Chủ Nhật, 23 tháng 2, 2014

Các giải pháp tài chính nâng cao lợi nhuận của Công ty Cổ phần đầu tư và xây dựng công trình 134

CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
là động lực thúc đẩy doanh nghiệp không ngừng sử dụng hợp lý và hiệu quả
các nguồn lực, nâng cao năng suất, hiệu quả và chất lượng của quá trình sản
xuất kinh doanh.
Hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được thể hiện trên
các phạm vi chính sau: mức nộp ngân sách nhà nước, đảm bảo đời sống cho
cán bộ công nhân viên, mở rộng quy mô kinh doanh, khẳng định vị trí của
doanh nghiệp trên thị trường…
Cơ chế quản lý mới đã xoá bỏ sự bao cấp của Nhà nước, điều đó đòi
hỏi các doanh nghiệp phải tự chủ về tài chính, phải chủ động tìm nguồn tài
nguyên cho mọi nhu cầu sản xuất của mình. Vì vậy, lợi nhuận không những
trở thành mục đích thiết thực của doanh nghiệp mà còn là động lực mở rộng
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nếu không có lợi nhuận doanh
nghiệp sẽ không mở rộng được quy mô sản xuất, không có điều kiện để thay
đổi công nghệ, trang thiết bị, điều kiện làm việc của doanh nghiệp, áp dụng
khoa học kỹ thuật…Ngày nay, với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ
thuật thì chất lượng của sản phẩm chủ yếu được quyết định bởi trình độ khoa
học kỹ thuật và công nghệ sản xuất ra sản phẩm đó. Nhờ có vốn bổ sung từ
lợi nhuận, doanh nghiệp mới có điều kiện đầu tư vốn phát triển kinh doanh
vào việc mua sắm máy móc thiết bị mới, ứng dụng công nghệ vào sản xuất
kinh doanh từ đó góp phần tăng năng suất lao động, tăng khối lượng và đa
dạng hóa sản phẩm phục vụ tối đa nhu cầu người tiêu dùng, nâng cao khả
năng chiếm lĩnh thị trường cho doanh nghiệp. Nhờ vậy mà quy mô doanh
nghiệp tăng dần lên.
Bên cạnh đó, lợi nhuận còn kích thích người lao động nâng cao năng
suất lao động và chất lượng sản phẩm. Mục đích của nhà đầu tư là lợi nhuận,
mục đích của người cung cấp sức lao động là tiền lương. Đối với doanh
nghiệp, chi phí thuê sức lao động là thực hiện đầu tư vào sản xuất kinh
Sinh vi
Sinh vi
ên: D ư ơng Thị Thu H à – TCDN 44 C
ên: D ư ơng Thị Thu H à – TCDN 44 C

trang
5
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
doanh nhằm tìm kiếm lợi nhuận. Đối với người lao động, thì tiền công vừa
đảm bảo nhu cầu vật chất cần thiết cho cuộc sống vừa đảm thực hiện tái sản
xuất lao động. Doanh nghiệp có lợi nhuận thì thu nhập của người lao động
được đảm bảo, từ đó sẽ kích thích họ hăng say sản xuất, có trách nhiệm với
chất lượng sản phẩm, phát huy tối đa sức sáng tạo của họ trong sản xuất.
Ngoài ra, khi lợi nhuận của doanh nghiệp tăng lên đồng nghĩa với việc tăng
thêm các quỹ trong đó có quỹ khen thưởng, phúc lợi vì vậy lợi ích của người
lao động cũng được tăng lên.
Mặt khác, lợi nhuận cũng góp phần khẳng định vị trí của doanh
nghiệp trên thị trường. Doanh nghiệp có lợi nhuận chứng tỏ rằng doanh
nghiệp hoạt động có hiệu quả, sử dụng vốn kinh doanh hợp lý, bộ phận quản
lý có tài lãnh đạo, lực lượng cán bộ công nhân viên có trình độ, có thực lực.
Nhờ vậy mà uy tín của doanh nghiệp ngày càng tăng, được khách hàng, nhà
cung cấp, các tổ chức tín dụng, nhà nước tín nhiệm, từ đó hoạt động sản xuất
kinh doanh ngày càng thuận lợi.
Với xã hội .
Lợi nhuận là một chỉ tiêu quan trọng phản ánh tình hình tài chính của
doanh nghiệp, là nguồn quan trọng để doanh nghiệp tái đầu tư mở rộng sản
xuất. Trên phạm vi xã hội, lợi nhuận của doanh nghiệp là động lực, là đòn
bẩy kinh tế của xã hội và là nguồn để thực hiện tái sản xuất xã hội. Doanh
nghiệp là một tế bào trong nền kinh tế, khi doanh nghiệp thực hiện quá trình
tái đầu tư mở rộng sản xuất của mình thì đồng thời doanh nghiệp đã thực
hiện luôn cả quá trình tái sản xuất mở rộng của xã hội.
Mặt khác, khi doanh nghiệp hoạt động kinh doanh có lợi thì nguồn thu
của ngân sách Nhà nước tăng lên (thông qua các sắc thuế theo quy định của
pháp luật). Ngân sách Nhà nước tăng lên sẽ đáp ứng nhu cầu tích luỹ vốn để
thực hiện quá trình đầu tư phát triển kinh tế theo các chức năng của Nhà
Sinh vi
Sinh vi
ên: D ư ơng Thị Thu H à – TCDN 44 C
ên: D ư ơng Thị Thu H à – TCDN 44 C

trang
6
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
nước như: phát triển kinh tế, củng cố tiềm lực quốc phòng, duy trì bộ máy
quản lý hành chính, cải thiện đời sống vật chất, văn hoá tinh thần cho nhân
dân.
Lợi nhuận của doanh nghiệp còn có một vai trò đặc biệt quan trọng
đối với xã hội, nhất là trong hoàn cảnh nước ta hiện nay, đó là doanh nghiệp
có lợi nhuận cao sẽ tạo điều kiện mở rộng quy mô sản xuất, tạo thêm công
ăn việc làm cho người lao động, góp phần giải quyết tình trạng thất nghiệp
cho xã hội. Đồng thời doanh nghiệp cũng có điều kiện để tham gia các hoạt
động từ thiện, nhân đạo.
Qua việc phân tích trên, ta thấy lợi nhuận không chỉ có vai trò quan
trọng trong sự tăng trưởng và phát triển của doanh nghiệp mà còn có ý nghĩa
to lớn đối với toàn bộ nền kinh tế quốc dân, bởi lợi ích của mỗi doanh
nghiệp bao giờ cũng gắn liền với lợi ích của Nhà nước, của toàn bộ nền kinh
tế. Lợi nhuận làm cho Nhà nước, doanh nghiệp, người lao động có quan hệ
gắn bó và cùng phát triển.
1.1.3 Phương pháp xác định lợi nhuận của doanh nghiệp.
1.1.3.1. Sự hình thành lợi nhuận trong doanh nghiệp .
1.1.3.1.1. Doanh thu của doanh nghiệp.
Doanh thu của doanh nghiệp là số tiền thuộc về doanh nghiệp(đây là
doanh thu thuần).
Doanh thu có ý nghĩa rất quan trọng đối với toàn bộ hoạt động của
doanh ghiệp, nó đảm bảo trang trải các khoản chi phí thực hiện tái sản xuất
và các nghĩa vụ đối với Nhà nước. Doanh thu bán hàng là nguồn thu quan
trọng chủ yếu trong tổng nguồn thu từ hoạt động kinh doanh. Đó là toàn bộ
tiền thu về từ việc tiêu thụ sản phẩm và cung cấp dịch vụ cho khách hàng.
Sản phẩm được xác định là tiêu thụ khi được đơn vị mua trả tiền hoặc chấp
Sinh vi
Sinh vi
ên: D ư ơng Thị Thu H à – TCDN 44 C
ên: D ư ơng Thị Thu H à – TCDN 44 C

trang
7
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
nhận trả tiền. Đối với công ty xây dựng cơ bản thì sản phẩm được tiêu thụ
khi mà doanh nghiệp xây dựng hoàn thành công trình.
Doanh thu của doanh nghiệp bao gồm: Doanh thu từ hoạt động kinh
doanh; Doanh thu từ hoạt động tài chính; Doanh thu từ hoạt động bất
thường.
Doanh thu từ hoạt động kinh doanh là toàn bộ tiền bán sản phẩm,
hàng hoá, dịch vụ (số tiền mà khách hàng chấp nhận thanh toán không phân
biệt đã thu hay chưa thu được tiền) sau khi đã trừ đi khoản giảm giá hàng
bán, hàng bán bị trả lại (nếu có chứng từ hợp lệ). Doanh thu từ hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm: Các khoản phí thu bên ngoài ngoài
giá bán (trợ giá, phụ thu theo quy định của nhà nước mà doanh nghiệp được
hưởng đối với hàng hoá dịch vụ của doanh nghiệp); Giá trị các sản phẩm
hàng hoá đem biếu, tặng, trao đổi hoặc tiêu dùng cho sản xuất trong nội bộ
(như: điện sản xuất ra được dùng cho nhà máy sản xuất điện. Xi măng sản
xuất ra để sửa chữa xí nghiệp sản xuất xi măng. Quạt sản xuất ra được sử
dụng ở nhà máy sản xuất quạt…).
Thu nhập từ hoạt động tài chính bao gồm các khoản thu: Hoạt động
liên doanh liên kết, góp vốn cổ phần, lãi tiền gửi, lãi tiền cho vay hoặc tiền
lãi trả chậm của việc bán hang trả góp, tiền thu được từ hoạt động mua bán
chứng khoán, công trái…; Từ hoạt động nhượng bán ngoại tệ hoặc thu nhập
về chênh lệch tỷ giá; Hoàn nhập số dư dự phòng giảm giá chứng khoán.
Hoạt động bất thường là những khoản lợi nhuận không dự tính trước
hoặc có dự kiến nhưng ít có khả năng thực hiện hoặc là các khoản thu mang
tính chất không thường xuyên. Những khoản chênh lệch bất thường có thể
do chủ quan hoặc khách quan mang lại. Các khoản chênh lệch này là: Thu từ
bán vật tư, hàng hoá, tài sản dư thừa; Bán công cụ, dụng cụ đã phân bổ hết
giá trị, bị hư hỏng hoặc không cần sử dụng; Các khoản phải trả nhưng không
Sinh vi
Sinh vi
ên: D ư ơng Thị Thu H à – TCDN 44 C
ên: D ư ơng Thị Thu H à – TCDN 44 C

trang
8
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
trả được vì nguyên nhân của phía chủ nợ; Nợ khó đòi đã xoá sổ nay thu hồi
lại được; Thu về do sử dụng hoặc chuyển quyền sở hữu trí tuệ; Hoàn nhập số
dư chi phí trích trước về bảo hành hàng hoá sản phẩm, công trình và hạng
mục công trình khi hết thời gian bảo hành; Thu về tiền phạt vi phạm hợp
đồng kinh tế; Các khoản thuế phải nộp được nhà nước miễn giảm
Đối với các loại hình doanh nghiệp với các hoạt động khác nhau,
doanh thu cũng khác nhau.
Đối với các cơ sở sản xuất, khai thác, chế biến v.v… doanh thu là toàn
bộ tiền bán sản phẩm, nửa thành phẩm, bao bì, nguyên vật liệu.
Đối với ngành xây dựng: Doanh thu là giá trị công trình bàn giao.
Đối với ngành vận tải: Doanh thu là tiền cước phí.
Đối với ngành kinh doanh tiền tệ: Doanh thu là tiền lãi….
1.1.3.1.2. Chi phí của doanh nghiệp.
Mục tiêu cuối cùng của các doanh nghiệp là tối đa hoá giá trị tài sản
cho các chủ sở hữu, bởi vậy, doanh nghiệp phải bỏ ra các khoản chi phí nhất
định trong quá trình thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Như
vậy có thể hiểu: chi phí của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của tất cả
các hao phí mà doanh nghiệp bỏ ra để phục vụ sản xuất kinh doanh.
Chi phí là nguồn quan tâm của doanh nghiệp bởi vì việc giảm được
một đồng chi phí có nghĩa là tăng một đồng lợi nhuận (LNTT), mặt khác,
vấn đề chi phí cũng quyết định mức sản xuất và khả năng tiêu thụ sản phẩm
của doanh nghiệp.
Chi phí của doanh nghiệp được chia thành ba phần chính là: Chi phí
sản xuất và chi phí tiêu thụ sản phẩm; Chi phí hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp; Chi phí hoạt động bất thường.
1.1.3.1.2.1. Chi phí sản xuất.
Sinh vi
Sinh vi
ên: D ư ơng Thị Thu H à – TCDN 44 C
ên: D ư ơng Thị Thu H à – TCDN 44 C

trang
9
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp phải tiêu hao các
loại vật tư, nguyên vật liệu, hao mòn máy móc thiết bị, trả công cho người
lao động… Do vậy, có thể hiểu chi phí sản xuất là biểu hiện bằng tiền của tất
cả các hao phí về vật chất và về lao động mà doanh nghiệp phải bỏ ra để sản
xuất sản phẩm trong một thời kỳ nhất định. Do đặc điểm của chi phí sản xuất
là chi phí hàng ngày ngắn liền với từng vị trí sản xuất, từng loại sản phẩm và
từng loại hoạt động sản xuất kinh doanh, việc tổng hợp, tính toán chi phí sản
xuất cần được tiến hành trong từng khoảng thời gian nhất định, không phân
biệt các sản phẩm sản xuất đã hoàn thành hay chưa hoàn thành.
Nghiên cứu cơ cấu chi phí sản xuất nhằm: Xác định tỷ trọng và xu
hướng thay đổi của từng yếu tố chi phí sản xuất; Kiểm tra giá thành sản
phẩm và có biện pháp hạ giá thành sản phẩm.
Người ta tiến hành phân loại chi phí sản xuất theo các tiêu thức khác
nhau. Đối với nhà tài chính, chi phí được chia thành chi phí biến đổi và chi
phí cố định (cách phân chia này chỉ tồn tại trong ngắn hạn). Chi phí cố định
là chi phí không thay đổi theo khối lượng sản phẩm ví dụ: khấu hao nhà
máy, mặt bằng; tiền vay; chi phí quản lý.
Chi phí biến đổi là chi phí tỷ lệ thuận với khối lượng sản phẩm được
sản xuất ra ví dụ: tiền lương của công nhân sản xuất; nhiên liệu; nguyên
liệu
Nếu biểu diễn hai loại chi phí này thì ta có sơ đồ như sau:
VND VND VND
tổng dt Tổng chi phí
O Khối lượng sp O Khối lượng sp O Q Khối lượng sp
Chi biến đổi Chi phí cố định Tổng chi phí
(Tại Q: Lợi nhuận=0)
Sinh vi
Sinh vi
ên: D ư ơng Thị Thu H à – TCDN 44 C
ên: D ư ơng Thị Thu H à – TCDN 44 C

trang
10
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
1.1.3.1.2.2. Chi phí tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp.
Đối với các doanh nghiệp, tiêu thụ sản phẩm là hết sức quan trọng.
Khối lượng tiêu thụ sản phẩm ảnh hưởng quyết định tới quy mô sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp. Để thực hiện tiêu thụ sản phẩm, doanh nghiệp
cũng phải bỏ những chi phí nhất định: chi phí trực tiếp tiêu thụ sản phẩm;
chi phí hỗ trợ marketing và phát triển.
Chi phí trực tiếp tiêu thụ sản phẩm bao gồm chi phí chọn lọc, đóng
gói; chi phí bao bì, vận chuyển, bảo quản; chi phí thuê kho, bến bãi… Chi
phí này phụ thuộc vào đặc điểm của sản phẩm và tốc độ tiêu thụ sản phẩm.
Chi phí hỗ trợ marketing và phát triển bao gồm: chi phí điều tra
nghiên cứu thị trường; chi phí quảng cáo, giới thiệu sản phẩm; chi phí bảo
hành sản phẩm. Tỷ trọng của chi phí này có xu hướng tăng lên trong điều
kiện nền kinh tế thị trường phát triển.
1.1.3.2.3. Giá thành sản phẩm.
Nghiên cứu chi phí sản xuất và tiêu thụ sản phẩm chưa cho biết lượng
chi phí cần thiết để hoàn thành sản xuất và tiêu thụ một loại sản phẩm hoặc
một đơn vị sản phẩm nhất định. Do vậy, doanh nghiệp cần phải xác định giá
thành sản phẩm. Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ chi
phí của doanh nghiệp bỏ ra để hoàn thành việc sản xuất hoặc để sản xuất và
tiêu thụ một loại sản phẩm nhất định.
Giữa giá thành sản phẩm và chi phí sản xuất có sự giống nhau và khác
nhau: Chi phí sản xuất hợp thành giá thành sản phẩm, nhưng không phải
toàn bộ chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ đều được tính vào giá thành sản
phẩm trong kỳ. Giá thành sản phẩm phản ánh lượng chi phí để hoàn thành
sản xuất hoặc sản xuất và tiêu thụ một đơn vị hay một khối lượng sản phẩm
nhất định, còn chi phí sản xuất và lưu thông sản phẩm thể hiện số chi phí mà
Sinh vi
Sinh vi
ên: D ư ơng Thị Thu H à – TCDN 44 C
ên: D ư ơng Thị Thu H à – TCDN 44 C

trang
11
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
doanh nghiệp bỏ ra để sản xuất và tiêu thụ sản phẩm trong một thời kỳ nhất
định, thời kỳ này thường là một năm.
Trong phạm vi sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, có thể phân biệt giá
thành sản xuất sản phẩm và giá thành tiêu thụ sản phẩm. Giá thành sản xuất
sản phẩm bao gồm toàn bộ chi phí bỏ ra để hoàn thành việc sản xuất sản
phẩm (đối với sản phẩm xây dựng là giá thành thi công). Giá thành tiêu thụ
sản phẩm còn được gọi là giá thành toàn bộ sản phẩm gồm chi phí để hoàn
thành sản phẩm và tiêu thụ sản phẩm. Trên giác độ kế hoạch hoá, giá thành
sản phẩm được phân biệt thành giá thành kế hoạch và giá thành thực tế.
Riêng đối với sản phẩm xây dựng cơ bản, người ta chỉ so sánh giá
thành thực tế với giá thành kế hoạch hoặc giá thành dự toán của khối lượng
sản phẩm trong cùng một thời kỳ.
Đối với công tác quản lý doanh nghiệp giá thành là chỉ tiêu quan trọng
bởi vì:
- Giá thành là thước đo chi phí sản xuất hoặc tiêu thụ đối với đầu tư
sản phẩm hay tiêu thụ sản phẩm. Đây là căn cứ để doanh nghiệp lựa chọn
sản phẩm kinh doanh.
- Giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp là chỉ tiêu để đánh giá hiệu
quả của biện pháp kinh tế kỹ thuật.
- Là căn cứ quan trọng để doanh nghiệp xác định giá cả sản phẩn.
1.1.3.1.2.4. Chi phí hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Chi phí hoạt động kinh là chi phí có liên quan đến quá trình hoạt động
sản xuất-kinh doanh của doanh nghiệp. Các chi phí này bao gồm: Chi phí
bảo vệ hoạt động sản xuât kinh doanh; Chi phí bảo hiểm tài sản; Chi phí để
thuê chuyên gia; Một số các khoản lệ phí liên quan đến các hoạt động kinh
doanh.
1.1.3.2. Xác định lợi nhuận trong doanh nghiệp.
Sinh vi
Sinh vi
ên: D ư ơng Thị Thu H à – TCDN 44 C
ên: D ư ơng Thị Thu H à – TCDN 44 C

trang
12
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
Trong nền kinh tế thị trường, để tăng cường khả năng cạnh tranh đòi
hỏi các doanh nghiệp phải tiến hành đa dạng hoá hoạt động kinh doanh của
mình trên nhiều lĩnh vực khác nhau, do đó, lợi nhuận của doanh nghiệp là lợi
nhuận thu được từ các hoạt động khác nhau bao gồm: hoạt động kinh doanh,
hoạt động tài chính, hoạt động bất thường. (lợi nhuận được đề cập ở đây là
lợi nhuận trước thuế )
Lợi nhuận
doanh nghiệp
=
Lợi nhuận hoạt
động kinh doanh
+
Lợi nhuận từ hoạt
động tài chính
+
Lợi nhuận từ hoạt
động bất thường
Lợi nhuận hoạt động kinh doanh: là khoản chênh lệch giữa tổng doanh
thu và giá thành toàn bộ sản phẩm hàng hoá dịch vụ đã tiêu thụ trong năm tài
chính của doanh nghiệp và được xác định theo công thức:
Lợi nhuận hoạt
động kinh doanh
=
Doanh thu
thuần
-
Giá vốn
hàng bán
-
Chi phí
bán hàng
-
Chi phí quản lý
doanh nghiệp
Trong đó: Doanh thu thuần là số chênh lệch giữa tổng doanh thu với
các khoản giảm trừ doanh thu, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất nhập khẩu,
thuế giá trị gia tăng.
Doanh thu
thuần
=
Doanh thu
bán hàng
-
Khoản giảm giá
hàng bán
-
Trị giá hàng
bán bị trả lại
-
Thuế
gián thu
-Các khoản giảm trừ bao gồm: Giảm giá hàng bán, hàng bán bị trả lại.
Trong các doanh nghiệp giao thông thì các khoản này thường không có hoặc
không đáng kể.
-Thuế gián thu như thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất nhập khẩu,
VAT… là các loại thuế theo luật định áp dụng cho các loại hàng hoá thuộc
phạm vi chịu thuế.
Sau khi xác định được các chỉ tiêu doanh thu thuần và giá vốn hàng
bán ta có chỉ tiêu tài chính trung gian là “lãi gộp” ( hay lợi nhuận gộp).
Lãi gộp = Doanh thu thuần- Giá vốn hàng bán.
Sinh vi
Sinh vi
ên: D ư ơng Thị Thu H à – TCDN 44 C
ên: D ư ơng Thị Thu H à – TCDN 44 C

trang
13
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
-Chi phí bán hàng: gồm các chi phí phát sinh trong quá trình tiêu thụ
sản phẩm.
-Chi phí quản lý doanh nghiệp: bao gồm chi phí quản lý kinh doanh,
quản lý hành chính và các chi phí chung khác có liên quan tới toàn bộ hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp.
Thu nhập trước
khấu hao và lãi
= Lãi gộp -
Chi phí bán hàng, quản lý
(không kể khấu hao và lãi vay)
-Lãi vay: là khoản tiền phản ánh chi phí sử dụng vốn vay ngân hàng
của doanh nghiệp.
Thu nhập trước thuế = Thu nhập trước khấu hao và lãi - Lãi vay
Qua việc xác định trên ta có thể tổng kết cách xác định lợi nhuận hoạt
động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp theo sơ đồ sau:
Doanh
thu tiêu
thụ sản
phẩm
hàng
hoá
dịch vụ
Doanh thu
thuần
Lãi gộp
Thu nhập trước thuế
và lãi
Lợi nhuận trước thuế
Lãi vay
CPBH&CPQLDN
Giá vốn hàng
bán
Các khoản
giảm trừ DT
Lợi nhuận từ hoạt động tài chính.: là khoản chênh lệch giữa thu nhập
hoạt động tài chính và chi phí hoạt động tài chính.
Lợi nhuận từ hoạt động tài
chính
=
Thu nhập hoạt động
tài chính
-
Chi phí hoạt động tài
chính
Lợi nhuận từ hoạt động bất thường: là khoản chênh lệch giữa thu nhập
hoạt động tài chính và chi phí hoạt động tài chính.
Lợi nhuận từ hoạt động bất
thường
=
Thu nhập hoạt động
bất thường
-
Chi phí hoạt động bất
thường
Như chúng ta đã biết, lợi nhuận có vai trò quan trọng đối với doanh
nghiệp và đối với toàn xã hội, tuy vậy, lợi nhuận không phải là chỉ tiêu duy
Sinh vi
Sinh vi
ên: D ư ơng Thị Thu H à – TCDN 44 C
ên: D ư ơng Thị Thu H à – TCDN 44 C

trang
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét