và ngợc lại.
Chúng ta đã biết, mục đích của hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp là lợi nhuận của mình hay nói rộng hơn là tăng hiệu quả kinh tế
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
trong hoạt động kinh doanh của mình, lợi nhuận là khoản còn lại sau
khi doanh nghiệp đã trừ đi mọi khoản chi phí phát sinh trong quá trình
kinh doanh. Nhờ thu đợc lợi nhuận doanh nghiệp mới có điều kiện tái
sản xuất mở rộng trong lĩnh vực trao đổi càng lớn. Từ đó không những
tạo điều kiện để cải thiện đời sống của chính nhân viên trong doanh
nghiệp mà còn tạo điều kiện để nâng cao điều kiện phục vụ khách hàng,
thực hiện nghĩa vụ với nhà nớc.
Nh vậy xét cho cùng hiệu quả kinh tế là nội dung quan trọng nhất,
là đối tợng chính của nghiên cứu hiệu quả kinh doanh một đơn vị hạch
toán độc lập. Nhng để đánh giá hiệu quả kinh doanh, ngời ta không
đánh giá hiệu quả kinh tế một cách độc lập mà thờng xuyên xem xét cả
hiệu quả xã hội.
Trong điều kiện xã hội hiện nay ở nớc ta, việc nâng cao hiệu quả
kinh doanh có ý nghĩa rất quan trọng. Nâng cao hiệu quả đó là việc
tăng kết quả thu đợc trên một đơn vị chi phí bỏ ra. Các doanh nghiệp
luôn luôn tìm mọi cách nâng cao hiệu quả, bằng mọi biện pháp để tăng
hệ số so sánh giữa kết quả và chi phí qua các thời kỳ khác nhau.
Khi nói đến hiệu quả kinh doanh ngời ta luôn có một sự so sánh
nào đó giữa hai đại lợng: kết quả đầu ra và chi phí đầu vào. Từ trớc đến
nay có hai cách phản ánh và xác định hiệu quả.
Hiệu quả = kết quả đầu ra - chi phí đầu vào
Hiệu quả =
kết quả đầu ra
chi phí đầu vào
Cách tính và đánh giá hiệu quả ở dạng hiệu số có u điểm là đơn
giản, dễ dàng, nhng có nhiều nhợc điểm. Thứ nhấtkhông cho phép đánh
giá đợc hết chất lợng hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và không
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
so sánh đợc kết quả giữa các năm hoặc giữa các doanh nghiệp. Thứ hai
không phản ánh đợc các tiềm tàng hiệu quả của doanh nghiệp. Vì vậy
cách tính này làm mất tính bản chất của hiệu quả. Thật vậy, giả sử xem
xét chỉ tiêu lợi nhuận với cách đánh giá ở dạng hiệu số có thể dẫn tới
cách hiểu đơn giản và thông thờng là cứ kinh doanh đảm bảo thu bù chi
có lãi là có hiệu quả, doanh nghiệp nào đợc nhiều lãi hơn là doanh
nghiệp đó hoạt động có hiệu quả hơn. Mặc dù lợi nhuận của kết quả
kinh tế cuối cùng thu đợc sau khi đã hoàn trả mọi chi phí bỏ ra để thu
đợc, nó cũng phản ánh ở một mức độ nhất định chất lợng hoạt động
kinh doanh, những sự đánh giá nh vậy là không chính xác, bởi lẽ tổng
mức lợi nhuận thu đợc phụ thuộc vào cả sự phát triển theo chiều rộng
lẫn chiều sâu, tức bằng cả mở rộng qui mô doanh nghiệp, tăng lợng đầu
t vào và bằng cả tăng kết quả thu đợc trên một đơn vị chi phí đầu t.
Tổng kết quả năm này thu đợc có thể lớn hơn năm trớc nhờ vào việc
tăng lợng đầu t vào lớn hơn lợng tăng kết quả thu đợc. Hay nói cách
khác việc so sánh dạng hiệu số với chỉ tiêu đơn thuần xem xét đầu ra
đạt đợc qua các thời kỳ khác nhau.
Hiện nay, cách phản ánh và xác định hiệu quả ở dạng phân số đợc
hầu hết các nhà kinh tế công nhận và áp dụng rộng rãi trong thực tế. Ưu
điểm của cách này ở chỗ, không những khắc phục đợc tất cả những nh-
ợc điểm trên mà còn cho phép phản ánh hiệu quả một cách toàn diện.
Với cách phản ánh và cách đánh giá xác định hiệu quả ở dạng phân số
hình thành nên một hệ thống chỉ tiêu phản ánh hiệu quả từ mọi góc độ
khác nhau từ tổng quát đến chi tiết. Tuy nhiên sử dụng chỉ tiêu hiệu quả
ở dạng phân số để đánh giá có nhợc điểm là phức tạp và đòi hỏi phải có
một quan điểm hợp lý trong việc sử dụng các chỉ tiêu hiệu quả trong
quản lý kinh tế. Để xây dựng một hệ thống chỉ tiêu hợp lý cần có các
quan điểm đúng đắn về chỉ tiêu kết quả và chi phí.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét