Thứ Tư, 26 tháng 2, 2014

Thực trạng hoạt động cho vay DNNQD

Chuyên đề tốt nghiệp
nước ngoài đang phát triển khá nhanh, tuy nhiên sự phát triển của loại hình
này bị giới hạn bởi sự hấp dẫn, thu hút các đối tác nước ngoài, môi trường
pháp lí của mỗi nước. Còn loại hình DNNQD được Nhà nước khuyến khích
phát triển, đóng góp to lớn đến sự phát triển nhanh và ổn định nền kinh tế.
1.1.2. Phân loại Doanh nghiệp ngoài quốc doanh
Để thuận tiện cho công việc giám sát, quản lí người ta phân chia
DNNQD thành các loại khác nhau theo từng loại tiêu chí.
1.1.2.1. Phân loại theo loại hình doanh nghiệp ( phân định trách nhiệm và
quản lí hoạt động của từng loại hình doanh nghiệp ) gồm có:
- Doanh nghiệp tư nhân ( DNTN ): là doanh nghiệp do một cá nhân làm
chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động
của doanh nghiệp ( Theo Luật doanh nghiệp 2005 )
- Công ty hợp danh: là doanh nghiệp trong đó phải có ít nhất hai thành
viên là chủ sở hữu chung, cùng nhau kinh doanh dưới một tên chung; ngoài ra
còn có thể có các thành viên góp vốn ( Theo Luật doanh nghiệp 2005 )
- Công ty trách nhiệm hữu hạn: là doanh nghiệp mà chủ sở hữu có thể
là tổ chức, cá nhân tự chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản
của công ty trong phạm vi vốn góp của mình.
- Công ty cổ phần: là doanh nghiệp mà vốn điều lệ được chia thành
nhiều phần bằng nhau được gọi là cổ phần, người nắm giữ cổ phần được gọi
là cổ đông. Số lượng cổ đông tối thiểu là ba người, không hạn chế số lượng
tối đa.
1.1.2.2. Phân loại theo quy mô ( lao động và vốn đầu tư ) gồm:
- Doanh nghiệp nhỏ và vừa: số lượng lao động trung bình hàng năm
dưới 300 người và vốn đầu tư không quá 10 tỷ đồng.
- Doanh nghiệp lớn: số lượng lao động trung bình hàng năm trên 300
người và vốn đầu tư trên 10 tỷ đồng.
Nguyễn Thị Thuỳ Dung Ngân hàng 46C
5
Chuyên đề tốt nghiệp
Ở Việt Nam, chủ yếu là các doanh nghiệp nhỏ và vừa.
1.1.2.3. Phân loại theo thành phần kinh tế
Theo Nghị quyết của của Đại hội Đảng khoá X thì DNNQD được hình
thành từ hai thành phần kinh tế là:
- Thành phần kinh tế tư bản Nhà nước thì DNNQD gồm: công ty
TNHH, công ty cổ phần có sự tham gia góp vốn của Nhà nước với tỷ lệ nhỏ
hơn hoặc bằng 50%.
- Thành phần kinh tế tư nhân thì DNNQD gồm: công ty TNHH, công ty
cổ phần, công ty hợp danh, doanh nghiệp tư nhân không có sự góp vốn của
Nhà nước.
1.1.2.4. Phân loại theo ngành nghề kinh doanh.
Các doanh nghiệp kinh doanh theo các ngành nghề khác nhau, được
chia thành ba nhóm chính là:
- Doanh nghiệp nông nghiệp: là các doanh nghiệp hoạt động sản xuất
kinh doanh các nông phẩm, cây trồng, vật nuôi…
- Doanh nghiệp công nghiệp: là các doanh nghiệp hoạt động sản xuất
kinh doanh trong lĩnh vực công nghiệp. Ở nước ta chủ yếu là sản xuất các mặt
hàng công nghiệp nhẹ.
- Doanh nghiệp thương mại dịch vụ: là các doanh nghiệp mua bán hàng
hoá và cung ứng các dịch vụ như bảo hiểm, ngân hàng tài chính, du lịch,
khách sạn…
1.1.3. Vai trò của Doanh nghiệp ngoài quốc doanh
DNNQD với tiềm lực to lớn, sự đa dạng về nhiều mặt đã và đang khẳng
định được vai trò ngày càng quan trọng của mình đối với sự phát triển của nền
kinh tế. Vai trò của các DNNQD thể hiện ở một số khía cạnh sau:
1.1.3.1. Thu hút và phát triển tốt các nguồn lực trong nền kinh tế
Nguyễn Thị Thuỳ Dung Ngân hàng 46C
6
Chuyên đề tốt nghiệp
Thứ nhất là vốn đầu tư, các DNNQD sử dụng đa dạng các phương thức
huy động vốn để khai thác hiệu quả mọi nguồn vốn trong nền kinh tế. Đặc
biệt là thu hút được lượng vốn nhàn rỗi lớn trong xã hội. Với điều kiện kinh tế
thị trường đang phát triển như Việt Nam hiện nay thì việc huy động được
nguồn vốn nhàn rỗi vào sản xuất kinh doanh là tác động tích cực, cần thiết tạo
nên động lực cho tăng trưởng. Tổng nguồn vốn của các doanh nghiệp thu hút
năm 2007 là 2439 nghìn tỷ đồng, trong đó khu vực ngoài quốc doanh thu hút
được 487 nghìn tỷ đồng, chiếm 20% trong tổng nguồn vốn của các doanh
nghiệp, tăng 43% so với năm 2006. Vốn đầu tư của các DNNQD đang trở
thành nguồn vốn đầu tư chủ yếu đối với sự phát triển kinh tế của nhiều vùng,
địa phương.
Thứ hai, thu hút và giải quyết việc làm cho người lao động.Thất nghiệp
là một trong những vấn đề nan giải, bức xúc ở các nước đang phát triển nói
chung và Việt Nam nói riêng. Tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị và thiếu việc làm
ở nông thôn ngày càng tăng. Hệ thống các DNNN đang từng bước cổ phần
hoá, tinh giảm biên chế, không tạo thêm nhiều việc làm mới. Các doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài lại đòi hỏi lao động có trình độ chuyên môn,
học vấn cao. Chỉ sự phát triển mạnh mẽ của DNNQD đã tạo thêm nhiều việc
làm, thu hút nhiều lao động, giảm tỷ lệ thất nghiệp. DNNQD sử dụng đa dạng
các loại lao động bao gồm cả lao động phổ thông, lao động trí óc, lao động
bậc thấp và lao động bậc cao…với số lượng lớn. Tổng số lao động làm việc
trong các doanh nghiệp đến nay trên 5,3 triệu người. Trong đó, số lao động
làm việc tại các DNNQD khoảng 2,2 triệu người; chiếm trên 41% tổng số lao
động trong các doanh nghiệp; tăng 20% so với năm 2006. Lao động trong khu
vực DNNQD tăng mạnh với tốc độ nhanh đã giải quyết việc làm cho một bộ
phận lớn dân cư trong nước.
Nguyễn Thị Thuỳ Dung Ngân hàng 46C
7
Chuyên đề tốt nghiệp
Thứ ba, sử dụng đa dạng các yếu tố đầu vào, đổi mới kỹ thuật công
nghệ tạo động lực cho tăng trưởng. Với số lượng lớn, đa dạng về quy mô và
ngành nghề sản xuất kinh doanh, các DNNQD sử dụng ngày càng hiệu quả
các yếu tố sản xuất đầu vào: nguyên nhiên vật liệu, hàng hoá, dịch vụ của nền
kinh tế. Các loại sản phẩm mà DNNQD tiêu thụ là các sản phẩm thuộc nhiều
lĩnh vực như nông lâm nghiệp, sản phẩm công nghiệp, sản phẩm dịch vụ ngân
hàng, vận tải, bảo hiểm… Các DNNQD tận dụng được nguồn nguyên liệu dôi
thừa, tạo điều kiện để các ngành khác phát triển. Hơn nữa, sự phát triển nhanh
chóng của nền kinh tế và thị trường, sự cạnh tranh ngày càng gay gắt buộc các
DNNQD phải không ngừng nâng cao, đổi mới công nghệ- kỹ thuật, mua sắm
TSCĐ, trang thiết bị máy móc, tạo động lực cho quá trình phát triển.
Như vậy, nếu được tổ chức tốt, quan tâm tạo điều kiện phát triển thì các
DNNQD sẽ phát huy tốt vai trò của mình, trở thành khu vực kinh tế có tiềm
lực lớn.
1.1.3.2. Cung cấp hàng hoá – dịch vụ đáp ứng nhu cầu phong phú của người
dân trong nước và xuất khẩu.
DNNQD không chỉ là nơi tiêu thụ hàng hoá, dịch vụ lớn cho nền kinh
tế mà còn đóng góp vai trò không nhỏ vào quá trình sản xuất, tái sản xuất xã
hội, cung cấp hàng hoá dịch vụ cho nền kinh tế. Sử dụng các yếu tố đầu vào
DNNQD tiếp tục quá trình tái sản xuất xã hội để tạo ra nhiều hàng hoá phong
phú về chủng loại, đa dạng về kiểu cách, có chất lượng nhằm đáp ứng đầy đủ
nhu cầu của dân cư và xuất khẩu ra nước ngoài. Do yêu cầu tồn tại, phát triển
trong nền kinh tế cạnh tranh các DNNQD ra sức nghiên cứu thị trường, tìm
hiểu nhu cầu xã hội, đổi mới công nghệ, tiến hành những phương pháp sản
xuất kinh doanh mới, đáp ứng tốt nhu cầu đa dạng của cuộc sống. Với giá
thành rẻ, chất lượng cao, hàng hoá dịch vụ phong phú đã góp phần nâng cao
đời sống nhân dân, phục vụ các yêu cầu phát triển của nền kinh tế.
Nguyễn Thị Thuỳ Dung Ngân hàng 46C
8
Chuyên đề tốt nghiệp
1.1.3.3. Góp phần tăng thu nhập quốc dân, tăng thu ngân sách Nhà nước, thúc
đẩy tăng trưởng kinh tế.
Sự phát triển mạnh mẽ của các DNNQD đã đóng góp vào tổng thu
nhập quốc dân. Khu vực DNNQD luôn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong khối
doanh nghiệp đóng góp vào GDP. Các DNNN đóng góp trung bình 39% GDP
hàng năm; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đóng góp trung bình 4.5%
GDP hàng năm; DNNQD trung bình hàng năm đóng góp khoảng 46% GDP,
năm 2007 tỷ trọng đóng góp vào GDP là 50%.
Các DNNQD sản xuất kinh doanh khá hiệu quả, doanh thu trung bình
hàng năm tăng 33%, năm 2007 đạt 857 nghìn tỷ đồng. Doanh thu cao dẫn tới
khoản thuế thu nhập doanh nghiệp nộp vào ngân sách Nhà nước càng tăng.
Năm 2007, số thuế nộp NSNN của doanh nghiệp ngoài quốc doanh là 8.615
tỷ đồng, tăng 23% so với năm 2006. Đây là khoản thuế lớn, có ý nghĩa kinh tế
quan trọng phản ánh sự tăng trưởng của nền kinh tế về quy mô và hiệu quả.
1.1.3.4. Thúc đẩy mạnh mẽ quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng
công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước.
DNNQD đóng góp vào quá trình CNH – HĐH đất nước về nhiều mặt,
thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế gồm: chuyển dịch cơ cầu ngành, cơ cấu
vùng và cơ cấu thành phần kinh tế.
Thứ nhất, chuyển dịch cơ cấu ngành. Đặc trưng kinh tế đa dạng của
DNNQD tạo ra khả năng tác động lớn tới quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành.
Trước đây, DNNQD chủ yếu sản xuất kinh doanh các mặt hàng công nghiệp,
còn các ngành khác rất ít. Nhưng 22 năm đổi mới khu vực này được Nhà
nước khuyến khích phát triển đã xâm nhập hầu hết các ngành sản xuất kinh
doanh: nông nghiêp, lâm nghiệp, xây dựng, thươnh mại, dịch vụ… đặc biệt
phát triển mạnh trong lĩnh vực công thương nghiệp và dịch vụ; thực hiện đúng
định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế: “ giảm tỷ trọng sản xuất nông nghiệp,
Nguyễn Thị Thuỳ Dung Ngân hàng 46C
9
Chuyên đề tốt nghiệp
tăng tỷ trọng sản xuất công nghiệp và dịch vụ”, “ phát triển sản xuất theo
hướng đẩy mạnh xuất khẩư, thay thế hàng nhập khẩu”. DNNQD tập trung ở
lĩnh vực dịch vụ là 56.9%, công nghiệp là 25.2%, xây dựng là 12.5%.
Thứ hai, chuyển dịch cơ cấu vùng: khu vực kinh tế ngoài quốc doanh
năng động, linh hoạt, thích ứng nhanh với những thay đổi của thị trường.
Cùng với quá trình đô thị hoá các DNNQD phát triển ở các trung tâm kinh tế
lớn, thành phố, đô thị và còn vươn cánh tay của mình tới các vùng tiềm năng,
cả những vùng có điều kiện kinh tế khó khăn, đến những nơi gần vùng
nguyên liệu, có giá đất rẻ, nhân công dồi dào, giá rẻ…Các DNNQD tập trung
nhiều nhất ở Đông Nam Bộ, tiếp đến là đồng bằng Sông Cửu Long, tiếp đến
là Duyên hải Nam Trung Bộ, Bắc Trung Bộ, Đông Bắc, Tây Nguyên và Tây
Bắc. Những doanh nghiệp tư nhân, những công ty quy mô nhỏ tận dụng được
nguồn lực kinh tế, tận dụng thị trường…giúp các vùng này phát triển, tăng thu
nhập, góp phần ổn định xã hội, giảm bất cân đối phát triển giữa các vùng miền.
Thứ ba, chuyển dịch cơ cấu thành phần kinh tế. Xuất phát từ đặc điểm
nền kinh tế nước ta, để tối đa hoá nguồn lực dư thừa trong xã hội phải phát
triển nền kinh tế nhiều thành phần, trong đó thành phần kinh tế Nhà nước giữ
vai trò chủ đạo. Việc khuyến khích phát triển các DNNQD đảm bảo cho chính
sách này đi đúng hướng và đạt được kết quả. Phát triển tốt DNNQD không
những thúc đẩy tăng trưởng kinh tế mà còn hỗ trợ cho thành phần kinh tế Nhà
nước có vốn đầu tư nước ngoài phát huy đầy đủ vai trò của mình. Hiện nay,
chỉ còn hơn 4.000 DNNN và đang tiến hành từng bước cổ phần hoá. Doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng lên nhưng tốc độ chậm. Còn DNNQD
tăng rất nhanh, nhất là các công ty cổ phần, công ty TNHH. Sự phát triển của
khu vực kinh tế ngoài quốc doanh là nhân tố chủ yếu tạo môi trường cạnh
tranh giữa các thành phần kinh tế, phá bỏ tính độc quyền của kinh tế Nhà
nước, thích ứng với cơ chế kinh tế thị trường định hướng XHCN.
Nguyễn Thị Thuỳ Dung Ngân hàng 46C
10
Chuyên đề tốt nghiệp
Qua đó ta thấy vai trò to lớn của DNNQD trong quá trình chuyển dịch
cơ cấu kinh tế theo hướng CNH – HĐH. Các DNNQD luôn đi đầu trong việc
thay đổi công nghệ sản xuất lạc hậu, áp dụng các thành tựu khoa học công
nghệ và sản xuất kinh doanh chính là thực hiện CNH – HĐH cho mình.
Những sản phẩm mà DNNQD sản xuất ra tiếp tục phục vụ cho quá trình CNH
- HĐH ở hầu hết các lĩnh vực. DNNQD phát triển mạnh mẽ trong các ngành,
các vùng miền, thích ứng với xu hướng đô thị hoá tạo ra nhiều cơ hôi phân
công lại lao động, thu nhập giữa các ngành, vùng miền, góp phần thực hiện
CNH - HĐH đất nước. Quá trình hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế của
nước ta sẽ không thực hiện được nếu không có sự tham gia của DNNQD.
1.1.4. Đặc điểm của Doanh nghiệp ngoài quốc doanh .
Mỗi loại hình doanh nghiệp đều có những đặc điểm riêng, để phát triển
có hiệu quả vai trò của mỗi loại hình cần phải chú ý tới đặc điểm của chúng.
Các DNNQD có một số đặc điểm cơ bản sau:
- Các DNNQD được thành lập và hoạt động chủ yếu dựa trên tính chất tư
hữu về TLSX. TLSX không phải thuộc về Nhà nước, của toàn dân mà thuộc
sở hữu của một người hoặc một nhóm người, tập thể, tư nhân. Các hình thức
sở hữu có thể là: sở hữu cá nhân, sở hữu gia đình, sở hữu hỗn hợp hình thành
nên các hình thức đơn vụ sản xuất kinh doanh như: công ty tư nhân, công ty
TNHH, công ty cổ phần…Ngoài ra, dựa vào tính tư hữu về TLSX - cụ thể ở
đây là vốn có thể phân định trách nhiệm và quản lý hoạt động của từng loại
hình doanh nghiệp. Chẳng hạn, doanh nghiệp tư nhân do cá nhân thành lập
bằng vốn của mình, tự chịu mọi trách nhiệm mọi hoạt động của doanh nghiệp.
Công ty cổ phần được thành lập thông qua phát hành (bán) các cổ phiếu; việc
nắm giữ cổ phiếu cho phép người sở hữu có quyền tham gia quyết định các
hoạt động của công ty, tham gia chia cổ tức từ lợi nhuận, đồng thời phải gánh
chịu các tổn thất xảy ra trên phần cổ phiếu nắm giữ. Công ty TNHH được
thành lập trên cơ sở góp vốn của một hoặc một số cá nhân, tổ chức; thành
Nguyễn Thị Thuỳ Dung Ngân hàng 46C
11
Chuyên đề tốt nghiệp
viên chủ sở hữu chỉ chịu trách nhiệm về hoạt động của công ty trong phạm vi
vốn góp…
-Mục tiêu hoạt động của DNNQD là lợi nhuận. Khác với DNNN, DNNQD
không hoạt động vì mục tiêu xã hội theo mục tiêu cụ thể của Nhà nước, chủ
sử hữu được toàn quyền quyết định về hoạt động sản xuất kinh doanh của
mình nhằm tăng giá trị chủ sở hữu. Các DNNQD không có sự bảo hộ của Nhà
nước, phải tự tìm kiếm nguồn vốn đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh.
- Tính đa dạng của các DNNQD về quy mô, ngành nghề kinh doanh, mô
hình quản lý, công nghệ…Thứ nhất, về quy mô: các DNNQD mới được chính
thức công nhận hoạt động từ năm 1986 đến nay, mang tính chất tư hữu về
TLSX nên quy mô vốn và lao động của DNNQD rất đa dạng, chủ yếu là
doanh nghiệp vừa và nhỏ. Trong số các DNNQD chủ yếu là doanh nghiệp tư
nhân (chiếm 43%). Trong những năm gần đây, số doanh nghiệp có vốn sử
dụng dưới 10 tỷ đồng chiếm 94%; bình quân vốn thực tế một doanh nghiệp sử
dụng là 3.7 tỷ đồng, quá ít so với nhu cầu phát triển của nền kinh tế.
Biểu đồ: Tỷ trọng các DNNQD phân theo quy mô vốn
Quy mô lao động cũng đa dạng về số lượng lao động sử dụng, về trình độ
lao động được sử dụng và tập trung chủ yếu ở quy mô vừa và nhỏ, doanh
Nguyễn Thị Thuỳ Dung Ngân hàng 46C
12
Chuyên đề tốt nghiệp
nghiệp có số lao động dưới 300 người chiếm 98%; số lượng doanh nghiệp
có quy mô lao động lớn rất ít, chủ yếu ở các công ty cổ phần hoặc công ty
TNHH.
Biểu đồ: Tỷ trọng các DNNQD phân theo số lượng lao động
Thứ hai, đa dạng về ngành nghề sản xuất kinh doanh. Các DNNQD đã
nhanh chóng xâm nhập vào tất cả các lĩnh vực ngành nghề sản xuất kinh
doanh: nông nghiệp, thuỷ hải sản, xây dựng, công nghiêp, thương mại, dịch
vụ…Sự đa dạng trong ngành nghề sản xuất kinh doanh của các DNNQD đã
tận dụng được những phần thị trường bị bỏ rơi, nguyên nhiên liệu dư thừa,
nguồn lực lao động…thúc đẩy nền kinh tế phát triển đồng đều, đảm bảo đúng
xu hướng chuyển dịch cơ cấu ngành.
Thứ ba, sự đa dạng về mô hình quản lý. Do sự đa dạng trong hình thức sở
hữu dẫn tới sự đa dạng trong mô hình quản lý: quản lý tập trung ở các doanh
nghiệp tư nhân; quản lý phân quyền ở các công ty cổ phần, công ty TNHH,
công ty hợp danh. Mô hình quản lý tập trung thích hợp với những doanh
Nguyễn Thị Thuỳ Dung Ngân hàng 46C
13
Chuyên đề tốt nghiệp
nghiệp có quy mô nhỏ để tận dụng thị trường; mô hình quản lý phân quyền
phù hợp với những doanh nghiệp có quy mô lớn.
Từ sự đa dạng về ngành nghề sản xuất kinh doanh, quy mô, hình thức quản
lý kéo theo sự đa dạng về công nghệ sử dụng trong sản xuất kinh doanh. Với
mỗi thị trường, mỗi ngành nghề, mỗi loại hình doanh nghiệp, phụ thuộc vào
vốn và lao động mà áp dụng dây truyền công nghệ phù hợp để khai thác hiệu
quả các nguồn lực, nắm bắt thị trường, mở rộng sản xuất…
Sự đa dạng về nhiều mặt của DNNQD là một đặc trưng quan trọng, nền
kinh tế có được sự phát triển năng động chính là nhờ một phần từ sự đa dạng
của các DNNQD.
- Các DNNQD tăng nhanh về số lượng. Điều này phù hợp với xu thế
phát triển chung của đất nước và thế giới. Số lượng các DNNQD đã tăng lên
đáng kể trong những năm qua, ngày càng chiếm tỷ trọng lớn (khoảng 93%
tổng số doanh nghiệp). Tốc độ tăng bình quân gấp 1.3 lần qua các năm; bình
quân mỗi năm có trên 7.000 DNNQD được thành lập. DNNQD phát triển
mạnh đặc biệt ở các đô thị trung tâm thành phố lớn. Trên địa bàn Hà Nội, nếu
năm 2001 chỉ có 2.818 doanh nghiệp thì đến 2005 đã có 2.5479 doanh nghiệp,
đến nay có khoảng 36.500 DNNQD. Sự phát triển này càng chứng tỏ vai trò
kinh tế quan trọng của khu vực DNNQD.
Biểu đồ: Số lượng DNNQD qua các năm 2005 – 2007
Nguyễn Thị Thuỳ Dung Ngân hàng 46C
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét