Thứ Tư, 26 tháng 2, 2014

Hoàn thiện hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty cổ phần que hàn điện Việt Đức

5
- Yếu tố chi phí khác bằng tiền: Phản ánh tồn bộ chi phí khác bằng tiền
chưa được phản ánh vào các yếu tố tiêu dùng vào hoạt động sản xuất kinh doanh
trong kỳ.
Cách phân loại này cho biết được kết cấu, tỷ trọng của từng yếu tố chi phí
sản xuất để phân tích, đánh giá các chỉ tiêu và tình hình thực hiện dự tốn chi
phí sản xuất, làm căn cứ để lập bản thuyết minh báo cáo tài chính phục vụ cho
u cầu thơng tin quản trị doanh nghiệp và lập dự tốn chi phí sản xuất cho kỳ
sau.
* Phân loại CPSX theo khoản mục
Theo cách phân loại này CPSX được chia thành 3 loại chính:
- CPNVLTT: Bao gồm chi phí về các loại ngun vật liệu( kể cả nửa
thành phẩm mua ngồi), vật liệu phụ, nhiên liệu sử dụng trực tiếp vào sản xuất,
chế tạo SP.
- CPNCTT: Bao gồm tồn bộ chi phí về tiền lương, phụ cấp và các khoản
trích BHXH, BHYT, KPCĐ trên tiền lương của CNTTSX theo quy định.
- CPSXC: Là những chi phí dùng vào việc quản lý và phục vụ sản xuất
chung tại bộ phận sản xuất( phân xưởng, tổ đội ). CPSXC bao gồm:
+ CPNVPX: Gồm chi phí về tiền lương, phụ cấp và các khoản trích
BHXH, BHYT, KPCĐ trên tiền lương của NVPX.
+ Chi phí vật liệu: Phản ánh chi phí vật liệu sử dụng chung như vật liệu
dùng để sửa chữa, bảo dưỡng TSCĐ, vật liệu văn phòng phục vụ cho nhu cầu
quản lý chung ở các phân xưởng.
+ Chi phí CCDC: Phản ánh chi phí CCDC dùng cho nhu cầu sản xuất
chung ở các phân xưởng: khn mẫu, dụng cụ gá lắp
+ Chi phí KHTSCĐ: Phản ánh tồn bộ số tiền trích khấu hao của
TSCĐHH, TSCĐVH, TSCĐ th tài chính sử dụng ở các phân xưởng.
+ Chi phí dịch vụ mua ngồi: Bao gồm những chi phí về lao vụ, dịch vụ
mua ngồi để phục vụ cho hoạt động sản xuất chung của phân xưởng, tổ đội
(điện, nước, điện thoại)
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
6
+ Chi phí khác bằng tiền: Bao gồm các khoản chi bằng tiền ngồi các
khoản chi phí trên, sử dụng cho nhu cầu sản xuất chung của phân xưởng, tổ đội.
Cách phân loại này dựa vào cơng dụng của chi phí và mức độ phân bổ chi
phí cho từng đối tượng. Nó có tác dụng phục vụ cho nhu cầu quản lý CPSX
theo định mức, là cơ sở cho kế tốn CPSX và tính giá thành sản phẩm theo
khoản mục, là căn cứ để phân tích tình hình thực hiện kế hoạch giá thành và
định mức chi phí cho kỳ sau.
* Phân loại CFSX theo chức năng trong sản xuất kinh doanh
Bao gồm 3 loại:
- Chi phí thực hiện chức năng sản xuất: Gồm những chi phí phát sinh liên
quan đến việc chế tạo sản phẩm hoặc thực hiện các lao vụ, dịch vụ trong phạm
vi phân xưởng.
- Chi phí thực hiện chức năng tiêu thụ: Bao gồm tất cả những chi phí có
liên quan đến việc tiêu thụ sản phẩm hàng hố, lao vụ, dịch vụ.
- Chi phí thực hiện chức năng quản lý: Bao gồm những chi phí quản lý
kinh doanh, hành chính và những chi phí chung phát sinh liên quan đến hoạt
động của doanh nghiệp.
Cách phân loại này làm cơ sở để xác định giá thành cơng xưởng, giá
thành tồn bộ, xác định giá trị hàng hố tồn kho, phân biệt được chi phí theo
từng chức năng cũng như làm căn cứ để kiểm sốt và quản lý chi phí.
* Phân loại theo phương pháp tính nhập chi phí vào giá thành
Chi phí theo cách phân loại này chia làm hai loại:
- Chi phí trực tiếp: Là tồn bộ những chi phí có thể tính trực tiếp vào giá
thành của từng đối tượng chịu chi phí
- Chi phí gián tiếp: Là tất cả những chi phí có liên quan đến nhiều sản
phẩm, nhiều cơng việc (đối tượng khác nhau). Vì vậy, để tính vào chỉ tiêu giá
thành khơng thể tập hợp trực tiếp mà phải dùng phương pháp phân bổ gián tiếp.
Cách phân loại này có ý nghĩa quan trọng đối với việc xác định phương
pháp tập hợp CPSX và phân bổ CPSX một cách đúng đắn và hợp lý.
* Phân loại chi phí theo cách thức kết chuyển chi phí
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
7
Bao gồm 2 loại chi phí:
- Chi phí sản phẩm: Là chi phí gắn liền với sản phẩm sản xuất ra hoặc
được mua trong kỳ để bán lại. Chi phí sản phẩm là những chi phí như ngun
vật liệu trực tiếp, lao động trực tiếp, chi phí sản xuất chung. Như vậy, chi phí
sản phẩm ln gắn liền với sản phẩm và chỉ thu hồi khi sản phẩm tiêu thụ còn
khi sản phẩm chưa được tiêu thụ thì chúng nằm trong sản phẩm tồn kho.
- Chi phí thời kỳ: Là những chi phí làm giảm lợi tức trong một kỳ kinh
doanh nào đó, hay còn gọi là chi phí phát sinh (CPBH, CPQLDN). Chi phí thời
kỳ khơng phải là những chi phí tạo thành thực thể sản phẩm hay nằm trong các
yếu tố cấu thành giá vốn của hàng hố mua vào. Nó là những khoản chi phí hồn
tồn biệt lập với q trình sản xuất sản phẩm hoặc mua hàng hố.
*Phân loại chi phí theo cách ứng xử của chi phí
Bao gồm 3 loại :
- Biến phí: Là những khoản mục chi phí có quan hệ tỷ lệ thuận với biến
động về mức độ hoạt động của khối lượng cơng việc và sản phẩm hồn thành.
Biến phí thường bao gồm các khoản chi phí như: chi phí ngun vật liệu trực
tiếp, chi phí lao động trực tiếp.
- Định phí: Là những khoản chi phí khơng biến đổi khi mức độ hoạt động
thay đổi. Định phí thường bao gồm các khoản chi phí: chi phí khấu hao TSCĐ,
chi phí th nhà xưởng, lương nhân viên phân xưởng.
- Chi phí hỗn hợp: Là loại chi phí mà bản thân nó gồm cả chi phí biến đổi
và chi phí cố định.
Ngồi những cách phân loại trên, trong q trình nghiên cứu ta có thể gặp
một số cách phân loại chi phí khác như phân loại theo chức năng kiểm sốt bao
gồm chi phí kiểm sốt được và chi phí khơng kiểm sốt được, phân loại theo
mức độ phù hợp gồm chi phí thích đáng và chi phí khơng thích đáng.
Trong quản lý kinh doanh, nếu chỉ hiểu được một mặt, hoặc một phần của
vấn đề thì rất khó khi đưa ra các quyết định quản lý. Trong cơng tác quản lý chi
phí và tính giá thành sản phẩm cũng vậy, yếu tố CPSX chỉ là một mặt. Chi phí
chi ra phải được xem xét trong mối quan hệ chặt chẽ với mặt thứ hai, cũng là
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
8
mặt cơ bản của sản xuất, đó là kết quả thu được sau q trình sản xuất. Quan hệ
so sánh đó đã hình thành nên chỉ tiêu giá thành sản phẩm. Vậy phải hiểu như thế
nào cho đúng và đầy đủ khái niệm cũng như các mối quan hệ của giá thành sản
phẩm? Sau đây ta sẽ tiến hành nghiên cứu để làm rõ vấn đề này.
2. Giá thành sản phẩm
2.1. Khái niệm giá thành sản phẩm
Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của tồn bộ các khoản hao phí
về lao động sống và lao động vật hố có liên quan đến khối lượng cơng tác, sản
phẩm lao vụ đã hồn thành.
Giá thành sản phẩm là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp nhằm phản ánh về
chất lượng hoạt động của doanh nghiệp trên tất cả các mặt như kinh tế, kỹ thuật
tổ chức, chất lượng và hiệu quả của cơng việc quản lý, sử dụng vật tư, lao động,
tiền vốn của doanh nghiệp, đồng thời giá thành còn là cơ sở để doanh nghiệp xác
định giá bán của sản phẩm và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp.
2.2. Phân loại giá thành
Qua những phân tích ở trên, ta thấy việc quản lý và lập kế hoạch giá thành
là rất quan trọng. Để đáp ứng những u cầu đó và để cơng tác tính giá thành
được thuận lợi, nhà quản lý phải phân loại giá thành theo các tiêu thức khác
nhau.
* Nếu căn cứ vào góc độ quản lý giá thành, thời gian và cơ sở số liệu để
tính giá thành
Giá thành được chia làm 3 loại:
- Giá thành KH: Là giá thành được tính tốn trên cơ sở giá thành thực tế
kỳ trước và các định mức, các dự tốn chi phí kỳ KH. Giá thành KH thường
được tính tốn trước khi bắt đầu tiến hành q trình sản xuất.
- Giá thành định mức: Là giá thành được tính tốn trên cơ sở các định
mức và dự tốn chi phí hiện hành đã được xây dựng trong khoảng thời gian nhất
định. Giá thành định mức cũng được xây dựng trước khi bắt đâù một q trình
sản xuất, nhưng khác với giá thành KH, giá thành định mức ln ln thay đổi
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
9
để phù hợp với sự thay đổi của các định mức hao phí trong q trình thực hiện
KH.
- Giá thành thực tế: Là giá thành được tính tốn sau khi đã hồn thành
việc chế tạo sản phẩm, được xác định trên cơ sở các chi phí thực tế phát sinh và
sản lượng thực tế đã diễn ra sau q trình sản xuất. Đây là chỉ tiêu kinh tế tổng
hợp nhằm phản ánh về chất lượng của tất cả các hoạt động của doanh nghiệp
trong q trình sản xuất kinh doanh.
* Nếu căn cứ vào phạm vi phát sinh chi phí
Giá thành sản phẩm được chia làm hai loại:
- Giá thành sản xuất (giá thành cơng xưởng): Là chỉ tiêu phản ánh những
CPSX phát sinh trong q trình chế tạo sản phẩm ở phạm vi phân xưởng gồm
CPNVLTT, CPNCTT, CPSXC cho các sản phẩm và lao vụ đã hồn thành, vì thế
giá thành sản xuất còn có tên gọi là giá thành cơng xưởng.
- Giá thành tiêu thụ( Giá thành tồn bộ): Là chỉ tiêu phản ánh tồn bộ các
khoản chi phí phát sinh liên quan đến việc sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, giá
thành tiêu thụ vì vậy còn được gọi là giá thành đầy đủ hoặc giá thành tồn bộ.
Cơng thức tính như sau:
2.3.Bản chất, chức năng của giá thành
* Bản chất của giá thành: Nói đến bản chất của giá thành sản phẩm tức là
nói đến nội dung kinh tế chứa đựng bên trong của chỉ tiêu giá thành. Điểm qua
lịch sử về lý luận giá thành, ta có thể thấy bản chất của giá thành thơng qua các
quan điểm sau:
- Quan điểm cho rằng giá thành là sự hao phí lao động sống và lao động
vật hố được dùng để sản xuất và tiêu thụ một đơn vị hoặc một khối lượng sản
phẩm nhất định.
Giá thành tồn bộ của
sản phẩm tiêu thụ
=
Giá thành sản xuất
của sản phẩm
+ CPBH + CPQLDN
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
10
- Quan điểm cho rằng giá thành sản phẩm là tồn bộ các khoản chi phí mà
doanh nghiệp bỏ ra để sản xuất và tiêu thụ sản phẩm bất kể nó nằm ở bộ phận
nào trong các bộ phận cấu thành giá trị sản phẩm.
- Một quan điểm khác cho rằng giá thành là biểu hiện mối liên hệ tương
quan giữa một bên là chi phí sản xuất, một bên là kết quả đạt được trong từng
giai đoạn nhất định.
Ta có thể rút ra kết luận về bản chất của phạm trù giá thành như sau: Bản
chất của giá thành là sự chuyển dịch giá trị của các yếu tố vật chất vào sản
phẩm, cơng việc lao vụ nhất định đã hồn thành. Nếu chưa có sự dịch chuyển
này thì khơng thể nói đến chi phí và giá thành sản phẩm. Trong điều kiện nền
kinh tế thị trường, giá thành sản phẩm bao gồm tồn bộ các khoản hao phí vật
chất thực tế cần thiết được bù đắp, bất kể nó thuộc bộ phận nào trong cấu thành
giá trị sản phẩm.
Hạch tốn giá thành chính là tính tốn, xác định sự chuyển dịch các yếu tố
vật chất vào khối lượng sản phẩm vừa thốt ra khỏi q trình sản xuất và tiêu
thụ nhằm mục đích thực hiện các chức năng của giá thành sản phẩm.
* Chức năng của giá thành
Giá thành sản phẩm là chỉ tiêu kinh tế quan trọng, tổng hợp. Nó phản ánh
chất lượng hoạt động của cơng tác sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, là
cơng cụ quan trọng để nhà quản lý nâng cao hiệu quả của q trình sản xuất.
Nhằm có căn cứ xem xét tính chất quan trọng của chỉ tiêu giá thành trong cơng
tác quản lý kinh tế, cần nghiên cứu các chức năng vốn có của chỉ tiêu giá thành.
- Chức năng thước đo bù đắp chi phí: Giá thành sản phẩm biểu hiện
những hao phí vật chất mà các doanh nghiệp đã bỏ ra để sản xuất và tiêu thụ sản
phẩm. Những hao phí vật chất này cần được bù đắp một cách đầy đủ, kịp thời để
đảm bảo u cầu tái sản xuất và đây đã trở thành một vấn đề quan tâm đầu tiên
của các doanh nghiệp bởi hiệu quả kinh tế được biểu hiện trước hết ở chỗ doanh
nghiệp có khả năng bù lại những gì mình đã bỏ ra hay khơng. Đủ bù đắp là khởi
điểm của hiệu quả và là yếu tố đầu tiên để xem xét hiệu quả kinh doanh của
doanh nghiệp.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
11
- Chức năng lập giá: Giá cả SP được xây dựng trên cơ sở hao phí lao động
xã hội cần thiết, biểu hiện mặt giá trị SP. Khi xây dựng giá cả thì u cầu đầu
tiên là giá cả có khả năng bù đắp hao phí vật chất để sản xuất và tiêu thụ sản
phẩm, bảo đảm cho các doanh nghiệp trong điều kiện sản xuất bình thường có
thể bù đắp được hao phí để thực hiện q trình tái sản xuất. Để thực hiện được
u cầu bù đắp hao phí vật chất thì khi xây dựng giá cả phải căn cứ vào giá
thành SP. Việc đưa ra các định mức hao phí trong giá thành SP có ý nghĩa rất
tích cực khi sử dụng giá thành làm căn cứ để lập giá.
- Chức năng đòn bẩy kinh tế: Doanh lợi của doanh nghiệp cao hay thấp
phụ thuộc trực tiếp vào giá thành SP, hạ giá thành SP là biện pháp cơ bản để
tăng cường doanh lợi tạo nên tích luỹ để tái sản xuất mở rộng. Phấn đấu hạ thấp
giá thành bằng các phương pháp cải tiến tổ chức sản xuất và quản lý, hồn thiện
cơng nghệ sản xuất, tiết kiệm CPSX là hướng cơ bản để các doanh nghiệp đứng
vững và phát triển trong điêù kiện nền kinh tế có cạnh tranh. Cùng với phạm trù
kinh tế khác như giá cả, lãi, chất lượng, giá thành SP thực tế đã trở thành đòn
bẩy kinh tế quan trọng thúc đẩy các doanh nghiệp tăng cường hiệu quả kinh
doanh phù hợp với ngun tắc hạch tốn kinh doanh trong điều kiện cơ chế thị
trường.
Hơn nữa, trong sản xuất kinh doanh, giá thành là chỉ tiêu phản ánh giới
hạn chi phí để tính tốn, lựa chọn những phương án sản xuất tối ưu, do vậy trong
hạch tốn kinh tế cần tính đúng, tính đủ giá thành dựa trên cơ sở khách quan. Về
lý luận cũng như trên thực tế, giá thành SP khơng chấp nhận tất cả các CPSX mà
chỉ chấp nhận những chi phí cần thiết trong sản xuất. Đây là một trong những
đặc điểm quan trọng của giá thành mà khi tính tốn, người làm cơng tác quản lý
cần nắm rõ.
Như vậy, chúng ta đều thấy được chi phí, giá cả, giá thành, lợi nhuận là
những phạm trù kinh tế khách quan. Chúng tồn tại gắn liền với sự tồn tại của
quan hệ hàng hố - tiền tệ và là đòn bẩy kinh tế quan trọng của quản lý kinh tế,
đồng thời chúng hợp thành một hệ thống thống nhất có mối quan hệ mật thiết và
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
12
tác động qua lại lẫn nhau trong nền kinh tế quốc dân. Sau đây ta xem xét cụ thể
mối quan hệ giữa CPSX và giá thành SP.
II. MỐI QUAN HỆ GIỮA CPSX VÀ GIÁ THÀNH SẢN PHẨM
CPSX và giá thành SP là hai chỉ tiêu có quan hệ mật thiết với nhau, thể
hiện ở hai mặt:
- Xét về mặt nội dung: Giá thành SP sản xuất được tính trên cơ sở CPSX
đã tập hợp và số lượng SP hồn thành trong kỳ báo cáo. Nội dung giá thành SP
là CPSX được tính cho số lượng và cho loại SP.
- Xét về mặt kế tốn: Kế tốn tập hợp CPSX và tính giá thành SP phân
xưởng là hai bước cơng việc liên tiếp và gắn bó hữu cơ với nhau. Tuy nhiên,
giữa CPSX và giá thành SP cũng có sự khác nhau rõ rệt. CPSX và giá thành SP
đều là hao phí lao động sống và lao động vật hố nhưng tính trong chỉ tiêu giá
thành SP thì chỉ tính những hao phí cho SP hồn thành trong kỳ. Nếu CPSX và
giá thành SP giống nhau về chất thì chúng lại khác nhau về lượng.
Trên thực tế, tổng CPSX phát sinh trong kỳ và tổng giá thành thường
khơng thống nhất với nhau là vì CPSXDD đầu, cuối kỳ trong một kỳ thường
khác nhau. Có thể phản ánh mối quan hệ giữa CPSX và giá thành SP qua sơ đồ
sau:

Qua sơ đồ trên ta thấy: AC = AB + BD - CD, hay:



A CPXS dở dang đầu kỳ B CPSX phát sinh trong kỳ D
A Tổng giá thành sản phẩm C CPSX dở dang cuối kỳ D
Tổng giá thành SP hồn
thành
=
CPSXDD
đầu kỳ
+
CPSX phát
sinh trong kỳ
-
CPSXDD
cuối kỳ
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
13
Khi giá trị SPDD( CPSXDD) đầu kỳ và cuối kỳ bằng nhau hoặc các
ngành sản xuất khơng có SPDD thì tổng giá thành sản phẩm bằng tổng CPSX
phát sinh trong kỳ.
Tóm lại, CPSX và giá thành SP có mối quan hệ mật thiết, hữu cơ với
nhau, mối quan hệ này phản ánh tác động tích cực của cơng việc ứng dụng khoa
học kỹ thuật và khoa học quản lý vào sản xuất, nên muốn đạt được thành cơng
trong q trình quản lý sản xuất phải đưa ra những ngun tắc kinh tế - kế tốn
vào cơng tác quản lý chi phí và tính giá thành SP.
1. Đối tượng tập hợp CPSX và đối tượng tính giá thành
1.1. Đối tượng tập hợp CPSX
CPSX phát sinh trong các DNSX bao gồm nhiều loại, mỗi loại mang một
nội dung kinh tế, cơng dụng khác nhau và phát sinh tại những địa điểm và thời
gian khác nhau. CPSX phát sinh sẽ được tập hợp theo những địa điểm phát sinh
chi phí hoặc theo một phạm vi, giới hạn nào đó. Như vậy, việc xác định đối
tượng hạch tốn CPSX chính là việc xác định giới hạn tập hợp chi phí mà thực
chất là xác định nơi phát sinh chi phí và chịu chi phí. Muốn xác định được đối
tượng tập hợp chi phí, người ta thường căn cứ vào đặc điểm quy trình cơng
nghệ, vào loại hình sản xuất hay vào u cầu và trình độ quản lý tổ chức sản
xuất kinh doanh. Việc xác định đối tượng kế tốn tập hợp CPSX một cách khoa
học, hợp lý, có ý nghĩa rất quan trọng cho việc tổ chức kế tốn CPSX từ việc tổ
chức hạch tốn ban đầu cho đến việc mở các tài khoản, các sổ chi tiết và tổng
hợp số liệu.
1.2. Đối tượng tính giá thành SP
Đây là cơng việc đầu tiên trong tồn bộ cơng tác xác định giá thành SP
của doanh nghiệp. Xác định đối tượng tính giá thành SP gắn liền với cơ cấu tổ
chức sản xuất và quy trình cơng nghệ chủ yếu phục vụ cho việc kiểm tra và đánh
giá hiệu quả sản xuất kinh doanh của từng bộ phận trong mối liên hệ với việc
thực hiện nhiệm vụ sản xuất các loại SP cuối cùng đạt hiệu quả tối ưu. Song đối
tượng tính giá thành còn phục vụ cho việc phân phối chi phí và xác định kết quả
kinh doanh trong những trường hợp nhất định, nên khơng thể có đối tượng tính
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
14
giá thành cho những kết quả khó có thể xác định hoặc xác định một cách thiếu
chính xác. Ngồi ra, đối tượng tính giá thành phải thống nhất, trùng hợp với đối
tượng lập giá cả cho từng SP, chi tiết SP. Tuỳ vào từng loại hình sản xuất, vào
đặc điểm quy trình cơng nghệ hay vào đặc điểm cung cấp, sử dụng của từng loại
sản phẩm đó mà đối tượng tính giá thành có thể là thành phẩm hoặc bán thành
phẩm ở từng bước chế tạo.
Đơn vị tính giá thành phải là đơn vị được thừa nhận trong nền kinh tế thị
trường. Đơn vị tính giá thành thực tế cần thống nhất với đơn vị tính giá thành kế
hoạch của doanh nghiệp.
2. Mối quan hệ giữa đối tượng tập hợp CPSX và đối tượng tính giá
thành
Đối tượng kế tốn tập hợp CPSX được xác định là căn cứ để tổ chức cơng
tác ghi chép ban đầu, để mở sổ chi tiết, tập hợp CPSX (chi tiết theo từng đối
tượng) giúp cho cơng tác quản lý CPSX và phục vụ việc tính giá thành.
Còn việc xác định đối tượng tính giá thành lại là căn cứ để kế tốn mở
các thẻ tính giá thành, tổ chức cơng tác tính giá thành theo đối tượng giúp cho
doanh nghiệp kiểm tra quản lý tình hình thực hiện kế hoạch giá thành và tính
hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Tuy vậy giữa chúng lại có quan hệ mật thiết với nhau. Việc xác định hợp
lý đối tượng tập hợp CPSX là tiền đề, là điều kiện để tính giá thành. Trên thực
tế, một đối tượng tập hợp CPSX có thể trùng với một đối tượng tính giá thành.
Trong trường hợp khác, một đối tượng tập hợp CPSX lại bao gồm nhiều đối
tượng tính giá thành và ngược lại một đối tượng tính giá thành cũng có thể bao
gồm nhiều đối tượng tập hợp CPSX .
3. Phương pháp hạch tốn CPSX
3.1. Hạch tốn CPSX theo phương pháp KKTX
Phương pháp KKTX là phương pháp theo dõi và phản ánh tình hình hiện
có, biến động tăng giảm CPSX một cách thường xun, liên tục trên các tài
khoản phản ánh CPSX.
3.1.1. Hạch tốn chi phí ngun vật liệu trực tiếp
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét