Thứ Sáu, 21 tháng 2, 2014

Nâng cao chất lượng cho vay đối với Doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Sở Giao dịch 1 – Ngân hàng Công thương Việt Nam

Khóa luận tốt nghiệp
thương mại, người ta phải dựa vào tính chất và mục đích hoạt động của nó
trên thị trường tài chính. Mặc dù hiện nay có nhiều định nghĩa khác nhau về
NHTM nhưng khi phân tích nội dung các định nghĩa đó, người ta dễ dàng
nhận thấy các NHTM đều có chung một tính chất, đó là việc nhận tiền gửi có
kỳ hạn và không kỳ hạn để sử dụng vào các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu và
các dịch vụ kinh doanh khác của ngân hàng.
Luật các tổ chức tín dụng sửa đổi được Quốc Hội nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 15/06/2004 có nêu:
Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp được thành lập theo quy định của luật
này và các quy định khác của pháp luật để hoạt động ngân hàng.
Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động
ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan. Theo tính chất và
mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng gồm ngân hàng thương mại, ngân
hàng phát triển, ngân hàng đầu tư, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác
và các loại hình ngân hàng khác.
Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng
với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín
dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán khác.
Ngày nay, trong thế giới hiện đại, hoạt động của các tổ chức tài chính đặc
biệt là các ngân hàng ngày càng phát triển về số lượng và quy mô hoạt động.
Người ta phân biệt ngân hàng thương mại với các tổ chức tài chính khác là ở
chỗ, NHTM là loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ
tài chính đa dạng nhất – đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán –
thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất và đồng thời cũng chịu sự kiểm soát
gắt gao nhất của Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền so với bất kỳ một tổ chức
kinh doanh tài chính nào trong nền kinh tế.
Đồng Duy Lâm Ngân hàng 46B
5
Khóa luận tốt nghiệp
1.1.1.2. Các hoạt động cơ bản của Ngân hàng thương mại
a. Huy động vốn
Hoạt động huy động vốn là một trong những hoạt động chủ yếu và quan
trọng của NHTM. Tuy không mang lại lợi nhuận trực tiếp cho ngân hàng
nhưng hoạt động này mang lại nguồn vốn để NHTM có thể thực hiện các hoạt
động như cấp tín dụng và cung cấp các dịch vụ ngân hàng cho khách hàng.
Không có nghiệp vụ huy động vốn NHTM sẽ không đủ vốn tài trợ cho hoạt
động của mình. Mặt khác, thông qua nghiệp vụ huy động vốn, NHTM có thể
đo lường được uy tín cũng như sự tín nhiệm của khách hàng đối với ngân
hàng. Từ đó, NHTM có các biện pháp để hoàn thiện hoạt động huy động vốn
để giữ vững và mở rộng mối quan hệ với khách hàng. Có thể nói rằng, nghiệp
vụ huy động vốn chính là để giải quyết đầu vào cho hoạt động kinh doanh của
ngân hàng.
Huy động vốn của NHTM thực chất là việc ngân hàng nhận tiền gửi của
các cá nhân, tổ chức hay các tổ chức tín dụng khác dưới hình thức tiền gửi
thanh toán, tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi không kỳ hạn, có kỳ hạn và các loại
tiền gửi khác. NHTM còn có thể huy động vốn bằng cách phát hành chứng
chỉ tiền gửi, trái phiếu và các giấy tờ có giá khác theo quy định của Pháp luật
để huy động vốn của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước. Huy động vốn
của NHTM cũng có thể thực hiện được dưới hình thức các NHTM vay vốn
của nhau trên thị trường liên ngân hàng, vay vốn của các tổ chức tín dụng
nước ngoài hoặc vay vốn của Ngân hàng Nhà nước dưới hình thức tái cấp
vốn.
Theo Nghị định 49/2000/NĐ-CP ngày 12/09/2000 của Chính phủ về tổ
chức hoạt động NHTM thì NHTM được phép huy động vốn dưới các hình
thức sau:
Đồng Duy Lâm Ngân hàng 46B
6
Khóa luận tốt nghiệp
- Nhận tiền gửi của các tổ chức, cá nhận và các tổ chức tín dụng khác dưới
các hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn và các loại tiền gửi
khác.
- Phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu và giấy tờ có giá khác để huy
động vốn của tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước khi được Thống đốc
Ngân hàng Nhà nước chấp thuận…
- Vay vốn của các tổ chức tín dụng khác hoạt động tại Việt Nam và của
các tổ chức tín dụng nước ngoài.
- Vay vốn ngắn hạn của Ngân hàng Nhà nước theo quy định của Luật
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
b. Sử dụng vốn
Cùng với các hoạt động huy động vốn, NHTM thực hiện các hoạt động sử
dụng vốn, tạo nên các loại tài sản khác nhau của ngân hàng nhằm thu lợi
nhuận và đảm bảo an toàn. Hoạt động sử dụng vốn của các NHTM rất phong
phú và đa dạng về hình thức. Theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng sửa
đổi 2004, bên cạnh việc cho vay các NHTM còn được sử dụng vốn dưới rất
nhiều hình thức khác nhau như: cho thuê tài chính, chiết khấu các giấy tờ có
giá, bảo lãnh, bao thanh toán, tài trợ xuất nhập khẩu… Tuy nhiên, trong các
hoạt động sử dụng vốn của NHTM thì hoạt động cho vay là hoạt động cơ bản
nhất, thể hiện đặc trưng của NHTM.
Hoạt động cho vay của NHTM có nhiều cách phân loại, theo mỗi tiêu chí
khác nhau thì có những cách phân loại khác nhau. Dưới đây là một số loại
hình cho vay cơ bản:
Căn cứ vào tính chất nghiệp vụ, cho vay được phân loại thành:
- Thấu chi: là nghiệp vụ cho vay qua đó ngân hàng cho phép người vay
được chi trội trên số dư tiền gửi thanh toán của mình đến một giới hạn
Đồng Duy Lâm Ngân hàng 46B
7
Khóa luận tốt nghiệp
nhất định và trong khoảng thời gian xác định. Giới hạn này được gọi là
giới hạn thấu chi.
- Cho vay trực tiếp từng lần: là hình thức cho vay tương đối phổ biến của
ngân hàng đối với các khách hàng không có nhu cầu vay thường xuyên,
không có đủ điều kiện để cấp hạn mức thấu chi.
- Cho vay theo hạn mức: là nghiệp vụ mà theo đó ngân hàng thỏa thuận
cấp cho khách hàng hạn mức tín dụng. Hạn mức tín dụng có thể tính
cho cả kỳ hoặc cuối kỳ. Đó là số dư tối đa tại thời điểm tính.
- Cho vay luẩn chuyển: là nghiệp vụ mà theo đó ngân hàng cho vay đựa
trên luân chuyển của hàng hóa của doanh nghiệp.
- Cho vay trả góp: là hình thức cho vay theo đó ngân hàng cho phép
khách hàng trả gốc làm nhiều lần trong thời hạn tín dụng đã thỏa
thuận.
- Cho vay gián tiếp: là hình thức cho vay thông qua các tổ chức trung
gian, thường được áp dụng đối với thị trường có nhiều món vay nhỏ,
người vay phân tán, cách xa ngân hàng.
Căn cứ vào thời hạn cho vay, cho vay được phân loại thành:
- Cho vay ngắn hạn: là loại hình cho vay có thời hạn dưới 12 tháng và
chủ yếu được dùng để tài trợ cho tài sản lưu động hoặc nhu cầu sử dụng
vốn ngắn hạn của Nhà nước, doanh nghiệp, hộ sản xuất
- Cho vay trung, dài hạn: là loại hình cho vay có thời hạn trên 12 tháng,
chủ yếu để thực hiện đầu tư mua sắm tài sản cố định, xây dựng cơ sở hạ
tầng, đầu tư các dự án mới, đổi mới thiết bị sản xuất…
Căn cứ vào mức độ tín nhiệm đối với khách hàng, cho vay được chia
thành:
Đồng Duy Lâm Ngân hàng 46B
8
Khóa luận tốt nghiệp
- Cho vay có tài sản đảm bảo: là loại cho vay mà khách hàng vay phải có
tài sản thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của bên thứ ba và có sự đồng ý
của ngân hàng.
- Cho vay không có tài sản đảm bảo: là loại cho vay mà việc đảm bảo chỉ
dựa hoàn toàn vào uy tín của khách hàng.
Nếu căn cứ vào mục đích vay vốn, cho vay có thể được chia thành nhiều
loại như: cho vay tiêu dùng, cho vay công nghiệp, cho vay sản xuất nông
nghiệp, cho vay thương mại và dịch vụ…
Còn nếu căn cứ vào quy mô của khách hàng vay vốn thì cho vay được chia
thành: cho vay đối với khách hàng cá nhân và khách hàng doanh nghiệp.
Trong hoạt động cho vay đối với khách hàng doanh nghiệp thì cho vay còn
được phân thành cho vay đối với doanh nghiệp lớn và cho vay đối với doanh
nghiệp vừa và nhỏ sẽ được nghiên cứu kỹ hơn trong những phần sau.
Tóm lại, có rất nhiều tiêu chí khác nhau để phân loại hoạt động cho vay
của NHTM. Hoạt động cho vay là một hoạt động cơ bản, đặc trưng và chiếm
tỷ trọng lớn nhất trong doanh thu của các NHTM. Cùng với sự phát triển của
nền kinh tế, vai trò của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ngày càng được khẳng
định; vì thế tầm quan trọng của hoạt động cho vay đối với DNV&N của
NHTM ngày càng được nâng cao và đóng góp tỷ lệ không nhỏ vào thu nhập
của NHTM.
c. Hoạt động khác
Ngoài việc thực hiện vai trò trung gian chuyển vốn từ người thừa vốn sang
những người thiếu vốn để sản xuất kinh doanh và tiêu dùng trong nền kinh tế,
các NHTM còn tạo ra những công cụ tài chính quan trọng thay thế cho tiền
làm phương tiện thanh toán là thanh toán bằng séc và mở tài khoản thẻ ATM.
Quá trình thanh toán này đưa lại kết quả là phần lớn tiền giao dịch trong nền
kinh tế là tiền lưu thông qua hệ thống ngân hàng. Do đó làm cho hoạt động
Đồng Duy Lâm Ngân hàng 46B
9
Khóa luận tốt nghiệp
của NHTM gắn bó mật thiết với hệ thống lưu thông tiền tệ và hệ thống thanh
toán trong nước cũng như có mối liên hệ quốc tế rộng rãi.
Ngoài ra, NHTM còn cung cấp các hoạt động khác như:
- Góp vốn và mua cổ phần: NHTM được dùng vốn điều lệ và quỹ dự trữ để
góp vốn, mua cổ phần của các doanh nghiệp và các tổ chức tín dụng khác
trong nước theo quy định của pháp luật. Bên cạnh đó, NHTM còn được góp
vốn mua cổ phần và liên doanh với ngân hàng nước ngoài để thành lập ngân
hàng liên doanh.
- Tham gia thị trường tiền tệ: NHTM được tham gia thị trường tiền tệ theo
quy định của Ngân hàng Nhà nước thông qua các hình thức mua bán các công
cụ của thị trường tiền tệ.
- Kinh doanh ngoại hối: NHTM được phép trực tiếp kinh doanh hoặc thành
lập công ty trực thuộc để kinh doanh ngoại hối và vàng trên thị trường trong
nước và thị trường quốc tế.
- Ủy thác và nhận ủy thác: NHTM được ủy thác, nhận ủy thác làm đại lý
trong các lĩnh vực liên quan đến hoạt động ngân hàng, kể cả việc quản lý tài
sản, vốn đầu tư của tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước.
- Tư vấn tài chính: NHTM được cung ứng các dịch vụ tư vấn tài chính, tiền
tệ cho khách hàng dưới hình thức tư vấn trực tiếp hoặc thành lập công ty tư
vấn trực thuộc ngân hàng.
- Cung ứng dịch vụ bảo hiểm, bảo quản vật có giá…
1.1.1.3. Cho vay của NHTM
Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó NHTM giao khách hàng
một khoản tiền để sử dụng vào một mục đích và thời hạn nhất định theo thỏa
thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc lẫn lãi.
Khi có nhu cầu vay vốn, khách hàng gửi cho NHTM một bộ hồ sơ vay vốn
bao gồm giấy đề nghị vay vốn và các tài liệu cần thiết chứng minh đủ điều
Đồng Duy Lâm Ngân hàng 46B
10
Khóa luận tốt nghiệp
kiện vay vốn. Khách hàng phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính
xác và hợp pháp của các tài liệu gửi cho NHTM. NHTM hướng dẫn các loại
tài liệu khách hàng cần gửi tùy theo đặc điểm của cụ thể của từng khách hàng,
loại cho vay và khoản vay. Thông thường, một bộ hồ sơ vay vốn của khách
hàng doanh nghiệp gồm có:
 Giấy đề nghị vay vốn.
 Giấy tờ chứng minh tư cách pháp nhân của khách hàng như giấy
phép thành lập, quyết định bổ nhiệm Giám Đốc, điều lệ hoạt
động.
 Phương án sản xuất kinh doanh và kế hoạch trả nợ, hoặc dự án
đầu tư.
 Báo cáo tài chính của thời kỳ gần nhất.
 Các giấy tờ liên quan đến tài sản thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh.
 Các giấy tờ liên quan khác.
Việc vay vốn là nhu cầu tự nguyện của khách hàng và là cơ hội để NHTM
cấp tín dụng và thu lợi nhuận từ hoạt động của mình. Tuy nhiên, thông
thường khách hàng vay vốn của NHTM phải đảm bảo 2 nguyên tắc:
- Thứ nhất, sử dụng vốn đúng mục đích đã thỏa thuận trong hợp đồng tín
dụng. Việc sử dụng vốn vào mục đích gì là do 02 bên, NHTM và khách hàng,
thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng. Đảm bảo sử dụng vốn vay đúng mục đích
thỏa thuận là nhằm đảm bảo hiệu quả sử dụng vốn vay và khả năng thu hồi nợ
vay sau này. Do vậy, về phía khách hàng, việc sử dụng vốn vay đúng mục
đích góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn vay, đồng thời giúp DN đảm
bảo khả năng thanh toán nợ cho ngân hàng. Từ đó, nâng cao uy tín của khách
hàng đối với ngân hàng và củng cố quan hệ giữa khách hàng với ngân hàng.
Còn về phía ngân hàng, trước khi cho vay cần tìm hiểu kỹ mục đích vay vốn
của khách hàng và kiểm tra xem khách hàng có sử dụng vốn vay đúng mục
đích hay không. Điều này là rất quan trọng vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến khả
Đồng Duy Lâm Ngân hàng 46B
11
Khóa luận tốt nghiệp
năng thu hồi nợ vay sau này. Việc khách hàng sử dụng vốn vay không đúng
mục đích dễ dẫn đến thất thoát và lãng phí khiến vốn vay không tạo ra được
dòng tiền trả nợ cho ngân hàng sau này.
- Thứ hai, hoàn trả nợ gốc và lãi vay đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp
đồng tín dụng. Hoàn trả nợ gốc và lãi vay là một nguyên tắc không thể thiếu
trong hoạt động cho vay của NHTM. Điều này xuất phát từ tính chất tạm thời
nhàn rỗi của nguồn vốn mà ngân hàng sử dụng để cho vay. Phần lớn nguồn
vốn mà ngân hàng sử dụng cho vay là vốn huy động từ khách hàng gửi tiền;
nên sau một thời gian cho vay nhất định, khách hàng vay tiền phải trả nợ cho
ngân hàng để ngân hàng thanh toán cho người gửi tiền.
Mặc dù khi tiến hành cho vay, NHTM yêu cầu khách hàng vay vốn phải
đảm bảo các nguyên tắc nêu trên nhưng trên thực tế thì không phải khách
hàng nào cũng có thể tuân thủ đúng nguyên tắc này. Do vậy, để đảm bảo các
nguyên tắc vay vốn, NHTM chỉ xem xét cho vay đối với những khách hàng
đã thỏa mãn một số điều kiện nhất định. Theo quy chế cho vay của Ngân hàng
Nhà nước ban hành, các điều kiện vay vốn khách hàng cần có bao gồm:
 Có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự và chịu
trách nhiệm dân sự theo quy định của pháp luật.
 Có mục đích vay vốn hợp pháp.
 Có khả năng tài chính đảm bảo trả nợ trong thời hạn cam kết.
 Có phương án sản xuất kinh doanh, dịch vụ khả thi và có hiệu
quả.
 Thực hiện các quy định về bảo đảm tiền vay theo quy định của
Chính Phủ và hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
Ở nước ta hiện nay, hơn 96% doanh nghiệp trong nền kinh tế là các doanh
nghiệp vừa và nhỏ, vì thế cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ đang ngày
Đồng Duy Lâm Ngân hàng 46B
12
Khóa luận tốt nghiệp
chiếm một tỷ trọng lớn hơn trong hoạt động cho vay đối với nền kinh tế của
các ngân hàng thương mại.
1.1.2. Cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ của NHTM
1.1.2.1. Khái niệm và đặc điểm của Doanh nghiệp vừa và nhỏ
Nói đến doanh nghiệp vừa và nhỏ là nói đến cách phân loại doanh nghiệp
dựa trên độ lớn hay quy mô của các doanh nghiệp. Việc phân loại doanh
nghiệp vừa và nhỏ phụ thuộc vào loại tiêu thức sử dụng quy định giới hạn các
tiêu thức phân loại quy mô doanh nghiệp. Điểm khác biệt cơ bản trong khái
niệm doanh nghiệp vừa và nhỏ giữa các nước chính là việc lựa chọn các tiêu
thức đánh giá quy mô doanh nghiệp và lượng hóa các tiêu thức ấy thông qua
những tiêu chuẩn cụ thể. Mặc dù có những khác biệt nhất định giữa các nước
về quy định các tiêu thức phân loại doanh nghiệp vừa và nhỏ, song khái niệm
chung nhất về doanh nghiệp vừa và nhỏ có nội dung như sau: “Doanh nghiệp
vừa và nhỏ là những cơ sở sản xuất – kinh doanh có tư cách pháp nhân kinh
doanh vì mục đích lợi nhuận, có quy mô doanh nghiệp trong những giới hạn
nhất định tính theo các tiêu thức vốn, lao động, doanh thu, giá trị gia tăng thu
được trong từng thời kỳ theo quy định của từng quốc gia.”
Theo tiêu chuẩn của Ngân hàng Thế giới (World Bank) và Công ty tài
chính Quốc tế (IFC), các doanh nghiệp được phân chia quy mô như sau:
- Doanh nghiệp vô cùng nhỏ (Micro - enterprise): có đến 10 lao động,
tổng tài sản không quá 100.000 USD và tổng doanh thu hàng năm
không quá 100.000 USD.
- Doanh nghiệp nhỏ (Small - enterprise): có không quá 50 lao động, tổng
tài sản có trị giá không quá 3.000.000 USD và tổng doanh thu hàng
năm không quá 3.000.000 USD.
Đồng Duy Lâm Ngân hàng 46B
13
Khóa luận tốt nghiệp
- Doanh nghiệp vừa (Medium - enterprise): có không quá 300 lao động,
tổng tài sản có trị giá không quá 15.000.000 USD và tổng doanh thu
hàng năm không quá 15.000.000 USD.
Ở Việt Nam, theo Nghị Định số 90/2001 NĐ-CP ngày 23/11/2001 của
Chính Phủ thì doanh nghiệp vừa và nhỏ được định nghĩa như sau: “Doanh
nghiệp vừa và nhỏ là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã được đăng ký
kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ VND
hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người”.
Ở Việt Nam, khi nói đến doanh nghiệp vừa và nhỏ chủ yếu là nói đến các
doanh nghiệp thuộc khu vực ngoài quốc doanh. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ
Việt Nam có các đặc điểm sau:
- Thứ nhất, quy mô về vốn thường nhỏ, năng lực cạnh tranh trên thị
trường thấp; công nghệ lạc hậu, thủ công.
- Thứ hai, doanh nghiệp vừa và nhỏ tạo ra công ăn việc làm cho một số
lượng lớn lao động. Hiện nay, ở nhiều nước trên thế giới, các doanh
nghiệp vừa và nhỏ là một trong những nguồn tạo ra nhiều công ăn việc
làm nhất và năng động nhất.
- Thứ ba, lĩnh vực hoạt động của các doanh nghiệp vừa và nhỏ thường là
trong những ngành công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng và các ngành
tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ.
- Thứ tư, các doanh nghiệp vừa và nhỏ có vai trò quan trọng trong việc
phân bổ các ngành công nghiệp đến nhiều vùng dân cư khác nhau, nhờ
đó giảm bớt được khoảng cách phát triển giữa các khu vực khác nhau,
các vùng khác nhau trên toàn quốc.
- Thứ năm, các doanh nghiệp vừa và nhỏ đóng góp đáng kể vào việc duy
trì và phát triển các ngành nghề truyền thống, sản xuất ra được các sản
phẩm mang đậm bản sắc dân tộc.
Đồng Duy Lâm Ngân hàng 46B
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét