Phan Sỹ Hiếu. 27.4.2004
lợi. Báo cáo cho rằng mặc dù giá cà phê sơ chế giảm sút đội ngột, giá các sản phẩm chế
biến dường như không thay đổi. Oxfam đề cập tới khoảng cách giầu-nghèo trong ngành cà
phê đang tăng lên với việc giảm giá liên tục của cà phê thô hay sơ chế.
1
Mặc dù chưa có tính toán chính xác nào về ảnh hưởng tiêu cực của độc quyền mua trên thị
trường thế giới nhưng chi phí xuất khẩu cà phê thô chỉ chiếm 7% trong chi phí chế biến sản
phẩm cuối cùng. Các bộ phận khác của chi phí còn lại là chế biến, vận chuyển, lưu kho, giá
bán lẻ và thuế. Rất nhiều khoản thuế, như thuế xuất khẩu, thuế bán lẻ, và chi phí lao động
là chi phí cố định, nhưng chúng chiếm một tỷ phần chi phí rất cao. Hơn nữa, một số loại
chi phí như chi phí vận chuyển, lưu kho hay bảo hiểm phí lại đang có xu hướng tăng dần
trong thời gian gần đây. Kết quả là mặc dù giá cà phê thô đã giảm đột ngột nhưng giá cà
phê chế biến lại không. Ví dụ khi giá cà phê thô giảm 41,17 cents/pound vào tháng 9/2001
từ 71,94 cents/pound ở thời điểm tháng 9/1999, tính bình quân 43% trong vòng 2 năm. Với
những chi phí khác là bằng nhau, giá các sản phẩm chế biến phải giảm khoảng 3%. Nếu chi
phí vận chuyển, lưu kho và bảo hiểm chiếm 15% trong tổng chi phí chế biến cà phê và nếu
chúng cùng lúc tăng 20% trong vòng 2 năm thì giá của các sản phẩm chế biến mới không
thay đổi. Điều này chắc chắn sẽ không xẩy ra trên thực tế.
2
1.3. Biến động giá
Trong những năm qua giá cà phê biến động mạnh. Nguyên nhân biến động giá cà phê lớn
chủ yếu là do các cú sốc về cung (supply shock) chứ không phải là từ các yếu tố cầu. Thực
tiễn cho thấy, những biến động lớn trong giá cà phê trong những năm trước đây thường
liên quan đến sương giá và hạn hán ở Brazil, nước xuất khẩu cà phê lớn nhất trên thế giới.
Năm 1975, Brazil bị sương giá đã đẩy giá cà phê trong hai năm tiếp theo lên rất cao, đạt tới
đỉnh cao nhất vào 1977 khoảng 4000 USD/tấn.
1
ICARD, OXFAM Anh và OXFAM Hong Kong, 2002.
2
ICARD, OXFAM Anh và OXFAM Hong Kong, 2002.
5
Phan Sỹ Hiếu. 27.4.2004
Năm 1994, sương muối đã làm sản lượng cà phê Brazil đột ngột giảm 13 triệu bao đẩy giá
cà phê thế giới tăng mạnh. Những nước xuất khẩu cà phê khác được lợi, kim ngạch xuất
khẩu tăng, trong đó có Việt Nam. Kể từ năm 1999, khi sản lượng cà phê của Brazil hồi
phục và tăng trưởng trở lại cùng với tăng trưởng mạnh của Việt Nam đã dẫn tới lượng
cung cà phê tăng mạnh. Năm 2000, cung cà phê hạt cho thị trường vào khoảng 115 triệu
bao (khoảng 60 kg/bao), trong khi mức tiêu thụ chỉ vào khoảng 105 triệu bao (các nước
nhập khẩu cà phê: 80 triệu bao và 25 triệu bao ở các nước sản xuất cà phê). Lượng cung cà
phê cho toàn thế giới đã vượt quá nhu cầu, dẫn tới lượng cà phê tồn trong kho dự trữ ở các
nước sản xuất và cả các nước tiêu thụ cà phê tăng, làm giá cà phê giảm xuống mức thấp
nhất trong vòng 30 năm qua – nếu điều chỉnh yếu tố lạm phát sẽ ở mức thấp trong 100 năm
qua. Giá cà phê trên thị trường giảm xuống dưới mức giá thành sản xuất đã làm cho ngành
cà phê nói chung và người trồng cà phê nói riêng chịu thiệt hại nặng nề.
Sản lượng và giá cà phê thế giới
Nguồn: ICO.
Thay đổi giá thế giới sẽ ảnh hưởng ngược trở lại đến sản lượng sản xuất. Sự lan truyền
những biến động cung (supply shocks) sang biến động về giá (price shocks) là tức thì. Tuy
nhiên, những điều chỉnh cung khi giá thay đổi có độ trễ. Kì vọng giá cao có thể dẫn đến
tăng sản lượng nhờ chăm sóc tốt hơn những cây trồng hiện có, trong khi những cây trồng
mới thường đòi hỏi thời gian sinh trưởng thời gian từ 3 đến 5 năm. Do đó phải mất vài
năm để cung có thể được điều chỉnh khi giá cao.
Trong những năm qua, dư cung dẫn đến áp lực làm giảm giá cà phê. Mặc dù mức giá
chung của 4 loại cà phê thương mại chính tăng từ 40 xu Mỹ/lb vào giữa những năm 1960
lên 45 xu Mỹ/lb vào 2001, nhưng theo Kaplinsky (2001) mức giá thực tế của cà phê trong
tỷ lệ trao đổi (được điều chỉnh theo lạm phát) giảm xuống một cách nhanh chóng xuống
chỉ còn một nửa so với thời điểm giữa những năm 1960 (và khoảng 20% của đỉnh điểm giá
trị thị trường vào năm 1977). Nghiêm trọng hơn, mức giá cà phê năm 2001 không bù đắp
được tổng chi phí của người sản xuất. Không thu được lợi nhuận từ sản xuất cà phê, những
6
Phan Sỹ Hiếu. 27.4.2004
người trồng cà phê ở nhiều vùng của Việt Nam, Ethiopia, Guatemala, Mexico và Kenya đã
không thu hoạch hoặc chặt cây cà phê.
Ảnh hưởng giá cà phê giảm đến đời sống các nước trung Mỹ
Giá cà phê giảm làm tình trạng lao động tại Trung Mỹ lên tới mức báo động. Hai
mùa cà phê trở lại đây, lao động thời vụ giảm 20% trong khi lao động cố định giảm tới hơn
50%. Hơn một nửa nhân công hiện nay đang làm việc chỉ bằng hoặc thậm chí ít hơn một
nửa công suất. Doanh thu giảm nên các chủ đồn điền cũng buộc phải cắt giảm lương
xuống mức tối thiểu.
Số lao động giảm trong ngành cà phê Trung Mỹ (ngàn lao động)
Tính chất lao động/ mùa
vụ
2000/2001 2001/2002 Thay đổi (%)
Mùa vụ 1.700 1.350 -21%
Thường xuyên 350 160 -54%
Số liệu cho các nước Guatemala, Honduras, El Savador, Nicaragua và Costa Rica.
Tình hình trên đặc biệt nghiêm trọng bởi không giống như những cây trồng khác,
phần lớn các hộ sản xuất cà phê Trung Mỹ là những hộ sản xuất nhỏ, định cư ở những
vùng nông thôn hẻo lánh. Cuộc sống của họ phụ thuộc chủ yếu vào các vụ thu hoạch cà
phê và thu nhập thêm từ những công việc thời vụ. Nguồn thu nhập đó cũng chỉ đủ cho
người nông dân mua sắm thực phẩm và trang trải các nhu cầu thiết yếu khác như: học phí
cho con em, các dịch vụ y tế; thậm chí họ cũng không có cả những khoản tiền dự trữ
phòng khi khó khăn. Chính vì vậy, khủng hoảng cà phê đã làm mất cân bằng xã hội do
dòng người đổ ra đô thị ngày càng gia tăng, nền kinh tế nông thôn suy sụp gây mất ổn định
nền kinh tế quốc dân.
ở cấp độ vĩ mô, nguồn thu của quốc gia và các ngân hàng đều bị ảnh hưởng mạnh
do thiếu hụt ngoại tệ. Chỉ trong vòng 1 năm, doanh thu xuất khẩu cà phê của các nước
Trung Mỹ đã giảm tới 44%, từ 1,7 tỷ đô la niên vụ 1999/2000 xuống còn 938 triệu đôla
niên vụ 2000/2001 và dự đoán con số này sẽ chỉ còn 700 triệu đô la niên vụ 2001/2002.
Tình hình trên đã làm cán cân thanh toán mất cân đối nghiêm trọng và tác động lớn đến
hoạt động kinh tế. Các khoản vay trước đây cho mục tiêu phát triển cà phê nay chưa có khả
năng thanh toán đã hạn chế hoạt động ngân hàng, đình trệ trong ngành tài chính và ảnh
hưởng tới đầu tư phát triển các ngành kinh tế khác.
Mức giảm về doanh thu xuất khẩu cà phê năm 2000 – 2002 (triệu $)
Tên nước/
niên vụ
2000 2002 Tỷ lệ
thay đổi (%)
Guatemala 598 400 -38
Honduras 345 167 -33
El Salvador 276 108 -61
7
Phan Sỹ Hiếu. 27.4.2004
Nicaragua 170 85 -50
Costa Rica 289 178 -52
Tổng cộng 1.678 938 -44
Việt Nam 501 317 -37
Nguồn: IADB, USAID, WB. 2002.
Tuy nhiên cà phê không phải là mặt hàng duy nhất có giá biến động mạnh. Trong
những năm qua, giá các mặt hàng nông sản khác cũng biến động rất lớn. Giai đoạn 1998-
2002, giá các mặt hàng đường, cao su biến động còn mạnh hơn cả giá cà phê. Chỉ số biến
động giá của các mặt hàng cà phê là 0.028 trong khi cao su là 0.03, đường là 0.028
3
.
Chỉ số biến động giá của một số mặt hàng theo tháng, giai đoạn 1/1998-12/2002
Gạo 5%
tấm Thai
Gạo 25%
tấm Thai
Cà phê
Arabica
Cà phê
Robusta
Đường Cao su Hồ tiêu
0,013 0,016 0,029 0,028 0,028 0,030 0,018
Ghi chú: Chỉ số biến động giá để tính sự thay đổi của mức giá xuay quanh mức giá trung
bình. Công thức tính chỉ số biến động giá Price stability coefficient (PSC) là: PSC=SUM
((xi/mean xi3- 1)^2)), trong đó xi là giá ănm thứ i; mean xi3 là giá trung bình trong ba năm
liên tiếp. Chỉ số càng lớn, gần với 1 tức là mức độ biến động càng lớn.
Mặc dù giá cà phê hạt có xu hướng giảm, nhưng giá cà phê chế biến trên thị trường
tiêu dùng hoàn toàn ngược lại. Theo Morissets (1977), mặc dù giá cà phê hạt trên thế giới
giảm 18% nhưng giá cà phê chế biến cho người tiêu dùng ở Mỹ tăng 240% trong thời kỳ
1975- 1993. Sự chi phối của một vài công ty thương mại cà phê lớn ở Mỹ trên thị trường
cà phê là nguyên nhân của hiện tượng này. Những nhà máy chế biến cà phê lớn được thành
lập nhằm tận dụng lợi thế theo qui mô. Rào cản tự nhiên của sự gia nhập mới là chi phí cố
định để thành lập nhà máy cao. Sức mạnh độc quyền bán cho phép những doanh nghiệp
này đặt giá ở mức tối đa hoá lợi nhuận. Khi giá thế giới giảm, họ giữ giá trong nước ở mức
tối đa hoá lợi nhuận. Ngược lại khi giá thế giới tăng, họ chuyển mức giá thế giới cao này
vào giá trong nước. Phân tích của Fitter and Kaplinsky (2001) về mối quan hệ chủ yếu về
đầu vào và đầu ra giữa các nước trong kênh marketing cà phê cho thấy người trồng cà phê
ở các nước đang phát triển chỉ được trả từ 10 đến 20% trong mức giá bán sau cùng
4
.
1.4. Xuất khẩu cà phê Việt Nam phụ thuộc vào giá thế giới
Cùng với xu hướng tăng diện tích trồng, cà phê dần trở thành mặt hàng nông sản xuất khẩu
quan trọng của Việt Nam trong thập kỷ 90. Kim ngạch xuất khẩu dao động từ 400 đến 600
triệu USD trong mấy năm gần đây, tạo ra từ 6% đến 10% thu nhập từ xuất khẩu quốc gia.
3
Chỉ số biến động giá
4
Theo Fitter và Kaplinsky, 2001, khoảng 40% giá sản phẩm cuối cùng (giá cà phê bán tại siêu thị năm
1994) thuộc về các nước đang phát triển, trong đó khoảng 26 đến 53% (tuy theo phương pháp chê biến:
chế biến khô hay ướt) được trả cho người trồng cà phê. Điều đó có nghĩa là chỉ 10 đến 20% giá sản phẩm
cuối cùng được trả cho người trồng cà phê.
8
Phan Sỹ Hiếu. 27.4.2004
Riêng với cà phê vối, Việt nam là nước xuất khẩu đứng đầu thế giới với 41,3% thị phần (cà
phê vối chiếm 99% tổng sản lượng cà phê cả nước).
Với hơn 95% sản lượng được xuất khẩu và từng bước tự do hoá thương mại, ngành cà phê
Việt Nam ngày càng gắn chặt với thương mại thế giới. Giá xuất khẩu và giá thị trường nội
địa bám sát biến động giá trên thị trường quốc tế. Khoảng cách giữa giá xuất khẩu của Việt
Nam và giá quốc tế ngày càng thu hẹp, tuy còn chậm. Thực tế, mua bán cà phê ở Việt Nam
được tự do hoá hơn các sản phẩm nông nghiệp khác.
Việc sản lượng xuất khẩu cà phê Việt Nam tăng nhanh và giá cà phê thế giới giảm xuống
dẫn đễn hai ý kiến trái ngược nhau về nguyên nhân của hiện tượng này. Trong những năm
đầu thập kỷ 90, sản lượng cà phê của Việt Nam không ảnh hưởng giá thế giới, vai trò của
Việt Nam trong tổ chức cà phê thế giới nhỏ. Từ những năm giữa thập kỷ 90, Việt Nam dần
trở thành nước xuất khẩu lớn trên thế giới. Sản lượng cà phê tăng nhanh vượt ra khỏi mọi
dự đoán của các chuyên gia quốc tế, các doanh nghiệp kinh doanh cà phê thế giới. Các vụ
cà phê từ năm 1998/99 về trước, lượng cà phê xuất khẩu hàng năm không lớn lắm. Nhưng
hai vụ 1999/00 và 2000/01, mỗi vụ tăng trên 200 nghìn tấn và đơn giá xuất khẩu hai vụ này
cũng thấp kỷ lục, giá vụ sau chỉ bằng 60% giá vụ trước. Giá xuất khẩu F.O.B của Việt
Nam quí III/2001 là 380,8 USD/tấn và quí IV chỉ còn 321 USD/tấn, gây khó khăn cho
người trồng cà phê.
Hầu hết ý kiến hiện nay đều cho rằng sản lượng tăng nhanh ở Việt Nam làm giảm giá thế
giới, gây thiệt hại cho các nước xuất khẩu cà phê trên thế giới. Nhiều hộ buộc phải bỏ
không chăm sóc, chuyển sang trồng các loại cây khác. Cùng với xu hướng tăng sản lượng
xuất khẩu cà phê Việt Nam và giá thế giới giảm, Một số ít ý kiến cho rằng, sản lượng cà
phê Việt Nam tăng nhanh do giá thế giới tăng đột biến vào năm 1994 đến 1996 đã làm tăng
lợi nhuận người trồng cà phê Việt Nam, khuyến khích họ mở rộng diện tích và tăng thâm
canh trồng cà phê. Khả năng cạnh tranh cao của cà phê Việt Nam đã làm cho nhiều nước
trên thế giới buộc phải thu hẹp diện tích v.v
5
. Mô hình kinh tế lượng tuyến tính giữa sản
lượng với các mức độ trễ giá xuất khẩu và giá xuất khẩu với các mức độ chễ của sản lượng
cho thấy sản lượng cà phê Việt Nam phụ thuộc vào biến động giá thế giới với độ trễ là 4
năm
6
.
2. NGÀNH CÀ PHÊ VIỆT NAM VÀ ĐẮC LẮC TRONG TIẾN TRÌNH HỘI NHẬP
KINH TẾ QUỐC TẾ
Tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế đã tác động sâu rộng đến khu vực nông nghiệp nông
thôn, theo nhiều chiều khác nhau. Đối với ngành hàng cà phê hội nhập vào thị trường quốc
tế có ảnh hưởng rất lớn đến đời sống của người dân cũng như hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp, bởi đến 90% sản lượng sản xuất ra của ngành cà phê để xuất
khẩu. Hội nhập quốc tế tạo điều kiện cho ngành hàng cà phê Việt Nam liên hệ, kết nối
ngày càng chặt hơn vào thị trường quốc tế và do vậy những biến động của thị trường sẽ lan
truyền trực tiếp và mạnh hơn, dễ dẫn đến những tổn thương và rủi ro lớn hơn. Mặt khác,
5
ICARD, OXFAM Anh và OXFAM Hong Kong, 2002.
6
Nhận định này dựa trên kết quả nghiên cứu về cà phê Việt Nam của Trung tâm Tin học, 2003.
9
Phan Sỹ Hiếu. 27.4.2004
quá trình hội nhập mở ra những cơ hội phát triển mới đối với người nông dân và doanh
nghiệp, cho phép vượt qua được những giới hạn về không gian, về sức tiêu thụ nhỏ bé của
thị trường nội địa, tuyên truyền quảng bá sản phẩm đến những thị trường xa xôi hay nước
ngoài.
2.1. Tổng quan về ngành cà phê Việt Nam và Đắc Lắc
Cây cà phê đầu tiên được đưa vào Việt Nam năm 1870. Người Pháp đã mang cây cà phê
Arabica từ đảo Bourbon sang trồng ở phía Bắc Việt Nam sau đó mở rộng sang các vùng
khác. Năm 1930, Việt Nam có khoảng 5900 ha cà phê
7
. Đến năm 1990, Việt Nam có
khoảng 119300 ha. Giữa thập kỷ 90, giá tăng đã khuyến khích người trồng cà phê Việt
Nam mở rộng diện tích trồng và tăng thâm canh cà phê. Tổng diện tích cây cà phê năm
2000 lên đến 516,7 nghìn ha, chiếm 4,14% tổng diện tích cây trồng của Việt Nam, đứng
thứ ba chỉ sau hai loại cây lương thực chủ lực là lúa (chiếm 61,4%) và ngô (chiếm 5,7%).
Trong các vùng trồng cà phê ở Việt Nam, tỉnh Đăc Lăk đóng vai trò quan trọng. Đăk Lăk
đất rộng, người thưa có nhiều điều kiện để phát triển nông lâm nghiệp, đặc biệt có lợi thế
để phát triển những vùng chuyên canh nông lâm sản trong đó có cà phê. Hiện nay Đăc Lăk
chiếm trên 50% tổng diện tích cà phê của Việt Nam. Trong giai đoạn 1990 -2000, diện tích
trồng cà phê trên địa bàn tỉnh tăng mạnh, khoảng 14,1%/năm. Trong những năm đó, nguồn
thu nhập của các hộ gia đình lớn khá phong phú, bao gồm cà phê, tiêu, điều và mía.
8
Vào
năm 2000, diện tích cây cà phê đã lên tới 260.000 ha, trong đó có 223.340 ha cà phê được
trồng trên đất bazan (88,4%), diện tích còn lại (11,6%) được trồng trên các loại đất khác.
Hiện nay, cà phê chiếm 57% diện tích đất nông nghiệp ở Đăk Lăk và 86% diện tích các
cây công nghiệp lâu năm của tỉnh. Đăk Lăk trở thành một trong những vùng chuyên canh
cà phê lớn nhất cả nước, chiếm 50% diện tích và 53% sản lượng cà phê cả nước
Một số đặc điểm của tỉnh và nông hộ trồng cà phê Đắc Lắc
Đăk Lăk hiện có gần 1,8 triệu dân, chiếm khoảng 58% dân số của bốn tỉnh Tây Nguyên.
Cộng đồng dân cư bản địa (chủ yếu là đồng bào dân tộc tại chỗ) có khoảng 0,36 triệu
người, trong đó dân tộc Êđê chiếm 64,5% (18,4% dân số toàn tỉnh), dân tộc M'nông chiếm
17% (4,8% dân số toàn tỉnh). Tốc độ tăng dân số của Đăk Lăk ở mức cao nhất trên phạm vi
cả nước, bình quân 6,18%/năm.
Hộ trồng cà phê ở Đăk Lăk có những đặc điểm chính là chủ yếu sống bằng nghề nông và
đa phần chủ hộ là nam giới (trên 80%). Tỷ lệ mù chữ còn chiếm tỷ lệ cao. Ví dụ, chỉ có các
hộ giàu và trung bình ở Krông Buk là 100% biết chữ. Tỷ lệ không biết chữ ở các hộ còn lại
thấp nhất là 4,8% (hộ trung bình Krông Bông) và cao nhất là 15,8% (hộ nghèo Krông
Bông). Đa số các hộ người Kinh có cuộc sống khá giả hơn người dân tộc ở hai huyện
Krông Bông và Krông Buk trong khi ở huyện Cư Jut thì tỷ lệ hộ giàu là người dân tộc lại
chiếm phần hơn (tỷ lệ hộ giàu là người Kinh so với nguời dân tộc ít người là 66,7% so với
33,3% ở huyện Krông Bông, 76% so với 24% ở huyện Krông Buk và 41,2% so với 58,8%
7
VICOFA, Giới thiệu ngành cà phê Việt Nam, 2002.
8
Nguyễn Văn Áng, 5/2000.
10
Phan Sỹ Hiếu. 27.4.2004
ở CưJut).
Ở Đăk Lăk, các hộ trồng cà phê theo qui mô hộ gia đình chủ yếu trồng từ năm 1990 trở lại
đây. Các hộ còn lại trước đây là công nhân cho nông trường cà phê, sau đó nông trường
giải thể và phân đất cho họ với lãi suất qui định trả bằng cà phê. Những năm qua, sản xuất
cà phê ở Đăk Lăk tăng chủ yếu là quảng canh chứ không phải thâm canh. Trong thời kỳ
1990-2000, sản lượng cà phê tăng 30,4%/năm thì hai phần ba trong số đó là do tăng diện
tích canh tác. Năng suất bình quân của cà phê ở Đăk Lăk là 2,45 tấn/ha. Phần lớn các gia
đình sử dụng hạt giống để trồng cà phê là phương pháp cho năng suất thấp, cây che phủ có
được trồng nhưng thường chưa đủ cao để phủ bóng râm cho tất cả cây cà phê. Không có
mấy khác biệt về năng suất trong các vùng của một huyện, nhưng giữa các huyện thì sự
chênh lệch về năng suất là không nhỏ.
Tốc độ năng suất, diện tích và sản lượng cà phê ở Đăk Lăk giai đoạn 1990-2000 (%)
Nguồn: ICARD
Thực tế sản xuất cà phê ở Đăk Lăk cho thấy, nông hộ trồng cà phê nhận được ít các hỗ trợ
kỹ thuật. Phần lớn các hộ không nhận được dịch vụ khuyến nông, đặc biệt là ở huyện
Krông Bông tỷ lệ không nhận được dịch vụ khuyến nông ở các hộ giàu, trung bình và
nghèo lần lượt là 100%, 95,2% và 94,7%. Trong khi đó, các ngân hàng lại hoạt động khá
tốt hỗ trợ vốn vay cho nông hộ, kể cả các hộ nghèo. Trung bình, năm 2002, các hộ nghèo ở
thôn CưJut vay 10 triệu đồng với thời hạn vay 13 tháng.
Về hoạt động chế biến, hiện nay ở Đăk Lăk các doanh nghiệp đã bắt đầu áp dụng công
nghệ chế biến cao. Trong thời kỳ khủng hoảng giá, các công ty trong nước (nhà nước và tư
nhân) bắt đầu chú trọng hơn tới việc nhập khẩu các thiết bị công nghệ mới, cho phép phân
loại nhiều cấp độ sản phẩm hơn, mầu sắc và mùi vị tốt hơn. Công ty cà phê Đăk Man chủ
yếu tập trung chế biến các sản phẩm chất lượng cao và bán cho công ty mẹ ở Luôn Đôn.
Công suất của công ty khoảng 18 nghìn tấn/năm. Gần đây, một số công ty cũng bắt đầu
chú trọng tới hợp tác với các trường đại học và viện nghiên cứu trong nước sản xuất những
máy chế biến cà phê trong nước vì giá thành rẻ hơn rất nhiều. Trung Nguyên là một ví dụ.
Trong thời gian qua, công nghệ chế biến cà phê chủ yếu được nhập khẩu từ 2 nước là ý và
11
Phan Sỹ Hiếu. 27.4.2004
Đức nhưng gần đây công ty đã bắt đầu hợp tác với trường đại học Bách khoa thành phố Hồ
Chí Minh để sản xuất loại máy móc tương tự.
Về hoạt động tiêu thụ ở Đăk Lăk, mạng lưới các đại lý đóng vai trò quan trọng. Các đại lý
có nhiều hình thức và phương tiện vận chuyển khác nhau. Thứ nhất, người dân và người
thu gom vận chuyển cà phê bán thẳng tại đại lý. Thứ hai, các đại lý thường sử dụng công
nông đến tận nhà những người trồng cà phê để thu mua. Thứ ba, các đại lý sử dụng ô tô để
thu mua tại những vùng tương đối xa. Đối với vận chuyển bán, các đại lý chủ yếu dùng ô
tô để bán cho các tổng đại lý, các doanh nghiệp xuất nhập khẩu và chế biến cà phê.
Đối với các doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu, việc vận chuyển chủ yếu bằng ô tô trên
địa bàn thu mua. Trong trường hợp vận chuyển đến cảng Sài Gòn, nhiều doanh nghiệp thuê
của các công ty vận tải và giá thuê phụ thuộc nhiều vào thời điểm thu hoạch cà phê. Chi
phí vận chuyển hiện nay dao động trong khoảng từ 120 đến 220 nghìn đồng/tấn đến cảng
Sài Gòn. Bình quân cả năm khoảng 160 nghìn đồng/tấn. Cà phê được vận chuyển đến cảng
TP. HCM ở dạng bao và được đưa xuống các container tại các nhà kho xuất khẩu. Các khó
khăn trong vận chuyển hiện nay: phí cầu đường cao, công an và các trạm kiểm tra vận
chuyển quá tải, quá khổ vì đường sá nông thôn, cầu đường không thể chịu nổi 22 tấn.
2.2. Khả năng cạnh tranh của cà phê Việt Nam và Đăk Lăk
12
Phan Sỹ Hiếu. 27.4.2004
Khả năng cạnh tranh cao của cà phê Robusta Việt Nam chủ yếu dựa trên 4 yếu tố chính.
Thứ nhất là giá lao động rẻ. Thứ hai là năng suất cao dựa trên sử dụng nhiều phân bón và
nước tưới. Mặc dù là nước mới tham gia thị trường cà phê quốc tế nhưng Việt Nam đã
quản lý và đạt được mức năng suất cao bằng phương pháp canh tác thâm canh mạnh với
việc ứng dụng cao các loại đầu vào, phân bón và nước tưới. Việt Nam có năng suất bình
quân 1,30 tấn/ha, nhiều nơi đạt từ 4 đến 5 tấn/ha so sánh với 0,30-0,35 tấn/ha ở các nước
Châu Phi và Indonesia. Brazil và India đạt khoảng 0,8 tấn/ha. Chi phí lao động là một trong
những nước trồng cà phê thấp nhất và cùng với năng suất cao đã góp phần làm giá thành
trên một đơn vị sản phẩm ở Việt Nam thấp.
Thứ ba là lợi thế về khoảng cách vận chuyển. Các vùng sản xuất chính cà phê Việt Nam
đều gần các cảng xuất khẩu do Việt Nam có chiều ngang hẹp. Thứ tư là hệ thống chính
sách của nhà nước đối với ngành cà phê thông thoáng, tạo môi trường bình đẳng cho tất cả
các tác nhân tham gia sản xuất, chế biến và tiêu thụ cà phê. So sánh với các nước khác,
nông dân Việt Nam là người nhận được tỷ lệ mức giá cao nhất nếu so với mức giá xuất
khẩu. Mức giá tại hộ năm 2002 chiếm tới 94% so với giá xuất khẩu ở Việt Nam. Trong khi
đó, tỷ lệ này ở các nước xuất khẩu cà phê khác thấp hơn rất nhiêu như Indonesia (83%), ấn
Độ (83%), Uganda (75%) và Ivory (63%). Chính vì 4 yếu tố này nên xuất khẩu cà phê Việt
Nam đã nhanh chóng chiếm lĩnh được thị trường cà phê thế giới, gây sức ép cạnh tranh
mạnh với các nước xuất khẩu cà phê trên thế giới, đặc biệt các nước Châu Phi.
Tuy nhiên, việc "xác định" hay "lượng hoá" khả năng cạnh tranh của bất kỳ hàng hoá nào
cũng gặp phải nhiều khó khăn. Về khía cạnh lý thuyết, khả năng cạnh tranh có thể được
xác định thông qua 2 chỉ số quan trọng là giá thành và lợi thế so sánh (DRC). Thông
thường, nếu một nước có giá thành và chỉ số DRC thấp thì giá xuất khẩu thấp, tạo lợi thế
cạnh tranh trên thị trường thế giới và ngược lại. Tuy nhiên, trên thực tiễn, việc sử dụng 2
chỉ số này như là công cụ để đo lường khả năng cạnh tranh không phải lúc nào cũng là
thước đo có độ tin cậy cao vì nhiều lý do khác nhau. Ví dụ như, một nước có giá thành sản
xuất thấp còn phụ thuộc vào những gì mà người hay tổ chức tính toán đưa những hạng mục
chi phí gì vào trong cơ cấu giá thành sản phẩm.
Chỉ số DRC cho cà phê Đăk Lăk 1994 -1999
Vùng sinh thái Chỉ số DRC
Vùng thích hợp nhất 0,300
Vùng thích hợp trung bình 0,325
Vùng ít thích hợp 0,628
Nguồn: ICARD, OXFAM Anh và OXFAM Hongkong, Đăk Lăk, 3/2002
Đối với chỉ số DRC, ngoài những khó khăn tương tự như trong hạch toán giá thành, việc
tính toán dựa trên giả thuyết quan trọng là giá thế giới là mức giá "chuẩn", ít chịu ảnh
hưởng của các can thiệp làm bóp méo thị trường. Tuy nhiên, giả thuyết này có thể tương
đối đúng với hàng hoá này nhưng chưa chắc đã đúng với hàng hoá khác. Như đã trình bầy,
thị trường cà phê thế giới là thị trường rất không hoàn hảo. Mức giá hình thành trên thị
trường chịu tác động mạnh của cấu trúc thị trường độc quyền mua và can thiệp chính sách
13
Phan Sỹ Hiếu. 27.4.2004
của các nước xuất khẩu chính. Bên cạnh đó, tính đầy đủ, chính xác của số liệu và thời điểm
tính cũng là những hạn chế đối với việc tính toán các chỉ số này. Do những hạn chế của
việc sử dụng 2 chỉ số này như là một công cụ đo lường khả năng cạnh tranh là không thể
tránh khỏi nên việc sử dụng chúng như là thước đo phản ánh khả năng cạnh tranh hơn là
thước đo tuyệt đối đúng. Dựa trên tính toán của nhóm nghiên cứu ICARD, OXFAM Anh
và Hong Kong thực hiện cho giai đoạn 1994 đến 1999, lợi thế so sánh của sản xuất cà phê
tại ba vùng sinh thái khác nhau (rất thích hợp, thích hợp và ít thích hợp) cho thấy giá trị chỉ
số chi phí nguồn lực trong nước (chỉ số DRC) rất khác nhau. Chỉ số DRC dao động trong
khoảng từ 0 đến 1. Chỉ số này của một vùng hay của một sản phẩm càng nhỏ, nghĩa là gần
với số 0 hơn, thì tiềm năng tăng thêm giá trị cho sản phẩm của vùng đó càng cao - nói cách
khác, lợi thế so sánh của vùng càng cao cho sản phẩm của mình. Chỉ số DRC là 0,3 ở Vùng
sinh thái rất thích hợp, 0,325 ở Vùng sinh thái thích hợp và 0,628 ở vùng sinh thái ít thích
hợp. Do chỉ số DRC ở Vùng ít thích hợp cao hơn nhiều so với hai vùng còn lại nên có thể
thấy rằng mặc dù giá thành sản xuất ở đây thấp hơn nhưng không đủ để bù cho đất đai kém
màu mỡ và điều kiện khó khăn về nguồn nước. Vùng ít thích hợp ở xa nơi tiêu thụ, giá bán
thấp v.v
9
Đối với người trồng cà phê Việt Nam, hầu hết các chuyên gia trong nước và quốc tế đều
đồng ý họ là một trong những người làm việc chăm chỉ, sáng tạo và góp phần thúc đẩy sự
tăng trưởng nhanh chóng sản lượng và năng suất của cà phê Việt Nam trong thập kỷ qua.
Đây cũng là một trong những lợi thế cạnh tranh của cà phê Việt Nam. Tuy nhiên, người
trồng cà phê Việt Nam đang phải đối diện với rất nhiều khó khăn. Thứ nhất, người trồng cà
phê canh tác chủ yếu dựa trên kinh nghiệm, học hỏi lẫn nhau. Trong khi đó, hoạt động
khuyến nông của các tổ chức nhà nước chưa được chú trọng đầu tư cả về người và vật
chất. Kết quả điều tra của SDC tháng 6/2003 cho thấy trên 90% số hộ không nhận được
dịch vụ khuyến nông về giống và kỹ thuật. 100% số hộ được hỏi không nhận được khuyến
nông về tiêu thụ sản phẩm. Người dân vẫn trồng và chăm bón tự do. Nhiều hộ, nhiều nơi
đã cố gắng tăng năng suất bằng cách tăng đầu tư mạnh và kết quả là giá thành bị đẩy lên
rất cao và khả năng cạnh tranh giảm khi giá thế giới xuống thấp. Thứ hai, người trồng cà
phê Việt Nam chủ yếu là những người sản xuất nhỏ, chưa hình thành các hợp tác xã dịch
vụ nhằm tạo lợi thế trong tiêu thụ và sản xuất cà phê.
Trong những năm tới, nếu không có những giảm sút đột ngột về phía cung, giá thị trường
cà phê thế giới sẽ không thể đạt được mức cao như trong giai đoạn 1994 - 1999. Qua phân
tích bằng Mô hình cân bằng riêng phần (Partial equilibrium model), những hộ và những
vùng có giá thành sản xuất cà phê trên 5600 đ/kg (không tính công lao động gia đình và
các khoản phí tài nguyên) sẽ gặp phải nhiều khó khăn trong kinh doanh cà phê và nên
chuyển đổi sang trồng các loại cây trồng khác hoặc điều chỉnh lại cơ cấu chi phí, nâng cao
hiệu quả quản lý nhằm đưa giá thành xuống dưới mức 5600 đ/kg.
2.3. Thị trường và tác động đến người trồng cà phê
Sự thăng trầm của ngành hàng cà phê trong những năm qua cho thấy tính hai mặt của quá
trình hội nhập kinh tế quốc tế. Giai đoạn trước 90, giá cà phê thị trường thế giới ở mức cao
cùng với sự thông thương ra bên ngoài của ngành hàng cà phê đã kích thích người dân đô
9
ICARD, OXFAM Anh và OXFAM Hong Kong, 2002.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét