Thứ Ba, 25 tháng 2, 2014

Đề án quản trị kinh doanh, tổng hợp

Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Chương I : Khái quát những vấn đề cơ bản về xuất khẩu và ngành thủ công
mỹ nghệ Việt Nam
Chương II : Phân tích thực trạng và đánh giá hoạt động xuất khẩu hàng thủ
công mỹ nghệ của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Chương III : Phương hướng và kiến nghị đẩy mạnh hàng thủ công mỹ nghệ
nước ta
Chương I : khái quát những vấn đề cơ bản về xuất khẩu hàng
và hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam
I. khái niệm xuất khẩu
Xuất khẩu được hiểu là bán hàng hoá hoặc cung cấp dịch vụ ra nước
ngoài trên cơ sở dùng tiền tệ làm phương tiện thanh toán. hoạt động xuất
khẩu diễn ra trong mọi lĩnh vực, mọi điều kiện nền kinh tế xã hội, hàng tiêu
dung cho đến hàng sản xuất nông nghiệp, từ máy móc thiết bị cho đến hàng
công nghệ kỹ thuật cao. tất cả các hoạt động trao đổi đó nhằm mục tiêu đem
lại lợi ích cho quốc gia.
Xuất khẩu tạo nguồn vốn cho nhập khẩu, phục vụ công nghiệp hoá hiện
đại hoá đất nước. đồng thời nó thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh
tế, phát triển sản xuất. ngoài ra còn tác động tích cực tới công ăn việc làm.
Và nó còn là cơ sở để thúc đẩy các mối quan hệ kinh tế đối ngoại phát triển.
xuất khẩu là hoạt động kinh doanh ở phạm vi quốc tế, nó không phải là hành
vi mua bán riêng lẻ mà là cả một hệ thống các quan hệ mua bán trong một
nền thương mại có tổ chức, nhằm đẩy nhanh sản xuất hàng hoá phát triển,
chuyển đổi cơ cấu kinh tế, ổn định và từng bước nâng cao đời sống nhân
dân.
Việt Nam là nước đang phát triển, nền kinh tế còn nghèo nàn lạc hâu. Nhưng
nước ta ẩn chứa nguồn tài nguyên thiên nhiên, lao động dồi dào, ngược lại
những nhân tố như vốn, kỹ thuật, trình độ quản lý lại thiếu. thực chất hướng
vào xuất khẩu để tranh thủ vốn, kỹ thuật tiên tiến của nước ngoài kết hợp
nguồn lao động và tài nguyên sẵn có nhằm mục đích đưa nền kinh tế Việt
Nam tăng trưởng, bắt kịp các nứoc phát triển trong khu vực và thế giới
II. Nội dung hoạt động xuất khẩu
3. Nghiên cứu thị trường xuất khẩu
1.1. Phân tích tình hình ở nước có thể nhập hàng
5
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Đây là bước nghiên cứu quan trọng trước khi doanh nghiệp xuất khẩu
muốn đi sâu vào nghiên cứu nhà nhập khẩu ở nước đó. Trước hết cần phải
nghiên cứu xem diện tích nước nhập khẩu là bao nhiêu, dân số như thế nào,
chế độ chính trị xã hội, tài nguyên kinh tế của nước đó như thế nào, tốc độ
phát triển kinh tế, tình hình tài chính, tiền tệ, chính sách nhập khẩu ra sao…
1.2. Nghiên cứu nhu cầu thị trường
Doanh nghiệp xuất khẩu cần nắm bắt được nhu cầu của người tiêu dùng
của người tiêu dùng từ đó mới có thể lựa chọn mặt hàng phù hợp để xuất
khẩu, phải nghiên cứu kĩ thêm nhu cầu đó về mặt hàng gì lớn nhất? Có
thường xuyên hay không, đó có phải là nhu cầu tiềm năng không?
1.3. Nghiên cứu đối thủ cạnh tranh
Doanh nghiệp cần phải xem xét kĩ có bao nhiêu doanh nghiệp khác cung
cấp hàng hoá giống doanh nghiệp của mình vào thị trường đó, thị phần của
họ là bao nhiêu, mục tiêu và phương hướng của họ là gì? quy mô có lớn
không? nguồn tài chính như thế nào? lợi thế cạnh tranh và vị thế và uy tín
của doanh nghiệp đó… từ đó đưa ra phương án kinh doanh hợp lý, ngoài ra
doanh nghiệp cần phải nghiên cứu cả sản phẩm thay thế.
1.4. Nghiên cứu giá cả hàng hoá
Giá cả là biểu hiện bằng tiền của hàng hoá. Giá cả là một yếu tố cấu
thành thị trường, nó luôn luôn biến đổi và thay đổi khôn lường do chịu sự
tác động của nhiều nhân tố. Trong kinh doanh việc xác định giá cả là việc
làm hàng đầu vì nó ảnh hưởng lớn nhất đến sự sống còn của doanh nghiệp.
Đặc biệt trong buôn bán ngoại thương thì giá cả càng khó xác định hơn. Bởi
vì giá cả luôn luôn biến đổi mà hợp đồng ngoại thương lại thường kéo dài.
Vì vậy làm thế nào để không bị thua lỗ là vấn đề mà các doanh nghiệp cần
phải xác định rõ ràng nếu không sẽ bị thất bại.
4. Xây dựng kế hoạch kinh doanh xuất khẩu
Để đạt được mục tiêu đề ra thì doanh nghiệp khi xây dựng kế hoạch cần
phải dựa vào các bước:
- Bước 1: Đánh giá thị trường và thương nhân mà doanh nghiệp có ý
định xuất khẩu.
- Bước 2: Lựa chọn thời cơ, điều kiện và phương thức kinh doanh.
- Bước 3: Xác định mục tiêu cần đạt được.
- Bước 4: Đề ra giải pháp thực hiện.
5. Tổ chức thực hiện và đánh giá các hợp đồng xuất khẩu
6
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Để tiến tới kí kết hợp đồng mua bán với nhau, hai bên mua và bán
thường phải qua một quá trình giao dịch, thương lượng về các điều kiện giao
dịch. Trong buôn bán quốc tế, những bước giao dịch chủ yếu thường diễn ra
như sau:
- bước 1 : hỏi giá
- bước 2 : phát giá hay chào hàng
- bước 3 : đặt hàng
- bước 4 : hoàn giá ( mặc cả về giá hoặc điều kiện giao dich)
- bước 5 : chấp nhận điều kiện của chào hàng mà phía kia đưa ra
- bước 6 : xác nhận lại mọi thoả thuận với đối phương
III. Ngành thủ công mỹ
1. Vị trí và vai trò của xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ đối với nền
kinh tế
Xuất khẩu là một tất yếu khách quan và có vai trò quan trọng đối với các
quốc gia. Tuy không phải là mặt hàng xuất khẩu mũi nhọn như gạo, thuỷ hải
sản, than đá, dệt may … nhưng hàng thủ công mỹ nghệ góp phần không nhỏ
vào nâng cao nền kinh tế đất nước.
Ở Việt Nam, sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ đã có từ rất lâu, cùng với sự
giao lưu văn hoá, mở rộng kinh tế giữa các nước trên thế giới, hàng thủ công
mỹ nghệ việt nam đã có mặt trên rất nhiều thị trường các nước Đông Nam
Á, Đông Á, Châu Âu, Mỹ và Nam Mỹ. và dần dần khẳng định được chỗ
đứng của mình trên thị trường quốc tế.
Xuất khẩu hàng mỹ nghệ lại mang về cho đất nước thực thu ngoại tệ có
một tỷ trọng rất cao trong kim ngạch xuất khẩu của mình. So với một số mặt
hàng khác như may mặc, gỗ và giày da do nguyên liệu đều phải nhập khẩu
từ nước ngoài giá trị gia tăng của các ngành này chủ yếu là chi phí gia công
và khấu hao máy móc thiết bị, cho nên giá trị thực thu ngoại tệ mang về cho
đất nước chỉ chiếm một tỷ trọng từ 5-20% trong tổng giá trị kim ngạch nhập
khẩu. Theo tính toán, hàng TCMN sản xuất chủ yếu bằng nguồn nguyên liệu
sẵn có trong nước, nguyên phụ liệu nhập ước tính chỉ chiếm từ 3 – 3,5% giá
trị xuất khẩu. như năm 1999 ( nếu không kể đồ gỗ xuất khẩu ) kim ngạch là
171 triệu USD, năm 2000 đạt 237 triệu ÚSD, năm 2001 đạt 237 triệu USD,
năm 2003 đạt 320 triệu USD. Theo dự báo của các chuyên gia thì kim ngạch
xuất khẩu mặt hàng này sẽ tiếp tục tăng do nhu cầu về các sản phẩm thủ
công mỹ nghệ trên thế giới có xu hướng tăng trong những năm tới
7
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Bên cạnh đó, nó còn đem lại một lượng lớn công ăn việc làm, giải quyết
tình trạng dư thừa lao động nhất là lao động ở nông thôn giúp nông dân có
thêm thu nhập góp phần xoá đói giảm nghèo, đẩy lùi tệ nạn
2. Những nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ
2.1. Đặc điểm mặt hàng
Hàng thủ công mỹ nghệ thuộc các ngành nghề truyền thống của Việt
Nam. Chúng được tạo ra từ các thợ thủ công, sản xuất bằng tay là chủ yếu
nên các sản phẩm có chất lượng không đồng đều, khó tiêu chuẩn hoá. Tuy
nhiên những sản phẩm này thường rất tinh sảo và độc đáo. Vì là sản phẩm
truyền thống nên đa phần chúng mang nét văn hoá của dân tộc, thể hiện tính
nghệ thuật đặc sắc. chính điều này là điểm thu hút mạnh mẽ đối với khách
hàng, đặc biệt là những khách hàng quốc tế. ngoài ra, nó cũng tạo nên sự
khác biệt giữa các sản phẩm dù có cùng chất liệu ở các quốc gia khác nhau.
Hàng thủ công mỹ nghệ do sử dụng nguồn nguyên liệu trong nước đặc biệt
là các nguồn nguyên vật liệu, được thu lượm từ phế liệu và thứ liệu của nông
lâm sản, nguyên phụ liệu nhập ước tính chỉ chiếm từ 3 – 3,5% giá trị xuất
khẩu, nên mang lại hiệu quả từ thực thu giá trị ngoại tệ rất cao, có những
mặt hàng hầu như đạt 100% giá trị xuất khẩu, còn lại cũng đạt trên 80% giá
trị kim ngạch xuất khẩu. Đồng thời xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ đã
giúp xã hội thu hồi một bộ phận chất thải nông nghiệp sau chế biến và thu
hoạch, đã biến phế liệu trở thành những sản phẩm xuất khẩu, góp phần tích
cực cho việc bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế đất nước.
2.2 . Nghiên cứu thị trường xuất khẩu
Việt Nam là một trong những nước xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ ra
thị trường thế giới, nhưng kim ngạch xuất khẩu so với các nước khác còn
quá bé, chỉ đạt khoảng 0,2% kim ngạch của thế giới. ngoài những thị trường
lớn như như Mỹ, Nga, Nhật Bản, Anh, Pháp, Đức, Hàn Quốc, Đài Loan…
Bên cạnh đó, ta có thể khai thác thị trường Canada, Hồng Kông, Trung
Đông, Nga và các thành viên mới của EU. Về thị trường xuất khẩu, hiện nay
xuất khẩu của Việt Nam chỉ chiếm 1,5% kim ngạch nhập khẩu nhóm hàng
này của Mỹ, 1,7% của Nhật Bản và 5,4% của EU ( báo điện tử
làocai.com.vn ) Tuy những năm qua, mặt hàng này luôn có mức tăng trưởng
khá cao, bình quân khoảng 20%/năm, lọt vào top 10 mặt hàng có mức tăng
trưởng xuất khẩu cao của cả nước, song ta cần phải áp dụng các biện pháp
hữu hiệu nhằm đẩy mạnh mặt hàng này hơn nữa. Thống kê cho thấy, hiện cả
8
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
nước có trên 1.400 làng nghề thủ công mỹ nghệ, tạo việc làm cho khoảng
70.000 lao động, sản xuất trên 300 chủng loại hàng với bốn nhóm chính là:
mây, tre, cói, lá, thảm; gốm sứ; thêu, ren, dệt; sản phẩm đá và kim loại quý.
Mặc dù tiềm năng xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam là rất lớn,
nhưng tính bền vững chưa cao. Do quy mô sản xuất nhỏ nên các doanh
nghiệp sản xuất khó đáp ứng được những đơn đặt hàng lớn của nước ngoài,
chưa tạo dựng được sự tin cậy đối với bạn hàng trong những hợp đồng lớn.
Điều này dễ thấy khi bạn hàng tìm đến các đối tác khác mạnh hơn về quy
mô, vốn, công nghệ… Ngoài ra, một trong những nguyên nhân làm giảm
tính cạnh tranh của hàng này là các doanh nghiệp đầu tư quá ít cho nghiên
cứu thị trường, nhất là thị trường dành cho tạo mẫu và thiết kế. Hệ quả là rất
nhiều hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam không có những công cụ rõ rệt và
chưa hướng vào một thị trường cụ thể để chiếm lĩnh nó. Đơn cử với thị
trường Nhật Bản là thị trường chiếm đến gần 30% lượng hàng thủ công mỹ
nghệ xuất khẩu của Việt Nam, nhưng do ít thay đổi về mẫu mã, nên sức hấp
dẫn của măt hàng vào thị trường này giảm đi nhiều. , họ không muốn mua
hàng của Việt Nam mà chuyển sang thị trường Trung Quốc, Philippines …
Các chuyên gia đến từ nước này khuyến cáo, các doanh nghiệp, cơ sở sản
xuất hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam cần phải chuyên nghiệp hơn nếu
muốn thâm nhập sâu vào những thị trường khó tính.
2.3. các nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ
- Mặt hàng thủ công mỹ nghệ sử dụng nguồn nguyên liệu chính là nguyên
liệu trong nước, đa phần được lấy từ thiên nhiên và khá sẵn có. Đó là
các nguyên liệu như: mây, tre, nứa, lá, bông, gỗ, đay, cói, dừa Đây là một
trong những thuận lợi lớn vì những nguyên liệu này thường sẵn có trong tự
nhiên hoặc có thể trồng khá dễ dàng ở các vùng nông
thôn. Tuy nhiên, do sự khai thác bừa bãi, không có kế hoạch nên các nguồn
nguyên liệu này cũng đã dần dần bị giảm cả về số lượng và chất lượng. Giờ
đây, trước nhu cầu vô cùng đa dạng của thị trường thế giới, doanh nghiệp
không chỉ sản xuất những mặt hàng chỉ sử dụng những nguồn nguyên liệu
trong nước mà còn phải nhập về một số nguyên liệu từ nước ngoài để phục
vụ cho xuất khẩu. Điều này cũng gây ra không ít khó khăn cho các doanh
nghiệp khi nguồn nguyên liệu phải phụ thuộc vào nước ngoài. Các doanh
nghiệp thường phải nhập khẩu một số nguyên liệu như phẩm nhuộm, bột
màu, sơn, dầu bóng, len chất lượng cao, chỉ màu, sợi
- nguồn vốn : Nhìn chung, các cơ sở sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ đa số
là quy mô vừa, nhỏ và thiếu vốn. Nhìn chung, các cơ sở sản xuất hàng thủ
công mỹ nghệ đa số là quy mô vừa, nhỏ và thiếu vốn. Những mặt hàng khác
nhau sẽ yêu cầu đòi hỏi vốn đầu tư khác nhau. Những mặt hàng cần nhiều
9
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
vốn chủ yếu là gốm sứ, sơn mài, mĩ nghệ vì phải đầu tư máy móc, thiết bị,
dây chuyền công nghệ để làm ra các sản phẩm thô, sản phẩm sơ chế. Nhu
cầu sử dụng vốn rất lớn nhưng việc huy động vốn hiện nay gặp rất nhiều khó
khăn. Các Ngân hàng có lúc thừa vốn nhưng các doanh nghiệp lại không vay
được vì ngoài tài sản thế chấp, cầm cố, ngân hàng còn kiểm tra cả phương án
kinh doanh, phương thức kinh doanh rất cụ thể.
- chính sách của nhà nước : Thời gian gần đây chính phủ đã có nhiều tháo
gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp hoạt động xuất khẩu hàng thủ công mỹ
nghệ. Ngày 24/1/2000,Thủ tướng chính phủ đã ra Quyết định 132/2000/QĐ-
TTg về một số chính sách khuyến khích phát triển ngành nghề nông thôn,
trong đó nội dung chủ yếu là đẩy mạnh xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ.
Bên cạnh đó, khó khăn về vay vốn ưu đãi đã được Chính phủ “khai thông”
qua Quyết định 02/2001/QĐ-TTg ngày 2/1/2001 về chính sách hỗ trợ đầu tư
từ Quỹ hỗ trợ phát triển đối với các dự án sản xuất, chế biến hàng xuấtkhẩu
và sản xuất nông nghiệp. Một khuyến khích rất cụ thể nữa đã được áp dụng
là chính sách thưởng xuất khẩu cho doanh nghiệp theo 5 tiêu chuẩn: có mặt
hàng mới, thị trường mới, chất lượng cao, đạt quy mô về kim ngạch và tốc
độ tăng trưởng xuất khẩu theo quy định. Có thể nói, các cơ chế, chính sách
mới thông thoáng đã tạo điều kiện thuận lợi, tiếp sức cho doanh nghiệp đẩy
mạnh xuất khẩu
- nhu cầu thị trường : nhìn chung những năm gần đây thị trường thủ công
mỹ nghệ có chiều hướng phát triển tốt, có nhiều chủng loại hàng hoá mới và
mở rộng thị trường theo hướng đa phương hoá và đa dạng hoá quan hệ thị
trường với các nước trên thế giới .Tuy nhiên, trong xuất khẩu những loại
hàng hoá này, chúng ta phải đương đầu với một số đối thủ cạnh tranh có
nhiều tiềm năng và kinh nghiệm như Trung Quốc, Indonesia, Philippines,
Thái Lan… Để nâng cao sức cạnh tranh, cần phải tìm hiểu, nghiên cứu, học
hỏi kinh nghiệm, thủ pháp kỹ thuật trong sản xuất kinh doanh và các chính
sách giải pháp liên quan của từng nước. Đồng thời, với chất liệu và kỹ xảo
riêng, phải sáng tạo ra được những mẫu hàng hoá đáp ứng nhu cầu, thị hiếu
của từng thị trường
- đối thủ cạnh tranh : Hiện tại hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam phải
cạnh tranh gay gắt với hàng thủ công mỹ nghệ của Trung Quốc, Thái Lan,
Singapore … Tuy nhiên, theo đánh giá của nhiều chuyên gia thì hàng thủ
công mỹ nghệ của Việt Nam có nhiều lợi thế hơn nhờ độ tinh xảo và khéo
léo thể hiện trên từng đường nét sản phẩm. Hơn nữa nhiều mặt hàng của ta
vượt trội về chất lượng cũng như mẫu mã. Song để nâng cao sức cạnh tranh
cần có những sản phẩm đặc trưng, đa dạng hơn về mẫu mã, kiểu dáng. Bên
cạnh việc phát huy những lợi thế của những sản phẩm làm bằng tay có độ
10
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
tinh xảo cao, cần đầu tư các phương tiện thiết bị máy móc và công nghệ hiện
đại để tạo nên những sản phẩm có chất lượng đồng đều và ổn định.
Chương II : phân tích thực trạng xuất khẩu hàng thủ công mỹ
nghệ của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
I. phân tích thực trạng
1. khái quát chung thị trường thế giới về mặt hàng thủ công mỹ nghệ
Hiện nay, cơ cấu thị trường xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của Việt
Nam ngày càng mở rộng và phát triển đa dạng. nếu trước những năm 90, cơ
cấu thị trường của mặt hàng này chỉ tập trung ở một số quốc gia và vùng
lãnh thổ nhất định như Liên Xô, Đông Âu và một số nước tư bản, song
những thị trường này không còn là trọng điểm xuất khẩu của Việt Nam, thì
đến nay hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam đã xuất hiện ở khoảng 163 quốc
gia và vùng lãnh thổ. Xuất khẩu chủ yếu 4 mặt hàng chính là gốm sứ, mây
tre đan, đồ gỗ, trang sức vàng bạc. Như vào đầu năm 2003, hàng gốm sứ
chiếm tỷ trọng cao nhất 45,81%, tiếp đến là hàng mây tre đan với tỷ trọng
29,72%, cuối cùng là mặt hàng đồ trang sức vàng bạc 14,65% và đồ gỗ mỹ
nghệ 7,64% ( biểu đồ sau sẽ thể hiện số liệu trên )
11
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368


Nói đến thị trường xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ, ta không thể
không kể đến EU. Đây là thị trường lớn nhất trong xuất khẩu hàng thủ công
mỹ nghệ của Việt Nam, đặc biệt là mặt hàng đồ gỗ. Đồ gỗ nhập khẩu tập
trung vào các mặt hàng dành cho phòng ngủ và các lĩnh vực khác, trừ đồ gỗ
nhà bếp là thế mạnh của các cơ sở sản xuất tại EU. Những yếu tố mà người
tiêu dùng EU quan tâm nhất là chất lượng, tính bền, công năng và tiện lợi.
Ngoài ra đồ gỗ làm từ gỗ sồi, gỗ thích, gỗ tếch… và các loại gỗ màu đen
khác cũng rất được ưa chuộng do khuynh hướng hoài cổ của người tiêu
dùng.
Năm 2002 và 2003 thị trường thủ công mỹ nghệ của Việt Nam tiếp tục
được mở rộng rất nhiều, đặc biệt là thị trường Mỹ. Xuất khẩu hàng thủ công
mỹ nghệ của Việt Nam sang Mỹ trong QuýI/ 2003 đạt 10.881.753 triệu USD
đạt 11,95% tổng kim ngạch. Hay như thị trường Nhật Bản có nhu cầu khá
lớn về đồ gỗ, hàng năm Việt Nam xuất sang Nhật khoảng 60 triệu USD đồ
dung gia đình, trong đó chủ yếu là gỗ vì mặt hàng này vào Nhật Bản chưa
gặp nhiều khắt khe như vào Mỹ và EU về bảo vệ rừng. Nếu những năm
trước kim ngạch xuất khẩu chưa đáng kể thì đến nay Úc đã trở thành một
trong 10 thị trường trọng điểm xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam.
Tính đến 2 quý cuối năm 2002, giá trị xuất khẩu của mặt hàng này sang Úc
đạt 8.491.716 triệu USD. Bên canh đó, thị trưòng ASEAN, Trung Quốc, Đài
Loan cũng là những thị trường ta cần quan tâm. Do cùng hệ tư tưởng là
12
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
đạo Phật nên những nét văn hoá độc đáo hàng thủ công mỹ nghệ của ta rất
phù hơp với thị hiếu của họ. Hơn nữa về vị trí địa lý các khu vực này gần
Việt Nam thuận lợi cho việc vận chuyển. Hay như thuế, ví dụ như thuế
nhập khẩu loại hàng này của Đài Loan rất thấp, chỉ khoảng từ 0 –2,5%
Nhưng thị trường xuất khẩu nói chung và thị trường xuất khẩu hàng thủ
công mỹ nghệ còn gặp nhiều cạnh tranh, khó khăn nên việc nghiên cứu và
nắm bắt thông tin về thị trường kết hợp xúc tiến thương mại, cải tiến mẫu
mã sản phẩm và chất lượng hàng hoá là cách tốt nhất để duy trì và mở
rộng thị trường.
2. phân tích tính hiệu quả và kết quả hoạt động xuất khẩu hàng thủ
công mỹ nghệ của nước ta trong giai đoạn hiện nay
Có thể nói trong những năm qua hoạt động xuất khẩu hàng thủ công mỹ
nghệ của Việt Nam đã đạt được nhiều hiệu quả đáng khích lệ. Từ chỗ chỉ tập
trung ở một số thị trường nhất định, giờ chúng ta đã thâm nhập vào thị
trường hơn 100 quốc gia và vùng lãnh thổ.
Ta có thể thấy rõ kết quả của hoạt động xuất khẩu khi đi sâu vào phân tích
một số thị trường. Đơn cử như thị trường EU, đây là thị trường lớn nhất
trong xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam. Kim ngạch xuất khẩu
của Việt Nam sang khu vực thị trường nàytăng khá nhanh trong những năm
qua. Hiện nay, kim ngạch xuất khẩu củaViệt Nam sang thị trường này chiếm
tỷ trọng gần một phần tư trong tổng kim ngạch xuất khẩu. Năm 2000, Việt
Nam đứng thứ 8 trong số những nước xuất khẩu đồ gỗ nhiều nhất vào EU
với kim ngạch là 203 triệu USD. Tuy nhiên, sản phẩm đồ gỗ Việt Nam chưa
có sức cạnh tranh cao trên thị trường EU như mới chỉ tập trung vào các sản
phẩm ngoại thất, có giá trị thấp và chưa có dấu ấn riêng. Ngoài mặt hàng đồ
gỗ, các mặt hàng gốm, sứ mỹ nghệ cũng là nhóm hàng đang tiêu thụ mạnh
sang EU. Xét về kim ngạch xuất khẩu, mặt hàng này chỉ đứng sau mặt hàng
mây tre đan (là nhóm mặt hàng xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam vào EU).
Bên cạnh đó, các mặt hàng như mây, tre, hàng thêu ren… cũng được
xuất khẩu sang khu vực thị trường này với khối lượng đáng kể. Theo tin từ
Bộ Thương mại, gần đây, các sản phẩm mây tre Việt Nam như: bàn, ghế bố,
ghế xếp, đôn bát giác, chậu hoa… làm từ tre thô mộc, sơn dầu bóng của các
công ty xuất khẩu mây tre Việt Nam đã xuất khẩu được nhiều hợp đồng lớn.
Nhật Bản cũng là thị trường gần và nhu cầu lớn về mặt hàng này, năm 1998
chiếm 16% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam. Tuy nhiên, thị phần mặt
hàng gốm sứ Việt Nam tiêu thụ trên thị trường Nhật rất nhỏ, theo đánh giá
chung của cơ quan thương vụ, kim ngạch xuất khẩu hàng gốm sứ của Việt
Nam vào Nhật trong những năm vừa qua chỉ đạt khoảng 5 triệu USD/năm.
Ngoài ra, một số loại hàng như thảm len đồ nội thất bằng mây tre Hai quý
13
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
cuối năm 2002, hàng mây tre của Việt Nam xuất sang Nhật đạt kim ngạch
11.492.891 USD chiếm khoảng 50% tổng kim ngạch xuất khẩu sang thị
trường này.
Mỹ cũng là thị trường để ta tăng kết quả của hoạt động xuất khẩu hàng
thủ công mỹ nghệ. Trong năm 1999, tổng giá trị nhập khẩu từ các doanh
nghiệp Việt Nam chỉ đạt mức là 4 triệu USD, trong đó đồ gỗ, mây tre chiếm
2,9 triệu USD, ghế các loại có khung gỗ là 0,7 triệu USD. Nguyên nhân
khiến kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm này của Việt Nam sang Mỹ đạt
thấp trong thời gian đó là mặt hàng này phải chịu thuế suất nhập khẩu rất cao
(40-60%). Song, kể từ khi Hiệp định Thương mại có hiệu lực, thuế nhập
khẩu đồ gỗ từ Việt Nam vào Mỹ đã giảm từ 40% xuống 3% thì số lượng hợp
đồng nhập khẩu gỗ của Mỹ từ Việt Nam đã tăng lên đáng kể. Tính trong
năm 2009, Mỹ đã nhập khẩu một số lượng đồ gỗ Việt Nam trị giá tới 98
triệu USD. Ngoài ra, kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ nước ta
tăng lên khá nhanh trên thị tr ường Úc. Tính đến 2 quý cuối năm 2002, giá
trị xuất khẩu của mặt hàng này sang Úc đạt 8.491.716 triệu USD
Bên c ạnh đó ,ta cũng không ngừng phát triển trên thị trường các nứơc Châu
Á khác, như Đài Loan, Hồng Kông, Hàn Quốc, Trung Quốc … Theo thống
kê trong hai quý cuối năm 2002, kim ngạch xuất khẩu của ta sang
HôngKông đạt 14.403.734 USD (trong đó, hàng mây tre đan đạt 8.028.050
USD, hàng gốm sứ đạt 245.670 USD), sang Hàn Quốc đạt 4.683.252 USD
(trong đó, hàng mây tre đan đạt 1.265.690 USD, hàng gốm sứ đạt 1.846.759
USD)…
Nhìn chung trong những năm qua, hoạt động xuất khẩu hàng thủ công
mỹ nghệ khá rõ ràng, góp phần tích cực vào kim ngạch xuất khẩu cả nước .
Do lợi thế có nhiều nguyên liệu trong nước để sử dụng nên hàng thủ công
mỹ nghệ hầu như đạt 100% giá trị xuất khẩu, còn lại cũng đạt trên 80% giá
trị kim ngạch xuất khẩu. Tuy đạt được nhiều hiệu quả, nhưng xuất khẩu mặt
hàng này vẫn còn hạn chế so với tiềm năng của nó: đặc biệt những năm gần
đây doanh thu xuất khẩu của ngành thủ công mỹ nghệ mặc dù có tăng
trưởng nhưng vẫn không đạt được chỉ tiêu đề ra. Như kế hoạch năm 2006
hàng thủ công mỹ nghệ dự kiến là 660 triệu USD, nhưng thực tế đạt được
630,4 triệu USD, tăng trưởng có 10,8% so với dự kiến là 16,3%. Vì vậy
những năm sau ngành thủ công mỹ nghệ phải phấn đấu tăng trưởng rất cao
mới đạt được kế hoạch đề ra.
II. Đánh giá thực trạng xuất khẩu
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét