2
Phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp Việt Nam
MỤC LỤC HÌNH VẺ, ĐỒ THỊ, BẢNG BIỂU
Chương 1:
Hình 1.1: Đường cong lãi suất dạng thơng thường
Hình 1.2: Đường cong lãi suất dạng dốc
Hình 1.3: Đường
cong lãi suất dạng đảo ngược
Hình 1.4: Đường
cong lãi suất dạng phẳng
Đồ thị 1.1: Minh
họa xu hướng biến động theo thời gian của giá trái phiếu theo 3 ví
dụ trên
Bảng 1.1:
Quy mơ trái phiếu tại Hàn Quốc
Bảng 1.2: Tỷ trọng
trái phiếu chính phủ, trái phiếu doanh nghiệp so với GDP của
một số quốc gia (Số liệu đến tháng 3/2005)
Bảng 1.3: Quy mơ thị
trường trái phiếu của một số quốc gia
Chương 2:
Bảng 2.1 - Tốc
độ tăng trưởng kinh tế (GDP) năm từ 1997 - 2007 (%)
Bảng 2.2: Quy mơ thị trường chứng khốn Việt Nam đến 15/5/2008
Bảng 2.3: Quy mơ giao dịch chứng khốn từ 1/1/2007 đến 31/12/2007
Đồ thị 2.1: Quy mơ khối lượng và giá trị niêm yết đến 15/5/2008
Đồ thị 2.2: Quy mơ khối lượng, giá trị giao dịch chứng khốn 1/1/2007-31/12/2007
Chương 3:
Bảng 3.1: Ký hiệu định mức tín nhiệm dài hạn doanh nghiệp
Bảng
3.2 : Các mã đánh
giá trái phiếu cơ bản
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
1
Phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp Việt Nam
PHẦN MỞ ĐẦU
1. SỰ CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Thơng thường có ba cách để huy động vốn đầu tư là thơng qua các khoản vay
thương mại, phát hành trái phiếu và tiếp nhận vốn góp. Các khoản vay thương mại
thường bị giới hạn về hạn mức và thường phải có tài sản thế chấp. Với phương thức
huy động vốn thơng qua tiếp nhận vốn góp cho phép cơng ty tăng vốn mà khơng
cần thiết phải gánh chịu bất kỳ nghĩa vụ nợ phải thanh tốn tại một thời điểm xác
định nào nhưng quyền sở hữu có thể bị “pha lỗng”. Trong khi đó, đối với trái
phiếu, tổ chức phát hành có thể trực tiếp bán trái phiếu cho nhà đầu tư, làm giảm
bớt các trung gian nên chi phí cho việc vay vốn cũng có xu hướng thấp hơn.
Ba cách thức huy động vốn trên như chiếc kiềng ba chân, bảo đảm cho thị
trường tài chính – ngân hàng phát triển bền vững. Tuy nhiên, ở Việt Nam hiện nay
hai hình thức huy động vốn phổ biến là vay vốn thương mại và tiếp nhận vốn góp
mà chưa sử dụng nhiều hình thức huy động bằng phát hành trái phiếu. Còn nhớ
cuộc khủng hồng tài chính tiền tệ 1997 tại Châu Á cho thấy, khi thị trường tài
chính – tiền tệ một quốc gia khơng phát triển đủ ba phương thức trên sẽ thiếu đi tính
vững chắc và dễ bị tổn thương khi gặp các cú sốc tài chính từ bên ngồi. Đặc biệt,
trong điều kiện hiện nay Việt Nam vừa mới gia nhập WTO và từng bước hội nhập
với kinh tế thế giới, các nguồn vốn nước ngồi đang tiến tới chuyển hướng chảy vào
Việt Nam. Điều này vừa có thuận lợi là cung cấp nguồn vốn cho đầu tư phát triển
của đất nước nhưng cũng có khả năng ảnh hưởng tạo cú sốc hoặc thậm chí gây
khủng hoảng cho nền kinh tế khi các dòng vốn này đồng loạt rút khỏi quốc gia.
Dễ nhận thấy nhất là hệ quả từ cuộc khủng hoảng tín dụng nhà ở Mỹ. Khi rủi
ro xảy ra, các nhà đầu tư tài chính đã “chạy trốn” vào thị trường trái phiếu vì chúng
có độ rủi ro thấp và được ưu tiên thanh tốn hơn.
Do vậy, việc hình thành và phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp là một
chiến lược mang tính sống còn của nền kinh tế trong điều kiện mở cửa thị trường tài
chính như hiện nay.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
2
Phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp Việt Nam
Về mặt chính sách, việc phát triển thị trường trái phiếu nói chung và thị trường
trái phiếu doanh nghiệp nói riêng đã được Chính phủ Việt Nam quan tâm và cụ thể
hố trong việc xây dựng chiến lược phát triển dài hạn đến 2020. Mặc dù vậy, hiện
nay, thị trường này ở Việt Nam vẫn còn trong giai đoạn đầu của q trình phát triển,
nhưng để phát triển một thị trường trái phiếu năng động thì việc nghiên cứu về thị
trường trái phiếu doanh nghiệp trong điều kiện Việt Nam, kinh nghiệm các nước và
từ đó đưa ra những kiến nghị để phát triển thị trường là hết sức cần thiết.
Xuất phát từ ngun nhân này tác giả đã mạnh dạn đi vào nghiên cứu đề tài:
PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU DOANH NGHIỆP.
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Phân tích các ngun nhân làm cho thị trường trái phiếu của Việt Nam hiện nay
vẫn chưa phát triển, chưa đóng vai trò tích cực cho nền kinh tế và đề xuất các giải
pháp để xây dựng và phát triển thị trường ngày càng năng động, đóng vai trò quan
trọng trong phát triển kinh tế đất nước.
3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các vấn đề liên quan đến thực trạng hoạt
động của thị trường sơ cấp (phát hành) và thị trường thứ cấp (giao dịch) và những
kinh nghiệm phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp ở các nước.
Về thời gian: sưu tầm các số liệu chủ yếu từ năm 2000 đến nay.
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Phương pháp nghiên cứu chủ yếu là phương pháp định tính, định lượng, thống
kê, so sánh.
Thống kê lịch sử và tổng hợp để đánh giá quy mơ thực trạng của thị trường.
So sánh số liệu với các nước.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
3
Phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp Việt Nam
CHƯƠNG 1:
KHUNG LÝ THUYẾT VỀ THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU
DOANH NGHIỆP
1.1 Tổng quan về trái phiếu
1.1.1 Khái niệm và đặc trưng của trái phiếu
Trái phiếu là một loại chứng khốn quy định nghĩa vụ của người phát hành
(người vay tiền) phải trả cho người nắm giữ chứng khốn (người cho vay) một
khoản tiền xác định, thường là trong những khoảng thời gian cụ thể và phải hồn trả
khoản cho vay ban đầu khi nó đáo hạn.
Một trái phiếu thơng thường có ba đặc trưng chính:
+ Mệnh giá: là số tiền thanh tốn cho người sở hữu trái phiếu tại thời điểm đáo
hạn của trái phiếu. Số tiền gốc được ghi cụ thể trên mỗi trái phiếu. Do đó, giá trị số
tiền gốc còn được gọi là giá trị đáo hạn (maturity value) hoặc giá “bề mặt” (face
value) của trái phiếu. Ví dụ: tiền gốc của mỗi trái phiếu do chính phủ Mỹ phát hành
thường là 1.000 USD, ở Việt Nam trái phiếu có mệnh giá là bội số của 100.000 đ.
+ Lãi suất định kỳ (coupon): là tỷ lệ lãi hàng năm tính trên mệnh giá trái phiếu
mà tổ chức phát hành phải thanh tốn cho người đầu tư trong suốt thời hạn của trái
phiếu.
+ Thời hạn: là thời hạn trái phiếu từ ngày phát hành cho đến ngày đáo hạn.
Ngồi những đặc điểm trên, mỗi đợt trái phiếu được phát hành có thể được gắn
kèm theo những đặc tính riêng khác nữa nhằm đáp ứng nhu cầu cụ thể của một bên
nào đó. Cụ thể là:
+ Trái phiếu có thể mua lại cho phép người phát hành mua lại chứng khốn
trước khi đáo hạn khi thấy cần thiết. Đặc tính này có lợi cho người phát hành song
lại bất lợi cho người đầu tư, nên loại trái phiếu này có thể có lãi suất cao hơn so với
những trái phiếu khác có cùng thời hạn.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
4
Phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp Việt Nam
+ Trái phiếu có thể bán lại: cho phép người nắm giữ trái phiếu được quyền bán
lại trái phiếu cho bên phát hành trước khi trái phiếu đáo hạn. Quyền chủ động trong
trường hợp này thuộc về nhà đầu tư, do đó lãi suất của trái phiếu này có thể thấp
hơn so với những trái phiếu khác có cùng thời hạn.
+ Trái phiếu có thể chuyển đổi cho phép người nắm giữ nó có thể chuyển đổi
trái phiếu thành cổ phiếu thường, tức là thay đổi tư cách từ người chủ nợ trở thành
người chủ sở hữu của cơng ty.
1.1.2 Phân loại trái phiếu
• Phân loại theo nhà phát hành:
Phân loại trái phiếu theo nhà phát hành thì trái phiếu có hai loại trái phiếu chính
phủ và trái phiếu doanh nghiệp.
-
Trái phiếu chính phủ: là những trái phiếu do chính phủ phát hành nhằm mục
đích bù đắp thâm hụt ngân sách, tài trợ cho các cơng trình cơng ích, hoặc làm cơng
cụ điều tiết tiền tệ (thường là để điều tiết lạm phát). Trái phiếu chính phủ là loại
chứng khốn hầu như khơng có rủi ro thanh tốn và cũng là loại trái phiếu có tính
thanh khoản cao. Do đặc điểm đó, lãi suất của trái phiếu chính phủ được xem là lãi
suất chuẩn để làm căn cứ ấn định lãi suất của các cơng cụ nợ khác có cùng kỳ hạn.
Các loại trái phiếu chính phủ bao gồm trái phiếu đơ thị, trái phiếu cơng trình…
-
Trái phiếu doanh nghiệp: là các trái phiếu do các cơng ty phát hành để vay
vốn dài hạn. Trái phiếu doanh nghiệp có độ rủi ro cao hơn trái phiếu chính phủ, do
đó lãi suất trái phiếu doanh nghiệp cũng thường cao hơn lãi suất cùng kỳ của trái
phiếu chính phủ.
• Phân loại theo kỳ hạn:
-
Trái phiếu ngắn hạn (Shorts) có thời hạn từ 1 đến 5 năm;
-
Trái phiếu trung hạn (Mediums) có thời hạn từ 5 đến 15 năm;
-
Trái phiếu dài hạn (Longs) có thời hạn hơn 15 năm;
• Phân loại theo việc có ghi danh hay khơng:
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
5
Phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp Việt Nam
- Trái phiếu vơ danh: là trái phiếu khơng mang tên trái chủ, cả trên chứng chỉ
cũng như trên sổ sách của người phát hành. Những phiếu trả lãi đính theo tờ chứng
chỉ, và khi đến hạn trả lãi, người giữ trái phiếu chỉ việc xé ra và mang tới ngân hàng
nhận lãi. Khi trái phiếu đáo hạn, người nắm giữ nó mang chứng chỉ tới ngân hàng
để nhận lại khoản cho vay.
- Trái phiếu ghi danh: là loại trái phiếu có ghi tên và địa chỉ của trái chủ, trên
chứng chỉ và trên sổ của người phát hành. Hình thức ghi danh có thể chỉ thực hiện
cho phần vốn gốc, cũng có thể là ghi danh tồn bộ, cả gốc lẫn lãi. Dạng ghi danh
tồn bộ mà đang ngày càng phổ biến là hình thức ghi sổ. Trái phiếu ghi sổ hồn
tồn khơng có dạng vật chất, quyền sở hữu được xác nhận bằng việc lưu giữ tên và
địa chỉ của chủ sở hữu trên máy tính.
1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến giá trái phiếu
1.1.3.1 Biến động lãi suất thị trường
Lãi suất thị trường là một yếu tố cực kỳ quan trọng trong việc định giá các
chứng khốn có lãi suất cố định. Nếu lãi suất bắt đầu tăng thì lợi tức đối với trái
phiếu bắt đầu thay đổi. Trong trường hợp này, vốn bắt đầu chảy vào nơi hứa hẹn có
lợi nhuận cao, lúc đó giá của trái phiếu có lãi suất cố định giảm. Nhìn ở khía cảnh
khác, nếu giá trái phiếu giảm do lạm phát tăng thì việc tăng lãi suất có thể được coi
là dấu hiệu của Chính phủ quyết định đẩy lùi lạm phát. Ảnh hưởng tiêu cực của việc
tăng lãi suất được đền bù bằng việc triển vọng cải thiện tình hình lạm phát.
1.1.3.2
Cấu trúc kỳ hạn của lãi suất
Vòng đời, hay thời hạn của bất kỳ trái phiếu nào cũng đều được xác định cố
định ngay tại thời điểm phát hành. Nó có thể là ngắn hạn (từ 1-5 năm), trung hạn (6
đến 15 năm), đến dài hạn (từ 15 năm trở lên). Nói chung, thời hạn càng dài thì lãi
suất đề ra càng tạo ra thêm nhiều rủi ro hơn khi đầu tư tiền của bạn trong thời gian
q dài như vậy. Mối quan hệ giữa lãi suất và thời gian của trái phiếu được gọi là
đường cong lãi suất.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
6
Phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp Việt Nam
Đồ thị biểu hiện mối quan hệ giữa lãi suất và thời hạn.Đồ thị này thể hiện cấu
trúc thời hạn của lãi suất hay đường cơng lãi suất. Thơng thường đồ thị thể hiện cấu
trúc thời hạn của lãi suất trái phiếu chính phủ. Có 4 dạng đồ thị chính: dạng thơng
thường, dạng dốc, dạng đảo ngược và dạng phẳng.
(1) Dạng thơng thường: Ở dạng này các lãi suất ngắn hạn là thấp nhất, sau
đó nó tăng dần lên và tới đoạn cuối thì đường cong gần như nằm
ngang. Một đường cong lãi suất dạng thơng thường cho thấy dấu hiệu
của một nền kinh tế lành mạnh, ổn định, tăng trưởng chậm nhưng đều
đặn, các thị trường cổ phiếu trái phiếu có xu hướng ổn định. Đường
cong lãi suất là một chỉ báo khơng phải là một dự báo.
Hình 1.1: Đường cong lãi suất dạng thơng thường
(2) Dạng dốc: Bình thường thì chênh lệch giữa các mức lãi suất ngắn hạn
và dài hạn vào khoảng 3%, nhưng khi chênh lệch này tăng lên đến
4%-5% thì nó tạo thành một đường cong dốc hơn. Một đường cong
dốc như vậy cho thấy những người nắm giữ trái phiếu dài hạn tin rằng
nền kinh tế sẽ cải thiện trong tương lai gần. Loại đường cong này
thường xuất hiện sau các cuộc suy thối, khi nền kinh tế ổn định và
bắt đầu mở rộng.
Lãi suất
Thời hạn
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
7
Phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp Việt Nam
Hình 1.2: Đường cong lãi suất dạng dốc
(3) Dạng đảo ngược: Nếu khoản vay trong ngắn hạn trả lãi suất cao hơn
khoản vay dài hạn thì đường cong lãi suất sẽ có dạng đảo ngược và đó
là tín hiệu của thời kỳ thu hẹp của nền kinh tế. Đường cong lãi suất có
thể đảo ngược vì các lý do sau: nhu cầu cao bất thường đối với quỹ
ngắn hạn, do một trục trặc nào đó về tính thanh khoản ngắn hạn của
các cơng cụ của chính phủ hoặc doanh nghiệp; gia tăng áp lực lạm
phát trong ngắn hạn; chính sách tiền tệ thắt chặt của ngân hàng trung
ương. Trong những tháng đầu năm 2008, trên thị trường vốn của Việt
Nam, lãi suất trong ngắn hạn lại cao hơn trong dài hạn. Cụ thể, lãi suất
huy động kỳ hạn 1 tháng là 1%/tháng, trong khi lãi suất huy động kỳ
hạn dài hơn là 12 tháng chỉ là 0,09%. Và mọi người có thể nhận thấy
nền kinh tế Việt Nam đang bị lạm phát với tốc độ cao (2 con số),
Chính phủ chủ trương thắt chặt tiền tệ, việc vay vốn để đầu tư dường
như khó khăn hơn.
Lãi suất
Thời hạn
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
8
Phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp Việt Nam
Hình 1.3: Đường
cong lãi suất dạng đảo ngược
(4) Dạng phẳng: Trước khi đảo ngược đường cong lãi suất có thể có dạng
phẳng. Mặc dù dạng phẳng của đường cong lãi suất có thể được coi là
một cảnh báo sớm của sự đảo ngược nhưng cũng có khi đường cong
sẽ trở lại dạng thơng thường chứ khơng đảo ngược. Đường cong dạng
phẳng cũng thường kéo theo sự suy thối kinh tế.
Hình 1.4: Đường
cong lãi suất dạng phẳng
Đường cong lãi suất có thể giúp cho các nhà đầu tư lựa chọn các khoảng thời
gian đáo hạn cho các chứng khốn có thu nhập cố định của mình. Xem xét đường
cong lãi suất hiện thời các nhà đầu tư sẽ có được thơng tin về các mức lãi suất ở
Lãi suất
Thời hạn
Lãi suất
Thời hạn
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
9
Phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp Việt Nam
những thời hạn khác nhau, có thể giúp họ đưa ra những quyết định đối với thời gian
đáo hạn. Nếu các nhà đầu tư tin rằng lãi suất sẽ ổn định hoặc giảm xuống thì họ có
thể đầu tư vào trái phiếu 20 năm có lãi suất cao nhất, nếu họ tin rằng lãi suất sẽ tăng
thì đầu tư vào các cơng cụ ngắn hạn có lãi suất cao nhất sẽ là khơn ngoan.
1.1.3.3
Quyền mua lại, bán lại trước hạn
Trái phiếu kèm theo quyền được mua lại cho phép người phát hành mua lại
chứng khốn trước khi đáo hạn khi thấy cần thiết. Đặc tính này có lợi cho người
phát hành song lại bất lợi cho người đầu tư, nên loại trái phiếu này có thể có lãi suất
cao hơn so với những trái phiếu khác có cùng thời hạn. Trái phiếu kèm theo quyền
được bán lại trước hạn cho phép người nắm giữ trái phiếu được quyền bán lại trái
phiếu cho bên phát hành trước khi trái phiếu đáo hạn. Quyền chủ động trong trường
hợp này thuộc về nhà đầu tư, do đó lãi suất của trái phiếu này có thể thấp hơn so với
những trái phiếu khác có cùng thời hạn.
1.1.3.4
Khả năng chuyển đổi thành cổ phiếu
Trái phiếu có khả năng chuyển đổi thành cổ phiếu trong tương lai thì có giá cao
hơn trái phiếu khơng có khả năng chuyển đổi.
1.1.3.5
Cung cầu thị trường
Cũng như các hàng hố khác, giá trị trái phiếu bị ảnh hưởng bởi cung cầu thị
trường. Khi cung lớn hơn cầu trái phiếu thì giá trái phiếu giảm. Đơn giản các yếu tố
khác, khi cung nhỏ hơn cầu trái phiếu thì giá trái phiếu tăng.
1.1.3.6
Dự kiến về lạm phát
Nếu lạm phát dự kiến có khả năng tăng thì lãi cố định thanh tốn cho trái phiếu
là lãi suất danh nghĩa và như vậy sẽ kém hấp dẫn hơn so với các tài sản khác có khả
năng loại trừ yếu tố lạm phát. Do đó, giá của trái phiếu có lãi suất cố định sẽ giảm.
Và ngược lại, nếu dự kiến lạm phát giảm thì giá của trái phiếu có lãi suất định định
sẽ tăng.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét