Thứ Năm, 27 tháng 2, 2014

Gắn kết vấn đề môi trường vào công tác lập kế hoạch nhằm phát triển bền vững ở Việt Nam - thực tiễn và pháp luật điều chỉnh



nguyên sinh hay các mỏ khoáng sản, là các dòng sông đen đúa vì nước thải và
bầu trời xám xịt vì khói bụi công nghiệp…Sự phát triển theo cách này đã dẫn
đến sự nảy sinh các vấn đề mang tính toàn cầu như môi trường ngày càng bị ô
nhiễm, suy thoái, các nguồn tài nguyên cạn kiệt… Và cứ như vậy, quá trình
phát triển này sẽ đưa loài người đến đâu? Liệu loài người còn có thể tồn tại bao
lâu? Dựa trên cơ sở nào để tồn tại?…
Trên thế giới, nhiều hội nghị đã được tổ chức để bàn về vấn đề phát
triển sao cho vẫn đảm bảo được nhu cầu nhưng không gây ảnh hưởng đến môi
trường, không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương
lai. Tại các hội nghị này, nhiều ý kiến đã được đưa ra, nhưng tựu trung lại thì đa
số đều thống nhất rằng: “vấn đề môi trường và tăng trưởng kinh tế phải được
giải quyết đồng bộ”
(2)
, chỉ có phát triển một cách bền vững, gắn bó một cách
hữu cơ mục tiêu phát triển với mục tiêu bảo vệ môi trường trong mọi hoạt động
phát triển thì mới có điều kiện thành công.
Như vậy, cho dù phát triển có là quy luật tất yếu, là mơ ước muôn đời
của nhân loại thì phát triển vẫn không thể được đẩy đến mức hủy hoại môi
trường, nơi sự phát triển được thực hiện. Phát triển phải được đặt trong sự hài
hòa với những yêu cầu hợp lý của bảo vệ môi trường. Và phát triển bền vững
chính là phương thức đảm bảo sự hài hòa ấy.
Vậy Phát triển bền vững là gì?
2. KHÁI NIỆM VÀ LƯỢC SỬ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
Mặc dù chúng ta có thể tìm thấy những ý tưởng về sự phát triển lâu bền
từ nhiều nền văn minh cổ đại
(3)
, nhưng khái niệm “phát triển bền vững” thực sự
chỉ mới xuất hiện trong thời gian gần đây, khi vấn đề môi trường trở thành một
yếu tố giới hạn đe dọa sự tiếp tục tăng trưởng, phát triển; và khi việc gìn giữ
và bảo vệ môi trường thực sự trở thành vấn đề sống còn của nhân loại, thuật
ngữ này nhanh chóng trở nên quen thuộc, phổ biến. Theo một thống kê chưa
thật đầy đủ, “ít nhất có tới 70 định nghĩa về phát triển bền vững đang được lưu

5


hành”
(4)
. Các nước thường căn cứ vào khái niệm khung do UNEP đưa ra, đồng
thời căn cứ vào bối cảnh kinh tế, xã hội, chính trị, môi trường cụ thể của quốc
gia mà đưa ra định nghĩa về phát triển bền vững làm cơ sở cho việc hoạch
định, tổ chức thực hiện chiến lược, kế hoạch phát triển của đất nước mình.
Cụm từ “phát triển bền vững” lần đầu tiên được sử dụng một cách
chính thức trên quy mô quốc tế vào năm 1987, trong văn bản “Tương lai
chung của chúng ta”, do WCED phát hành; theo đó, “phát triển bền vững”
được hiểu là “sự phát triển đáp ứng những nhu cầu của hiện tại, nhưng không
gây trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau”.
Định nghĩa này khẳng định rõ rằng phát triển bền vững có ý nghĩa
rộng hơn là bảo tồn môi trường; bởi vì, khái niệm chủ yếu tập trung chú ý tới
phúc lợi lâu dài của loài người, khẳng định mọi thế hệ đều có quyền bình đẳng
trong sử dụng và cải tạo tự nhiên nhằm duy trì sự sống và đảm bảo phát triển.
Báo cáo “Tương lai chung của chúng ta” nhấn mạnh:
“Môi trường không tồn tại như một lĩnh vực tách biệt với những hoạt
động, mong ước và nhu cầu của con người; và nếu ai đó có ý định
bảo vệ môi trường mà tách khỏi những mối quan tâm của con người
thì chỉ là đem lại cho từ “môi trường” một hàm ý rất ngây thơ về
chính trị”.
“Môi trường là nơi chúng ta sinh sống, còn phát triển là cái mà
chúng ta cố gắng làm để cho mọi thứ ngày càng tốt hơn bên trong môi
trường đó. Môi trường và phát triển không thể tách rời nhau được”.
“Thông điệp trước tiên và hàng đầu của chúng ta là hướng về con
người - mà cuộc sống của họ là mục đích tối cao của tất cả các chính
sách về môi trường và phát triển”.

6


Theo quan điểm chung, phát triển bền vững bao hàm những yêu cầu về
sự phối hợp, lồng ghép của ít nhất ba mặt: tăng trưởng kinh tế, công bằng xã hội
và bảo vệ môi trường.

Ngoài ba mặt chủ yếu đó, nhiều người còn đề cập tới những mặt (hay
còn gọi là khía cạnh) khác của phát triển bền vững như chính trị, văn hoá, tinh
thần, dân tộc…và đòi hỏi phải tính toán, cân đối chúng trong khi hoạch định
chiến lược và chính sách phát triển kinh tế.
Ba mặt nói trên tác động và quy định lẫn nhau. Sự phát triển lâu dài và
ổn định chỉ có thể đạt được dựa trên một sự cân bằng nhất định của chúng.
Trong một thời kỳ cụ thể, người ta có thể đặt một mặt nào đó lên vị trí ưu tiên
số một, song mức độ và thời hạn của sự ưu tiên đó là có giới hạn. Mọi quyết
định phát triển đều cần nhìn nhận trên quan điểm bền vững nhằm hướng tới một
tương lai tốt đẹp hơn của loài người.
Có thể tóm tắt những đặc điểm chủ yếu của phát triển bền vững như
sau:
- Mục đích phát triển là phải cải thiện chất lượng cuộc sống của loài
người. Phát triển kinh tế chỉ là một bộ phận quan trọng của phát triển
nhưng đó không phải là mục đích. Tuy nhiên, tăng trưởng kinh tế cần
đạt đến một mức độ nhất định mới có khả năng cải thiện từng bước
chất lượng cuộc sống, mới có năng lực và điều kiện bảo vệ tài nguyên,
môi trường, hỗ trợ cho phát triển bền vững.
- Phát triển cần dựa trên bảo vệ tài nguyên, môi trường; lấy việc khai
thác, sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên làm cơ sở. Đối với
việc sử dụng các tài nguyên tái sinh, không được sử dụng quá khả năng
tái sinh của chúng để đảm bảo sử dụng lâu bền. Đối với tài nguyên
không tái sinh, nên giảm sử dụng tới mức thấp nhất hoặc tìm mọi cách
để có thể thay thế bằng tài nguyên tái sinh.

7


- Hệ sinh thái tự nhiên là cơ sở chúng ta dựa vào để sinh tồn nên cần bảo
vệ cơ cấu, chức năng và tính đa dạng của nó. Hơn nữa, khả năng chịu
tải của hệ sinh thái trên Trái đất là có giới hạn, và sự giới hạn đó ở các
vùng khác nhau cũng khác nhau, do đó cần định ra một chính sách cân
bằng giữa số lượng nhân khẩu và phương thức sinh hoạt với khả năng
chịu đựng của tự nhiên, đồng thời thông qua sự tiến bộ của khoa học
kỹ thuật và quản lý nghiêm ngặt mà nâng cao giới hạn đó.
- Phát triển cần phải bền vững, không những thỏa mãn nhu cầu hiện tại
mà còn phải để lại cho các thế hệ tương lai một cơ sở tài nguyên, môi
trường tốt đẹp để họ cũng có thể dựa vào đó mà thỏa mãn nhu cầu của
mình.

Khi đánh giá tính bền vững, người ta có thể căn cứ vào hai nhóm chỉ
tiêu, đó là:
- Chỉ tiêu đo chất lượng cuộc sống: còn gọi là chỉ tiêu phát triển con
người (HDI - Human Development Indicator), bao gồm thu nhập quốc
dân tính theo đầu người, tuổi thọ, học vấn…
- Chỉ tiêu về tính bền vững sinh thái: bảo tồn các hệ sinh thái và đa dạng
sinh học, cách thức sử dụng tài nguyên…
Lịch sử phát triển bền vững chỉ ra rằng chưa bao giờ nhân loại quan
tâm nhiều đến vấn đề môi trường và phát triển như hiện nay. Sau Hội nghị của
Liên hợp quốc về môi trường tại Stockholm (Thụy Điển) năm 1972, môi trường
đã trở thành vấn đề quốc tế. Tuy nhiên, những năm sau đó, việc đưa môi trường
thành một phần trong kế hoạch phát triển quốc gia và quá trình ra quyết định
vẫn chỉ thu được những kết quả rất hạn chế. Tuy con người ngày càng đạt nhiều
thành tựu khoa học kỹ thuật về môi trường, nhưng về mặt chính trị - pháp lý,
vấn đề môi trường vẫn chưa được quan tâm đúng mức.

8


Hai mươi năm sau, khi loài người nhận ra rằng “con đường chúng ta
đang đi là không bền vững”
(5)
, Hội nghị Thượng đỉnh Trái Đất đã được triệu tập
tại Rio de Janeiro từ 3 đến 14/6/1992. Nó đánh dấu một bước ngoặt trong các
cuộc thương lượng quốc tế về vấn đề môi trường và phát triển, đặt nền móng
cho sự hợp tác toàn cầu giữa các nước phát triển và đang phát triển, cũng như
giữa các Chính phủ với các tổ chức xã hội, dựa trên nhận thức về nhu cầu và lợi
ích chung. Hội nghị mong muốn tìm ra sự cân bằng hợp lý giữa nhu cầu phát
triển kinh tế, xã hội và môi trường hiện tại với những nhu cầu của các thế hệ
mai sau bằng cách thông qua ba thoả thuận quan trọng định hướng cho tương
lai, đó là:
- Tuyên bố Rio về môi trường và phát triển: Một loạt những nguyên tắc
xác định quyền lợi và trách nhiệm của các quốc gia, trong đó bao gồm các ý
tưởng như các quốc gia được toàn quyền khai thác các nguồn lợi riêng của mình
nhưng không được gây phương hại tới môi trường các nước khác; việc xoá bỏ
sự nghèo đói và giảm sự chênh lệch về mức sống trên phạm vi toàn thế giới…là
“không thể thiếu được” đối với sự phát triển bền vững.
- Chương trình nghị sự 21 (Agenda 21) : Kế hoạch hoạt động toàn cầu
nhằm khuyến khích sự phát triển bền vững. Agenda 21 là một khung kế hoạch
chung để thiết kế các chương trình hành động, bao gồm những mục tiêu, hoạt
động và phương tiện nhằm đạt được sự phát triển bền vững thế giới trong thế
kỷ 21. Agenda 21 đưa ra những định hướng cho phát triển bền vững; thể hiện
những vấn đề hiện tại và những thách thức mà thế giới sẽ phải đối mặt trong
thế kỷ 21. Agenda 21 khẳng định một cách tiếp cận mới đối với chiến lược
phát triển khi coi các vấn đề tăng trưởng kinh tế, công bằng xã hội và bảo vệ
môi trường là có mối quan hệ phụ thuộc nhau, thúc đẩy lẫn nhau và yêu cầu
mọi quốc gia phải có cách nhìn toàn diện và dài hạn về sự phát triển.
- Bản tuyên bố các nguyên tắc về rừng: Hướng tới sự quản lý bền vững
hơn nguồn lợi rừng trên toàn thế giới. Đây là “sự thoả thuận toàn cầu đầu tiên”
về vấn đề rừng. Các điều khoản chủ yếu bao gồm “tất cả các nước, nhất là các
nước phát triển, phải tiến hành mọi biện pháp để “làm xanh thế giới” bằng cách

9


trồng lại và bảo vệ rừng”; “các quốc gia có quyền phát triển rừng phù hợp với
nhu cầu kinh tế xã hội của mình”; và cần phải dành những khoản tài chính hỗ
trợ cho các nước đang phát triển lập các chương trình bảo vệ rừng; khuyến
khích những chính sách thay đổi về kinh tế, xã hội.
Tuy nhiên, ba văn kiện này không có giá trị ràng buộc về mặt pháp lý
mà chỉ là những cam kết chính trị cao nhất của các quốc gia thành viên. Ngoài
ra, tại Hội nghị này, hai công ước có sự ràng buộc về mặt pháp lý cũng đã được
đưa ra để các quốc gia quan tâm ký kết, đó là Công ước về biến đổi khí hậu và
Công ước về đa dạng sinh học. Cùng thời gian đó cũng diễn ra các cuộc đàm
phán về Công ước chống sa mạc hoá. Công ước này được đưa ra cho các nước
ký kết vào tháng 10 năm 1994 và có hiệu lực từ tháng 12 năm 1996. Đây chính
là những văn kiện pháp lý quốc tế đầu tiên thể hiện rõ nét mục tiêu phát triển
bền vững.
Với ý nghĩa là văn kiện khẳng định nguyện vọng của nhân loại phát
triển theo một cách thức đảm bảo kết hợp hài hòa các bộ phận cấu thành sự phát
triển bền vững, Chương trình hành động 21 và các văn kiện Rio khác đã tạo ra
những bước đệm quan trọng để đi đến một thế giới bền vững về mặt xã hội,
kinh tế và môi trường. Tuy chỉ mang tính chất khuyến nghị nhưng những văn
bản đó đã đóng vai trò quan trọng cho việc xây dựng một khung pháp lý, đặt
nền móng cho sự phát triển của pháp luật quốc tế cũng như pháp luật quốc gia
trong lĩnh vực này. Sau Hội nghị Rio de Janeiro, Agenda 21 tiếp tục được thảo
luận và thực hiện ở quy mô toàn cầu thông qua một số cuộc hội nghị thượng
đỉnh: Hội nghị về Phát triển xã hội (tháng 3/1995), Hội nghị về Các thành phố
(1996), các hội nghị thế giới về Quyền con người, Phụ nữ, Dân số, Khí hậu và
sự nóng lên toàn cầu, Lương thực…Các hội nghị nói trên đã làm cho các Chính
phủ, các tổ chức và nhân dân chú trọng hơn tới phát triển bền vững, đặc biệt tới
các vấn đề xã hội, văn hoá trong sự phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường.
Nhiều nước đã xây dựng Agenda 21 của mình, lấy đó làm khuôn khổ chung để
hoạch định các chiến lược và kế hoạch phát triển cụ thể của đất nước và tổ chức
các chương trình hành động quốc gia.

10


Tiếp theo đó, từ 23 đến 27 tháng 6 năm 1997, Đại hội đồng Liên hợp
quốc đã tổ chức khoá họp đặc biệt về môi trường tại New York. Khoá họp này
thường được biết đến dưới cái tên Hội nghị thượng đỉnh Trái đất + 5 (Rio+5),
để xem xét và đánh giá tiến trình thực hiện các cam kết tại Hội nghị Rio, đặc
biệt là việc thực hiện Chương trình nghị sự 21. Tại đây, một lần nữa, tất cả các
nước dù là phát triển hay đang phát triển đều nhận thức sâu sắc và thấy rõ hơn
thách thức của vấn đề bảo vệ môi trường và phát triển bền vững, coi môi trường
không chỉ gắn với phát triển mà còn là sự sống còn của loài người, từ đó nâng
cao trách nhiệm của từng nước và cả cộng đồng quốc tế. Các nước phát triển đã
buộc phải khẳng định các cam kết Rio-92 về bảo vệ môi trường và phát triển
bền vững một cách cụ thể hơn (tuy ở những mức độ khác nhau) trước thực
trạng suy thoái môi trường. Các quốc gia mong muốn khắc phục tình trạng trì
trệ về bảo vệ môi trường trong những năm qua và đẩy mạnh hơn việc thực hiện
Chương trình nghị sự 21 của Hội nghị Rio.
Tháng 8 năm 2002, Hội nghị thượng đỉnh thế giới về Phát triển bền
vững (được gọi tắt là “Hội nghị Rio+10”) sẽ được tổ chức ở Johannesburg
(Nam Phi). Hội nghị sẽ xem xét kết quả 10 năm thực hiện Tuyên bố chung Rio
và Agenda 21 về phát triển bền vững.
3. PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG Ở VIỆT NAM
Việt Nam được coi là một trong những nước có quan tâm tới môi
trường và phát triển bền vững khá sớm. Ngay từ những năm 80, khi các hoạt
động kinh tế của đất nước có những kết quả tiến bộ, Chính phủ Việt Nam đã bắt
đầu quan tâm tới công tác điều tra tài nguyên, tìm hiểu các biện pháp khai thác
và sử dụng hợp lý tài nguyên, thông qua chương trình nghiên cứu “Sử dụng hợp
lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường” năm 1981. Nhưng có thể nói
năm 1986 mới là điểm khởi đầu cho kế hoạch và hành động của Chính phủ Việt
Nam đối với việc sử dụng lâu dài các nguồn tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ
môi trường, thông qua việc công bố CHIẾN LƯỢC BẢO TỒN QUỐC GIA,
trên cơ sở nhận thức rõ về vị trí chủ đạo của văn bản “Chiến lược bảo vệ toàn
cầu” do IUCN đề xuất.

11


Sau hai mươi năm phát triển theo mục tiêu bền vững, chúng ta đã đạt
được những thành tựu nhất định trong việc xóa đói, giảm nghèo, phát triển kinh
tế và nâng cao mức sống của người dân, thực hiện ổn định chính trị - xã hội và
bảo vệ môi trường. Thực hiện phát triển bền vững, chúng ta có những thuận lợi
nhất định, nhưng bên cạnh đó, con đường phía trước cũng không ít khó khăn.
Chúng ta đều biết rằng phát triển bền vững yêu cầu một chương trình
hành động tổng hợp của con người, với sự tham gia của cả Chính phủ cũng như
mọi tổ chức và cá nhân. Xuất phát từ đặc điểm đó, phát triển bền vững ở Việt
Nam, trong phạm vi luận văn này, chỉ được nghiên cứu thông qua chính sách,
pháp luật có liên quan và một số khía cạnh thực tế của tình hình kinh tế - xã hội
của đất nước trước mục tiêu này.

3.1. Về chính sách và pháp luật
Như đã nêu trên, CHIẾN LƯỢC BẢO TỒN QUỐC GIA năm 1986
chính là điểm mốc đánh dấu sự phát triển của hệ thống chính sách và pháp luật
về bảo vệ môi trường và phát triển bền vững. Hệ thống này không ngừng được
xây dựng và kiện toàn trong suốt thời gian qua.
Chiến lược năm 1986 tập trung vào bốn nhiệm vụ ưu tiên là: Ổn định
dân số; Phục hồi và quản lý rừng; Thành lập Uỷ ban quốc gia về tài nguyên và
môi trường; Xây dựng các luật, các quy định về sử dụng tài nguyên và bảo vệ
môi trường. Tuy nhiên, trong bốn nhiệm vụ đặt ra, chúng ta mới chỉ thực hiện
được duy nhất việc ban hành một số văn bản pháp luật. Việc ban hành các văn
bản pháp luật về môi trường từ những năm cuối của thập kỷ 80 (Luật Bảo vệ
sức khỏe nhân dân 1989, Pháp lệnh về thu thuế tài nguyên 1989, Pháp lệnh bảo
vệ nguồn lợi thủy sản 1989…) cũng như trong những năm tiếp theo (Luật Bảo
vệ và phát triển rừng 1991, Luật Đất đai 1993, Pháp lệnh bảo vệ và kiểm dịch
thực vật 1993…) được coi là một bước tiến mới trong chính sách môi trường
của Việt Nam, đặc biệt là việc ban hành Luật bảo vệ môi trường, có hiệu lực từ
10/1/1994. Có thể nói đây là thời điểm mà công tác bảo vệ môi trường của Việt

12


Nam đã chuyển sang một giai đoạn mới. Lần đầu tiên, các khái niệm cơ bản có
liên quan tới bảo vệ môi trường đã được định nghĩa; các nghĩa vụ, quyền lợi và
trách nhiệm bảo vệ môi trường của Nhà nước, các tổ chức và cá nhân được ràng
buộc bằng biện pháp pháp lý.
Năm 1991, Chính phủ chính thức phê duyệt KẾ HOẠCH QUỐC GIA
VỀ MÔI TRƯỜNG VÀ PHÁT TRIỂN LÂU BỀN 1991-2000. Bản kế hoạch
này chứa đựng những ưu tiên môi trường cơ bản nhất, thể hiện quyết tâm của
Việt Nam vì sự nghiệp phát triển bền vững của đất nước, sự hưởng ứng của
Việt Nam với cộng đồng quốc tế vì sự ổn định, phồn vinh của toàn thế giới. Rõ
ràng phúc lợi kinh tế của người dân Việt Nam phải dựa vào nguồn tài nguyên
thiên nhiên phong phú và các hệ sinh thái quan trọng, nhưng đồng thời sự phát
triển đô thị, phát triển công nghiệp cũng phải thống nhất với việc quản lý môi
trường. Tuy nhiên, bản Kế hoạch còn có nhược điểm là chưa xem xét đến ảnh
hưởng của cơ chế thị trường, chưa phân tích ảnh hưởng của chính sách quản lý
kinh tế đến môi trường và cũng vì vậy mà chưa được gắn với chiến lược kinh tế
- xã hội.
Việt Nam cũng đã phê chuẩn nhiều công ước quốc tế có liên quan đến
lĩnh vực môi trường nhưng thể hiện mối liên quan trực tiếp nhất tới vấn đề phát
triển bền vững chính là việc phê chuẩn Công ước đa dạng sinh học năm 1994.
Sau đó, Việt Nam ban hành KẾ HOẠCH HÀNH ĐỘNG ĐA DẠNG SINH
HỌC (BAP), được Chính phủ phê duyệt năm 1995, thể hiện cam kết trách
nhiệm của Việt Nam sau khi ký kết Công ước. Đây là văn bản có tính pháp lý
định hướng cho hành động của Việt Nam trong việc bảo vệ đa dạng sinh học ở
tất cả các cấp, các ngành và đoàn thể; văn bản này cũng thể hiện nhận thức mới
của Việt Nam về vai trò của đa dạng sinh học đối với phát triển bền vững.
Trong giai đoạn hiện nay, các nhà khoa học và các cấp chính quyền
Việt Nam đang tập trung nỗ lực để xây dựng và hoàn thiện CHIẾN LƯỢC
BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG ĐẤT NƯỚC, cũng
như các chiến lược chuyên biệt trong từng lĩnh vực cụ thể, do các Bộ ngành
phối hợp tiến hành (có thể kể đến Chiến lược phát triển truyền thông môi
trường, Chiến lược quản lý hệ thống khu bảo tồn…), phù hợp với thời kỳ công

13


nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; cùng với các biện pháp ngắn hạn tăng cường
năng lực quản lý môi trường ở các cấp và phát triển bền vững kinh tế và xã hội.
Bên cạnh đó, chúng ta cũng đang tiến hành nghiên cứu xây dựng Agenda 21 với
tư cách là một khung chiến lược, định hướng dài hạn cho phát triển bền vững.
Bên cạnh các quan điểm chung, Agenda 21 của Việt Nam phải bao gồm các
phương hướng cụ thể cho từng lĩnh vực trọng điểm về kinh tế, xã hội, môi
trường và phải nêu lên được những chương trình hành động cần ưu tiên cao
nhất trong các Kế hoạch. Agenda 21 này sẽ là sự rà soát và tổng hợp các chiến
lược phát triển hiện có dưới lăng kính của quan điểm phát triển bền vững. Đây
được coi là một trong những hoạt động nhằm đẩy mạnh việc thực hiện cam kết
Rio trong những năm tới của Việt Nam.
3.2. Về một số mặt kinh tế - xã hội
Với mục tiêu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và duy
trì nhịp độ tăng trưởng kinh tế cao nhưng vẫn đảm bảo phát triển ổn định, bền
vững, Việt Nam cần nhận thức sâu sắc những thách thức to lớn đang đặt ra trên
con đường phía trước. Thực tế, nghèo đói, đông dân và sự hạn chế trong nhận
thức chính là những cản trở chủ yếu.
Là một nước nghèo (thu nhập bình quân năm 2000 khoảng 400
USD/người) và có xuất phát điểm thấp về nhiều mặt (kinh tế, xã hội, khoa học
công nghệ…), nếu không phát triển nhanh, mạnh đất nước, nhất là phát triển
kinh tế, tất yếu dẫn đến nguy cơ tụt hậu xa hơn nữa so với trình độ phát triển
của thế giới. Rõ ràng phát triển bền vững sẽ không thể có được một khi dân
chúng còn lạc hậu và nghèo đói. Do đói nghèo, kém hiểu biết và do bị chi phối
bởi nhu cầu tồn tại của bản thân, con người khó tránh khỏi việc khai thác tự
nhiên quá mức. Họ không thể quan tâm đến nhu cầu của các thế hệ mai sau, và
thậm chí là cả tương lai của chính họ.
Nhận thức được điều đó, Nhà nước chủ trương thực hiện xóa đói,
giảm nghèo như một ưu tiên cao nhất, và theo đuổi mục tiêu “công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước”. Nhờ đó, nền kinh tế đã có những bước tiến vượt

14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét