Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
biệt mà trong toàn bộ quá trình sản xuất và tái sản xuất liên tục suốt thời gian
tồn tại của doanh nghiệp, từ khi bắt đầu quá trình sản xuất đầu tiên đến chu
kỳ sản xuất cuối cùng. Cụ thể vốn có các vai trò sau:
Một là, vốn kinh doanh là điều kiện tiên quyết, quan trọng nhất cho sự ra
đời, tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Bất kỳ một doanh nghiệp nào
muốn hoạt động, đều cần phải có một lợng vốn nhất định, đợc quy định trong
vốn pháp định của từng ngành nghề kinh doanh.
Hai là, vốn kinh doanh là chi tiêu đánh giá quy mô của doanh nghiệp,
xác định năng lực tài chính của doanh nghiệp ngoài ra vốn của doanh nghiệp
lớn hay nhỏ còn quyết định đến quy mô thị trờng và khả năng mở rộng thi tr-
ờng của doanh nghiệp.
Ba là, trong cơ chế thị trờng việc có vốn và tập trung vốn đợc nhiều
hay ít vào doanh nghiệp, có vai trò cực kỳ quan trọng trong việc đẩy mạnh
kinh doanh. Đồng thời nó cũng là nguồn lực để phát huy tài năng của ban
lãnh đạo doanh nghiệp, là điều kiện để thực hiện các chiến lợc kinh doanh .
Bốn là, đối với các doanh nghiệp mới đợc thành lập, số vốn ban đầu đợc
dùng để đầu t vào các loại tài sản cần thiết, tạo ra cơ sở vật chất ban đầu giúp
cho doanh nghiệp hoạt động đợc trong chu kỳ sản xuất kinh doanh đầu tiên.
Đối với các doanh nghiệp đang hoạt động thì lợng vốn bổ sung thêm cũng đ-
ợc để mua sắm, trang bị các loại tài sản còn thiếu, giúp cho doanh nghiệp
điều chỉnh cơ cấu tài sản trong quá trình sản xuất kinh doanh.
Năm là, vốn kinh doanh là điều kiện để duy trì sản xuất đổi mới thiết bị
công nghệ, mở rộng sản xuất nâng cao chất lợng sản phẩm, tăng việc làm và
thu nhập cho ngời lao động, từ đó tạo điều kiện cho doanh nghiệp tăng cờng
khả năng cạnh tranh trên thị trờng, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Có nhiều cách phân loại vốn nhng thờng vốn đợc phân loại thành vốn lu
động và vốn cố định
- Vai trò của vốn cố định:
5
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Vốn cố định biểu hiện giá trị của tài sản cố định hữu hình cũng nh là
vô hình, là cơ sở vật chất cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp. Doanh nghiệp không thể bắt đầu quá trình sản xuất kinh doanh nếu
nh không có đầy đủ các máy móc thiết bị cần thiết. Kết hợp với trình độ khả
năng quản lý, vốn cố định quyết định năng lực sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp và góp phần đáng kể trong việc xác lập vị thế của doanh nghiệp
trên thị trờng. Không những có ý nghĩa trong quá trình sản xuất hiện tại, vốn
cố định còn thể hiện khả năng, hớng phát triển của doanh nghiệp trong tơng
lai. Chúng ta có thể thấy điều này khi so sánh cơ hội phát triển của một
doanh nghiệp có máy móc thiết bị lạc hậu với một doanh nghiệp có dây
chuyền sản xuất, máy móc thiết bị hiện đại thờng xuyên đợc đổi mới. Trong
điều kiện nền kinh tế thị trờng với sự cạnh tranh gay gắt nh hiện nay, khi mà
các mục tiêu lâu dài về thị trờng, khách hàngđợc quan tâm hơn thì vai trò
của vốn cố định đối với sự phát triển và tồn tại của doanh nghiệp càng đợc
thể hiện rõ.
- Vai trò của vốn lu động:
Cũng nh một phần vốn, vốn lu động đảm bảo cho sự thờng xuyên,
liên tục của quá trình sản xuất kinh doanh từ khâu thu mua nguyên vật liệu
đến tiến hành sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Đây cũng chính là vốn luân
chuyển giúp cho quá trình sử dụng tốt máy móc thiết bị và lao động, để tiến
hành sản xuất kinh doanh nhằm thu lợi nhuận. Vì vốn lu động chuyển hóa
một lần giá trị vào giá trị sản phẩm nên nó là cơ sở để xác định giá thành và
giá bán sản phẩm.
Ngoài ra, vòng tuần hoàn và chu chuyển của vốn lu động diễn ra
trong toàn bộ các giai đoạn của chu kỳ sản xuất kinh doanh nên đồng thời
trong quá trình theo dõi sự vận động của vốn lu động, doanh nghiệp cũng
quản lý gần nh toàn bộ các hoạt động diễn ra trong chu kỳ sản xuất kinh
doanh.
6
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
2.2. Nguồn tài trợ của doanh nghiệp trong cơ chế thị tr-
ờng:
Trong điều kiện kinh tế thị trờng, doanh nghiệp có thể huy động vốn
theo nhiều phơng thc khác nhau nh vay ngân hàng, các công ty tài chính,
phát hành cổ phiếuVấn đề đặt ra đối với ngời quản lý tài chính doanh
nghiệp là phải hiểu rõ đặc tính, điều kiện của mỗi nguồn tài trợ để huy động
đợc nguồn vốn bên ngoài doanh nghiệp với chi phí thấp nhất để tài trợ cho
các hoạt động của doanh nghiệp. Thông thờng nguồn tài trợ đợc chia thành
nguồn tài trợ ngắn hạn và dài hạn.
2.2.1. Nguồn tài trợ ngắn hạn:
Các nguồn tài trợ ngắn hạn là những khoản tiền mà doanh nghiệp sử
dụng phải hoàn trả trong thời hạn một năm kể từ ngày nhận đợc chúng. Các
nguồn tài trợ này đảm bảo tài trợ chủ yếu cho nhu cầu về vốn lu động của
doanh nghiệp, đặc biệt là nhu cầu về vốn lu động tạm thời. Nguồn tài trợ
ngắn hạn có vai trò đặc biệt quan trọng đối với hoạt động kinh doanh thờng
xuyên của doanh nghiệp. Nhu cầu tài chính của một doanh nghiệp tại bất cứ
thời điểm nào cũng chính bằng tổng số tài sản mà doanh nghiệp cần phải có
để đảm bảo hoạt động kinh doanh một cách hiệu quả. Do tính chu kỳ, những
biến động mùa vụ của quá trình hoạt động kinh doanh làm cho nhu cầu tài
chính của doanh nghiệp dao động theo thời gian và cũng mang tính mùa vụ,
đặc biệt là nhu cầu tài chính cho các khoản vốn lu động. Tại những thời điểm
mùa vụ, những khoảng thời gian mà nhu cầu về vốn lu động lên cao, vợt quá
nhu cầu thờng xuyên cần thiết, doanh nghiệp chỉ có thể đáp ứng bằng các
nguồn tài trợ ngắn hạn. Nghiên cứu thực tế cho thấy: có tới 40%- 60% khoản
nợ của doanh nghiệp là khoản nợ phải trả ngắn hạn. Trong quá trình hoạt
động, đối với các doanh nghiệp, các nguồn tài trợ này thờng bao gồm 3
nguồn chính:
7
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
- Nợ tích lũy: gồm nợ lơng công nhân cha đến kỳ trả, nợ thuế của
Nhà nớc khi cha đến kỳ nộp, tiền đặt cọc của khách hàngĐây là hình thức
tài trợ miễn phí nhng có giới hạn.
- Tín dụng thơng mại (tín dụng của nhà cung cấp): gồm mua bán
chịu, bán trả chậm hay trả góp, thờng kèm theo các điều kiện về thời hạn
thanh toán và chiết khấuhình thức này rất hiệu quả, đợc áp dụng phổ biến
nhng cũng tiềm ẩn những rủi ro nên phải tính toán và cân nhắc thận trọng.
- Tín dụng ngắn hạn ngân hàng: đây là nguồn tài trợ quan trọng nhng
phải có đầy đủ những điều kiện theo quy định và phải tuân thủ những nguyên
tắc nhất định, bao gồm nhiều hình thức nh: cho vay thanh toán, cho vay theo
hạn mức tín dụng, cho vay theo hợp đồng, chiết khấu thơng mại
2.2.2. Nguồn tài trợ dài hạn:
Nhìn chung, tài trợ dài hạn của doanh nghiệp là từ 1 năm trở lên. Các
doanh nghiệp sử dụng nguồn tài trợ dài hạn để đáp ứng nhu cầu vốn cho việc
hình thành TSCĐ và TSLĐ thờng xuyên. Trong quá trình hoạt động và phát
triển, doanh nghiệp có thể huy động từ các nguồn tài trợ dài hạn khác nhau
để đáp ứng nhu cầu vốn cho đầu t dài hạn của mình. Sau đây là một số hình
thức tài trợ dài hạn:
- Tự tài trợ: là hình thức doanh nghiệp tự tài trợ cho đầu t của
mình bằng nguồn vốn của chính mình. Đây là nguồn quan trọng nhất trong
nguồn tài trợ của doanh nghiệp. Gồm có 2 dạng:
+ Tự tài trợ duy trì: là số khấu hao lũy kế còn lại của doanh nghiệp,
trong lúc chờ việc mua sắm TSCĐ khác thay thế có thể sử dụng vốn khấu hao
lũy kế để tài trợ cho quá trình sản xuất kinh doanh.
+ Tự tài trợ tăng trởng: gồm phần lợi nhuận ròng không chia cho các
đối tợng góp vốn mà dự phòng mang tính chất dự trữ, trong đó phần lợi
nhuận ròng không chia để lại tiếp tục đầu t là nguồn quan trọng nhất.
8
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
- Phát hành cổ phiếu: đây là nguồn tài trợ quan trọng nhng chỉ áp
dụng với công ty cổ phần.
- Phát hành trái phiếu doanh nghiệp: là một công cụ tài chính
thông dụng đợc doanh nghiệp sử dụng để vay dài hạn, là chứng chỉ vay vốn
do doanh nghiệp phát hành. Mặt lợi là tạo cơ hội cho doanh nghiệp đạt doanh
lợi vốn chủ sỡ hữu cao, không bị phân chia quyền phân phối lợi nhuận, quyền
quản lý doanh nghiệp và chi phí phát hành thấpnhng doanh nghiệp buộc
phải trả lợi tức, vốn vay đúng hạn, làm tăng hệ số nợ
- Tín dụng dài hạn và trung hạn ngân hàng: vay dài hạn thờng 3
đến 5 năm, vay trung hạn thờng 1đến 3 hoặc 5 năm. Doanh nghiệp muốn đợc
tài trợ trung hạn và dài hạn của ngân hàng cần phải thỏa mãn các điều kiện
và tiêu chuẩn vay vốn. Đây là nguồn tài trợ quan trọng của các doanh nghiệp.
- Tín dụng thuê mua: là hình thức tài trợ tín dụng thông qua các
loại tài sản, máy móc, thiết bịĐây là một hình thức tín dụng đặc biệt mới
đợc hình thành ở nớc ta không lâu và ngày càng phát triển. Quan hệ tín dụng
thuê mua đợc thực hiện trên cơ sở thỏa thuận giữa ngời đi thuê tài sản và ngời
cho thuê. Thỏa thuận thuê mua là hợp đồng giữa 2 bên hoặc nhiều bên, liên
quan đến một hay nhiều tài sản. Ngời cho thuê chuyển giao tài sản cho ngời
thuê độc quyền sử dụng trong một khoảng thời gian nhất định. Đổi lại, ngời
thuê phải trả một số tiền cho chủ tài sản tơng xứng với quyền sử dụng và
quyền hởng dụng. Hình thức này có 2 phơng thức giao dịch chủ yếu là thuê
vận hành và thuê tài chính.
- Nguồn tài trợ khác: nh là huy động vốn góp liên doanh dài hạn,
vay vốn dài hạn của nớc ngoài hay đợc Nhà nớc hoặc các tổ chức khác trợ
cấp đầu t.
2.3. Khái quát về năng lực tài chính và phân tích năng lực
tài chính của doanh nghiệp:
9
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Năng lực tài chính của doanh nghiệp là khả năng tạo lập, phát triển và
quản lý sử dụng vốn của doanh nghiệp. Trong cơ chế thị trờng, doanh nghiệp
muốn huy động đợc vốn một cách thuận lợi, muốn tăng trởng vốn để phát
triển sản xuất kinh doanh thì doanh nghiệp phải làm ăn có hiệu quả sao cho
một đồng vốn sử dụng mang lại nhiều đồng lợi nhuận. Vì vậy để đánh giá
năng lực hoạt động tài chính của doanh nghiệp ngời ta thờng xem xét trên
các phơng diện hiệu quả sử dụng các loại vốn, khả năng sinh lời vốn của
doanh nghiệp và khả năng độc lập tài chính của doanh nghiệp.
Trong điều kiện hiện nay, yêu cầu của các quy luật kinh tế đã đặt ra tr-
ớc mắt mọi doanh nghiệp những chuẩn mực hết sức khắt khe: sản xuất những
cái thị trờng cần chứ không phải sản xuất những cái mình có và phải cạnh
tranh với rất nhiều doanh nghiệp cùng ngànhVì vậy, để sống sót đợc thì
doanh nghiệp phải sử dụng đồng vốn của mình sao cho tiết kiệm, hiệu quả.
Một mặt, phải bảo toàn đồng vốn, mặt khác phải sử dụng các biện pháp tăng
nhanh vòng quay vốn, nâng cao khả năng sinh lời của vốn kinh doanh. Có
nh vậy mới thể hiện đợc năng lực tài chính của một doanh nghiệp bởi năng
lực tài chính chính là khả năng làm sao để doanh thu ngày càng tăng trong
khi chi phí ngày càng giảm. Khi doanh nghiệp sản xuất kinh doanh có lãi thì
chứng tỏ doanh nghiệp đã sử dụng có hiệu quả đồng vốn. Để đánh giá năng
lực tài chính của doanh nghiệp ta cần phải phân tích sự biến động của các
báo cáo tài chính hàng năm thông qua một số chỉ tiêu cơ bản nh thông qua
kết quả sản xuất kinh doanh cho ta thấy doanh nghiệp đang kinh doanh có lãi
hay là lỗ, từ đó cho ta thấy khả năng huy động vốn của doanh nghiệp tốt hay
không. Còn thông qua bảng cân đối kế toán cho ta biết đợc tình hình vốn và
nguồn vốn của doanh nghiệp từ đó thấy đợc khả năng trả nợ của doanh
nghiệp, khả năng thanh toán tức thời, khả năng thanh toán nhanh.Bên cạnh
đó, ta kết hợp phân tích một số chỉ tiêu của các báo cáo để đánh giá hiệu quả
sử dụng VCĐ, VLĐ và khả năng sinh lời vốn của doanh nghiệp. Việc phân
tích các yếu tố này sẽ cho ta kết luận chính xác về năng lực tài chính của
10
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
doanh nghiệp bởi vì qua các chỉ tiêu đó ta sẽ đa ra đợc nhận xét về khả năng
huy động, phát triển và quản lý sử dụng vốn của doanh nghiệp cũng nh khả
năng trang trải nợ và các khoản chi phí khác.
Một doanh nghiệp có năng lực tài chính sẽ khác hoàn toàn so với
doanh nghiệp không có năng lực tài chính vì nếu doanh nghiệp có năng lực
tài chính tức là doanh nghiệp đã sử dụng có hiệu quả đồng vốn bỏ ra, đã có
khả năng trang trải các khoản chi phí, nợ nần và huy động đợc vốn khi cần
thiết. Lợi nhuận của doanh nghiệp ngày càng tăng, quy mô sản xuất ngày
càng phát triển và đa dạng. Do vậy, doanh nghiệp có năng lực tài chính sẽ có
tác động tốt đến kết quả sản xuất kinh doanh làm cho sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp ngày càng có hiệu quả. Ngợc lại, nếu doanh nghiệp không
có năng lực tài chính thì có nghĩa là doanh nghiệp đang làm ăn thua lỗ,
không có khả năng huy động đợc vốn trên thị trờng, vốn chủ sỡ hữu thì ít mà
nợ phải trả thì nhiều. Doanh nghiệp không có khả năng thanh toán cho các
chủ nợ, không tạo dợc uy tín với các đối tác. Khi tiến hành sản xuất kinh
doanh, doanh nghiệp sẽ gặp nhiều khó khăn về vốn dẫn tới kém hiệu quả,
thua lỗ. Do đó, nếu doanh nghiệp không có năng lực tài chính sẽ làm cho sản
xuất kinh doanh ngày càng xuống dốc và kém phát triển, khiến cho doanh
nghiệp có nguy cơ phá sản.
Phân tích năng lực tài chính là một vấn đề quan trọng trong phân tích
tài chính doanh nghiệp, thông thờng, qua hệ thống, phơng pháp, công cụ và
kỹ thuật phân tích giúp cho việc đánh giá toàn diện, tổng hợp, khái quát và
chi tiết về năng lực tài chính. Trên cơ sở đó, nhận biết, phán đoán và dự báo
và đa ra quyết định tài chính, quyết định tài trợ cũng nh đầu t phù hợp.
11
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
2.4. ý nghĩa của phân tích năng lực tài chính của doanh nghiệp:
Phân tích năng lực tài chính là quá trình xem xét, kiểm tra và đánh giá
tiềm năng, hiệu quả kinh doanh cũng nh rủi ro trong tơng lai và triển vọng
của doanh nghiệp. Vì vậy phân tích năng lực tài chính doanh nghiệp là mối
quan tâm của nhiều nhóm ngời khác nhau nh: Ban giám đốc, các nhà đầu t,
nhà quản lý, chính phủ ngời lao độngMỗi một nhóm ngời lại quan tâm đến
các khía cạnh khác nhau, cần những thông tin khác nhau.
Đối với chủ doanh nghiệp và các nhà quản trị doanh nghiệp, mối
quan tâm hàng đầu của họ là tìm kiếm lợi nhuận, xem xét khả năng trả nợ và
phát huy tiềm năng của doanh nghiệp. Ngoài ra, các nhà quản trị doanh
nghiệp còn quan tâm đến mục tiêu khác nh tạo công ăn việc làm, nâng cao
chất lợng sản phẩm, tăng doanh thu, giảm chi phí Tuy nhiên, doanh nghiệp
chỉ có thể thực hiện các mục tiêu này nếu họ kinh doanh có lãi và thanh toán
đợc nợ. Một doanh nghiệp bị lỗ liên tục rút cục sẽ bị cạn kiệt các nguồn lực
và buộc phải đóng cửa, còn nếu doanh nghiệp không có khả năng thanh toán
các khoản nợ đến hạn trả cũng buộc phải ngừng hoạt động. Việc đánh giá
tình hình tài chính doanh nghiệp giúp cho nhà quản lí nắm bắt tình hình tài
chính doanh nghiệp cả quá khứ, hiện tại lẫn tơng lai nh: tình hình thu chi khả
năng thanh toán, cơ cấu vốn và nguồn vốn, tình hình đầu t, hiệu suất sử dụng
vốn, khả năng sinh lời Thông qua đó các nhà quản lí kiểm tra kiểm soát vì
hoạt động của doanh nghiệp và là cơ sở cho sự dự đoán tài chính.
Đối với các chủ ngân hàng và các nhà cho vay tín dụng, mối quan
tâm của họ hớng chủ yếu vào khả năng trả nợ của doanh nghiệp. Vì vậy họ
đặc biệt chú ý đến số lợng tiền và các tài sản khác có thể chuyển đổi thành
tiền nhanh, từ đó so sánh với số nợ ngắn hạn để biết đợc khả năng thanh toán
tức thời của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, họ cũng rất quan tâm đến số lợng
vốn chủ sở hữu vì đó là khoản bảo hiểm cho họ trong trờng hợp doanh nghiệp
gặp rủi ro. Không mấy ai sẵn sàng cho vay nếu không chắc chắn về lợi ích
của việc cho vay và mức sinh lời của đồng vốn và khả năng thu hồi vốn. Vì
12
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
thế mà khả năng thanh toán và kết quả hoạt động của doanh nghiệp luôn là
vấn đề chú ý hàng đầu đối với các nhà đầu t. Để thấy đợc điều này chỉ phải
thông qua phân tích năng lực tài chính doanh nghiệp.
Đối các nhà đầu t thì để đầu t vào bất cứ lĩnh vực nào thì nhà đầu t
cũng phải quan tâm tới mức sinh lời của đơn vị và lĩnh vực đó, khả năng hoạt
động, khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trờng, lợi nhuận bình
quân vốn, vòng quay vốn, khả năng phát triển của doanh nghiệp Điều này
là nhằm đảm bảo cho sự an toàn về vốn đầu t của chủ đầu t. Từ đó ảnh hởng
tới các quyết định tiếp tục đầu t vào Công ty trong tơng lai.
Đối với ngời lao động thì quyền lợi và cuộc sống của ngời lao động
luôn gắn liền với doanh nghiệp. Vì nguồn thu nhập chính của ngời lao động
là lơng và các khoản tiền thởng. Nếu doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả thì
ngời lao động sẽ có thu nhập cao và ngợc lại. Chính điều này khiến cho ngời
lao động phải quan tâm tới tình hình tài chính doanh nghiệp
Bên cạnh những nhóm ngời trên, các cơ quan tài chính, cơ quan thuế, nhà
cung cấp cũng rất quan tâm đến bức tranh tài chính của doanh nghiệp với
những mục tiêu cơ bản giống nh các chủ ngân hàng, chủ doanh nghiệp và
nhà đầu tbởi vì nó liên quan tới quyền lợi, trách nhiệm và mục tiêu hiện
tại, tơng lai của họ.
2.5. Nội dung phân tích năng lực tài chính của doanh
nghiệp:
2.5.1. Phân tích tình hình tài chính hiện tại:
Việc phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp tại thời điểm
hiện tại cho thấy thực trạng về nguồn vốn, tài sản, nguồn hình thành tài sản,
các khoản nợ của doanh nghiệp. Từ đó đánh giá đợc những mặt mạnh mà
doanh nghiệp đang có và những mặt yếu kém mà doanh nghiệp đang mắc
phải. Thông qua việc phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp ta sẽ
thấy đợc cơ cấu tài sản, nguồn vốn của doanh nghiệp có hợp lý không, tổng
13
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
tài sản của doanh nghiệp cao hay thấp, doanh nghiệp đang kinh doanh có lãi
hay lỗ. Từ đó rút ra là doanh nghiệp có năng lực tài chính hay không, nếu
doanh nghiệp có năng lực tài chính thì đang có xu hớng tăng lên hay giảm đi
để biết cách đa ra các biện pháp nhằm nâng cao năng lực tài chính của doanh
nghiệp trong những năm tới.
2.5.1.1. Phân tích tình hình vốn của doanh nghiệp:
Phân tích bảng cân đối kế toán nhằm cung cấp những thông tin về
tài chính của doanh nghiệp cho các nhà quản lý, kế toán trởng và các đối t-
ợng quan tâm khác, cần phải xem kết cấu vốn và nguồn vốn để từ đó có thể
đối chiếu với những kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Tài sản đó tăng
hay giảm là do nguyên nhân nào gây ra?
Tùy theo từng loại hình sản xuất kinh doanh cụ thể để xem xét tỷ
trọng từng khoản vốn chiếm trong tổng số tài sản là cao hay thấp. Nếu là
doanh nghiệp sản xuất kinh doanh cần phải có dự trữ về nguyên vật liệu đầy
đủ nhằm đáp ứng cho nhu cầu sản xuất sản phẩm, nếu là doanh nghiệp thơng
mại, cần có lợng hàng đầy đủ để cung cấp cho nhu cầu bán kịp thờiVí dụ
nh đối với các khoản phải thu, tỷ trọng so với tổng vốn càng cao thể hiện
doanh nghiệp bị chiếm vốn càng nhiều, đây là nguyên nhân dẫn đến hiệu quả
sử dụng vốn thấp và ngợc lại.
2.5.1.2. Phân tích tình hình nguồn vốn của doanh nghiệp:
Cũng nh phân tích tài sản, nhà phân tích cũng lấy số liệu từ bảng cân
đối kế toán để phân tích tình hình biến động nguồn vốn. Chúng ta phải phân
tích rõ sự biến đổi này là do nguyên nhân từ đâu, nó ảnh hởng tốt hay xấu tới
tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Ta phải đi sâu vào phân tích từng biến động cụ thể xem nguồn vốn
chủ sỡ hữu, các khoản phải trả biến động nh thế nào? Ngoài ra cần xác định
tỷ trọng của từng loại so với tổng thể là bao nhiêu qua các năm và có hợp lý
không. Nếu hợp lý có nghĩa là tình hình tài chính hiện tại của doanh nghiệp
rất khả quan, có năng lực tài chính.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét