Chủ Nhật, 23 tháng 2, 2014

Phân tích tình hình tài chính Công tư vấn giám sát và xây dựng công trình

với cả các hình thức đi vay và đi thuê? Điều này liên quan đến vấn đề cơ cấu vốn
và chi phí vốn của doanh nghiệp.
Thứ ba : Nhà doanh nghiệp sẽ quản lý hoạt động tài chính hàng ngày nh
thế nào?
Đây là các quyết định tài chính ngắn hạn và chúng liên quan chặt chẽ đến
vấn đề quản lý vốn lu động của doanh nghiệp. Hoạt động tài chính ngắn hạn gắn
liền với các dòng tiền nhập quỹ và xuất quỹ. Nhà quản lý tài chính cần xử lý sự
lệch pha của các dòng tiền.
Ba vấn đề trên không phải là tất cả mọi khía cạnh về tài chính doanh
nghiệp, nhng đó là những vấn đề quan trọng nhất. Phân tích tài chính doanh
nghiệp là cơ sở để đề ra cách thức giải quyết ba vấn đề đó.
Nhà quản lý tài chính phải chịu trách nhiệm điều hành hoạt động tài chính
và dựa trên cơ sở các nghiệp vụ tài chính thờng ngày để đa ra các quyết định vì lợi
ích của cổ đông của doanh nghiệp. Các quyết định và hoạt động của nhà quản lý
tài chính đều nhằm vào các mục tiêu tài chính của doanh nghiệp : đó là sự tồn tại
và phát triển của doanh nghiệp, tránh đợc sự căng thẳng về tài chính và phá sản, có
khả năng cạnh tranh và chiếm đợc thị phần tối đa trên thơng trờng, tối thiểu hoá
chi phí, tối đa hoá lợi nhuận và tăng trởng thu nhập một cách vững chắc. Doanh
nghiệp chỉ có thể hoạt động tốt và mang lại sự giàu có cho chủ sở hữu khi các
quyết định của nhà quản lý đợc đa ra là đúng đắn. Muốn vậy, họ phải thực hiện
phân tích tài chính doanh nghiệp, các nhà phân tích tài chính trong doanh nghiệp
là những ngời có nhiều lợi thế để thực hiện phân tích tài chính một cách tốt nhất.
Trên cơ sở phân tích tài chính mà nội dung chủ yếu là phân tích khả năng
thanh toán, khả năng cân đối vốn, năng lực hoạt động cũng nh khả năng sinh lãi,
nhà quản lý tài chính có thể dự đoán về kết quả hoạt động nói chung và mức
doanh lợi nói riêng của doanh nghiệp trong tơng lai. Từ đó, họ có thể định hớng
cho giám đốc tài chính cũng nh hội đồng quản trị trong các quyết định đầu t, tài
trợ, phân chia lợi tức cổ phần và lập kế hoạch dự báo tài chính. Cuối cùng phân
tích tài chính còn là công cụ để kiểm soát các hoạt động quản lý.
1.1.2.2. Đối với các nhà đầu t vào doanh nghiệp
5
Đối với các nhà đầu t, mối quan tâm hàng đầu của họ là thời gian hoàn vốn,
mức sinh lãi và sự rủi ro. Vì vậy, họ cần các thông tin về điều kiện tài chính, tình
hình hoạt động, kết quả kinh doanh và tiềm năng tăng trởng của các doanh nghiệp.
Trong doanh nghiệp Cổ phần, các cổ đông là ngời đã bỏ vốn đầu t vào
doanh nghiệp và họ có thể phải gánh chịu rủi ro. Những rủi ro này liên quan tới
việc giảm giá cổ phiếu trên thị trờng, dẫn đến nguy cơ phá sản của doanh nghiệp.
Chính vì vậy, quyết định của họ đa ra luôn có sự cân nhắc giữa mức độ rủi ro và
doanh lợi đạt đợc. Vì thế, mối quan tâm hàng đầu của các cổ đông là khả năng
tăng trởng, tối đa hoá lợi nhuận, tối đa hoá giá trị chủ sở hữu trong doanh nghiệp.
Trớc hết họ quan tâm tới lĩnh vực đầu t và nguồn tài trợ. Trên cơ sở phân tích các
thông tin về tình hình hoạt động, về kết quả kinh doanh hàng năm, các nhà đầu t
sẽ đánh giá đợc khả năng sinh lợi và triển vọng phát triển của doanh nghiệp; từ đó
đa ra những quyết định phù hợp. Các nhà đầu t sẽ chỉ chấp thuận đầu t vào một dự
án nếu ít nhất có một điều kiện là giá trị hiện tại ròng của nó dơng. Khi đó lợng
tiền của dự án tạo ra sẽ lớn hơn lợng tiền cần thiết để trả nợ và cung cấp một mức
lãi suất yêu cầu cho nhà đầu t. Số tiền vợt quá đó mang lại sự giàu có cho những
ngời sở hữu doanh nghiệp. Bên cạnh đó, chính sách phân phối cổ tức và cơ cấu
nguồn tài trợ của doanh nghiệp cũng là vấn đề đợc các nhà đầu t hết sức coi trọng
vì nó trực tiếp tác động đến thu nhập của họ. Ta biết rằng thu nhập của cổ đông
bao gồm phần cổ tức đợc chia hàng năm và phần giá trị tăng thêm của cổ phiếu
trên thị trờng. Một nguồn tài trợ với tỷ trọng nợ và vốn chủ sở hữu hợp lý sẽ tạo
đòn bẩy tài chính tích cực vừa giúp doanh nghiệp tăng vốn đầu t vừa làm tăng giá
cổ phiếu và thu nhập trên mỗi cổ phiếu (EPS). Hơn nữa các cổ đông chỉ chấp nhận
đầu t mở rộng quy mô doanh nghiệp khi quyền lợi của họ ít nhất không bị ảnh h-
ởng. Bởi vậy, các yếu tố nh tổng số lợi nhuận ròng trong kỳ có thể dùng để trả lợi
tức cổ phần, mức chia lãi trên một cổ phiếu năm trớc, sự xếp hạng cổ phiếu trên
thị trờng và tính ổn định của thị giá cổ phiếu của doanh nghiệp cũng nh hiệu quả
của việc tái đầu t luôn đợc các nhà đầu t xem xét trớc tiên khi thực hiện phân tích
tài chính.
1.1.2.3. Đối với các chủ nợ của doanh nghiệp
6
Nếu phân tích tài chính đợc các nhà đầu t và quản lý doanh nghiệp thực
hiện nhằm mục đích đánh giá khả năng sinh lợi và tăng trởng của doanh nghiệp thì
phân tích tài chính lại đợc các ngân hàng và các nhà cung cấp tín dụng thơng mại
cho doanh nghiệp sử dụng nhằm đảm bảo khả năng trả nợ của doanh nghiệp.
Trong nội dung phân tích này, khả năng thanh toán của doanh nghiệp đợc
xem xét trên hai khía cạnh là ngắn hạn và dài hạn. Nếu là những khoản cho vay
ngắn hạn, ngời cho vay đặc biệt quan tâm đến khả năng thanh toán nhanh của
doanh nghiệp, nghĩa là khả năng ứng phó của doanh nghiệp đối với các món nợ
khi đến hạn trả. Nếu là những khoản cho vay dài hạn, ngời cho vay phải tin chắc
khả năng hoàn trả và khả năng sinh lời của doanh nghiệp mà việc hoàn trả vốn và
lãi sẽ tuỳ thuộc vào khả năng sinh lời này.
Đối với các chủ ngân hàng và các nhà cho vay tín dụng, mối quan tâm của
họ chủ yếu hớng vào khả năng trả nợ của doanh nghiệp. Vì vậy, họ chú ý đặc biệt
đến số lợng tiền và các tài sản khác có thể chuyển nhanh thành tiền, từ đó so sánh
với số nợ ngắn hạn để biết đợc khả năng thanh toán tức thời của doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, các chủ ngân hàng và các nhà cho vay tín dụng cũng rất quan tâm tới
số vốn của chủ sở hữu, bởi vì số vốn này là khoản bảo hiểm cho họ trong trờng
hợp doanh nghiệp bị rủi ro. Nh vậy, kỹ thuật phân tích có thể thay đổi theo bản
chất và theo thời hạn của các khoản nợ, nhng cho dù đó là cho vay dài hạn hay
ngắn hạn thì ngời cho vay đều quan tâm đến cơ cấu tài chính biểu hiện mức độ
mạo hiểm của doanh nghiệp đi vay.
Đối với các nhà cung ứng vật t hàng hoá, dịch vụ cho doanh nghiệp, họ phải
quyết định xem có cho phép khách hàng sắp tới đợc mua chịu hàng hay không, họ
cần phải biết đợc khả năng thanh toán của doanh nghiệp hiện tại và trong thời gian
sắp tới.
1.1.2.4. Đối với ngời lao động trong doanh nghiệp
Bên cạnh các nhà đầu t, nhà quản lý và các chủ nợ của doanh nghiệp, ngời
đợc hởng lơng trong doanh nghiệp cũng rất quan tâm tới các thông tin tài chính
của doanh nghiệp. Điều này cũng dễ hiểu bởi kết quả hoạt động của doanh nghiệp
có tác động trực tiếp tới tiền lơng, khoản thu nhập chính của ngời lao động. Ngoài
ra trong một số doanh nghiệp, ngời lao động đợc tham gia góp vốn mua một lợng
7
cổ phần nhất định. Nh vậy, họ cũng là những ngời chủ doanh nghiệp nên có quyền
lợi và trách nhiệm gắn với doanh nghiệp.
1.1.2.5. Đối với các cơ quan quản lý Nhà nớc
Dựa vào các báo cáo tài chính doanh nghiệp, các cơ quan quản lý của Nhà
nớc thực hiện phân tích tài chính để đánh giá, kiểm tra, kiểm soát các hoạt động
kinh doanh, hoạt động tài chính tiền tệ của doanh nghiệp có tuân thủ theo đúng
chính sách, chế độ và luật pháp quy định không, tình hình hạch toán chi phí, giá
thành, tình hình thực hiện nghĩa vụ với Nhà nớc và khách hàng
Tóm lại, phân tích hoạt động tài chính doanh nghiệp mà trọng tâm là phân
tích các báo cáo tài chính và các chỉ tiêu tài chính đặc trng thông qua một hệ
thống các phơng pháp, công cụ và kỹ thuật phân tích, giúp ngời sử dụng thông tin
từ các góc độ khác nhau, vừa đánh giá toàn diện, tổng hợp khái quát, lại vừa xem
xét một cách chi tiết hoạt động tài chính doanh nghiệp, tìm ra những điểm mạnh
và điểm yếu về hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, để nhận biết,
phán đoán, dự báo và đa ra quyết định tài chính, quyết định tài trợ và đầu t phù
hợp.
1.1.3. Nhiệm vụ của phân tích tài chính.
Với ý nghĩa quan trọng nh vậy, nhiệm vụ của việc phân tích tình hình tài
chính là việc cung cấp những thông tin chính xác về moị mặt tài chính của doanh
nghiệp, bao gồm:
- Đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp trên các mặt đảm bảo vốn
cho sản xuất kinh doanh, quản lý và phân phối vốn, tình hình nguồn vốn
- Đánh giá hiệu quả sử dụng từng loại vốn trong quá trình kinh doanh và kết
quả tài chính của hoạt động kinh doanh, tình hình thanh toán.
- Tính toán và xác định mức độ có thể lợng hoá của các nhân tố ảnh hởng
đến tình hình tài chính của doanh nghiệp, từ đó đa ra những biện pháp có hiệu
quả để khắc phục những yếu kém và khai thác triệt để những năng lực tiềm tàng
của doanh nghiệp để nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh.
1.2. Thông tin sử dụng trong phân tích tài chính
8
Phân tích tài chính có mục tiêu đa ra những dự báo tài chính giúp cho việc
ra quyết định về mặt tài chính và giúp cho việc dự kiến kết quả tơng lai của doanh
nghiệp nên thông tin sử dụng để phân tích tài chính không chỉ giới hạn trong phạm
vi nghiên cứu các báo cáo tài chính mà phải mở rộng sang các lĩnh vực :
- Các thông tin chung về kinh tế, thuế, tiền tệ.
- Các thông tin về ngành kinh doanh của doanh nghiệp.
1.2.1. Thông tin chung
Đây là các thông tin về tình hình kinh tế có ảnh hởng đến hoạt động sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong năm. Sự suy thoái hoặc tăng trởng của
nền kinh tế có tác động mạnh mẽ đến cơ hội kinh doanh, đến sự biến động của giá
cả các yếu tố đầu vào và thị trờng tiêu thụ sản phẩm đầu ra, từ đó tác động đến
hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Khi các tác động diễn ra theo chiều hớng
có lợi, hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đợc mở rộng, lợi nhuận
tăng và nhờ đó kết quả kinh doanh trong năm là khả quan. Tuy nhiên khi những
biến động của tình hình kinh tế là bất lợi, nó sẽ ảnh hởng xấu đến kết quả kinh
doanh của doanh nghiệp. Chính vì vậy để có đợc sự đánh giá khách quan và chính
xác về tình hình hoạt động của doanh nghiệp, chúng ta phải xem xét cả thông tin
kinh tế bên ngoài có liên quan.
1.2.2. Thông tin theo ngành kinh tế
Nội dung nghiên cứu trong phạm vi ngành kinh tế là việc đặt sự phát triển
của doanh nghiệp trong mối liên hệ với các hoạt động chung của ngành kinh
doanh.
Đặc điểm của ngành kinh doanh liên quan tới:
-Tính chất của các sản phẩm.
- Quy trình kỹ thuật áp dụng.
- Cơ cấu sản xuất : công nghiệp nặng hoặc công nghiệp nhẹ, những cơ cấu
sản xuất này có tác động đến khả năng sinh lời, vòng quay vốn dự trữ
- Nhịp độ phát triển của các chu kỳ kinh tế.
Việc kết hợp các thông tin theo ngành kinh tế cùng với thông tin chung và
các thông tin liên quan khác sẽ đem lại một cái nhìn tổng quát và chính xác nhất
9
về tình hình tài chính của doanh nghiệp. Thông tin theo ngành kinh tế đặc biệt là
hệ thống chỉ tiêu trung bình ngành là cơ sở tham chiếu để ngời phân tích có thể
đánh giá, kết luận chính xác về tình hình tài chính doanh nghiệp.
1.2.3. Thông tin liên quan đến tài chính doanh nghiệp
Phân tích tài chính sử dụng mọi nguồn thông tin có khả năng làm rõ mục
tiêu của dự đoán tài chính. Từ những thông tin nội bộ đến những thông tin bên
ngoài, thông tin số lợng đến thông tin giá trị đều giúp cho nhà phân tích có thể đa
ra nhận xét, kết luận sát thực. Tuy nhiên, thông tin kế toán là nguồn thông tin đặc
biệt cần thiết. Nó đợc phản ánh đầy đủ trong các báo cáo kế toán của doanh
nghiệp. Phân tích tài chính đợc thực hiện trên cơ sở các báo cáo tài chính đợc hình
thành thông qua việc xử lý các báo cáo kế toán.
Các báo cáo tài chính gồm có:
1.2.3.1. Bảng cân đối kế toán
Bảng cân đối kế toán là một báo cáo tài chính mô tả tình trạng tài chính của
một doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định nào đó. Đấy là một báo cáo tài
chính phản ánh tổng quát tình hình tài sản của doanh nghiệp tại một thời điểm
nhất định, dới hình thái tiền tệ theo giá trị tài sản và nguồn hình thành tài sản. Xét
về bản chất, bảng cân đối kế toán là một bảng cân đối tổng hợp giữa tài sản với
vốn chủ sở hữu và công nợ phải trả( nguồn vốn).
Để phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp, tài liệu chủ yếu là bản
cân đối kế toán.Thông qua nó cho phép ta nghiên cứu, đánh giá một cách tổng
quát tình hình tài chính và kết quả sản xuất kinh doanh, trình độ sử dụng vốn và
những triển vọng kinh tế, tài chính của doanh nghiệp.
Bảng cân đối kế toán có hai hình thức trình bày:
- Hình thức cân đối hai bên: Bên trái là phần tài sản, bên phải là phần
nguồn vốn.
- Hình thức cân đối hai phần liên tiếp: phần trên là phần tài sản, phần dới là
phần nguồn vốn.
Mỗi phần đều có số tổng cộng và số tổng cộng của hai phần luôn luôn
bằng nhau.
10
Tài sản = Nguồn vốn
Hay Tài sản = Vốn chủ sở hữu+ Nợ phải trả
Phần tài sản : Bao gồm có tài sản lu động và tài sản cố định.
Về mặt pháp lý, phần tài sản thể hiện số tiềm lực mà doanh nghiệp có
quyền quản lý, sử dụng lâu dài gắn với mục đích thu đợc các khoản lợi ích trong t-
ơng lai.
Về mặt kinh tế, các chỉ tiêu của phần tài sản cho phép đánh giá tổng quát về
quy mô vốn, cơ cấu vốn, quan hệ giữa năng lực sản xuất và trình độ sử dụng vốn
của doanh nghiệp.
Phần nguồn vốn: Bao gồm công nợ phải trả và nguồn vốn chủ sở hữu, phản
ánh các nguồn hình thành tài sản của doanh nghiệp.
Về mặt pháp lý, phần nguồn vốn thể hiện trách nhiệm pháp lý về mặt vật
chất của doanh nghiệp đối với các đối tợng cấp vốn( Nhà nớc, ngân hàng, cổ đông,
các bên liên doanh ). Hay nói cách khác thì các chỉ tiêu bên phần nguồn vốn thể
hiện trách nhiệm của doanh nghiệp về tổng số vốn đã đăng ký kinh doanh, về số
tài sản hình thành và trách nhiệm phải thanh toán các khoản nợ( với ngời lao động,
với nhà cung cấp, với Nhà nớc ).
Về mặt kinh tế, phần nguồn vốn thể hiện các nguồn hình thành tài sản hiện
có, căn cứ vào đó có thể biết tỷ lệ, kết cấu của từng loại nguồn vốn đồng thời phần
nguồn vốn cũng phản ánh đợc thực trạng tình hình tài chính của doanh nghiệp.
Tác dụng của phân tích bảng cân đối kế toán:
+ Cho biết một cách khái quát tình hình tài chính doanh nghiệp thông qua
các chỉ tiêu về tổng tài sản và tổng nguồn vốn.
+ Thấy đợc sự biến động của các loại tài sản trong doanh nghiệp : tài sản lu
động, tài sản cố định.
+ Khả năng thanh toán của doanh nghiệp qua các khoản phải thu và các
khoản phải trả.
+ Cho biết cơ cấu vốn và phân bổ nguồn vốn trong doanh nghiệp.
11
1.2.3.2. Báo cáo kết quả kinh doanh
Một loại thông tin không kém phần quan trọng đợc sử dụng trong phân tích
tài chính là thông tin phản ánh trong báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh. Khác
với bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh cho biết sự dịch
chuyển của vốn trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp; nó cho
phép dự tính khả năng hoạt động của doanh nghiẹp trong tơng lai. Báo cáo kết quả
sản xuất kinh doanh đồng thời cũng giúp cho nhà phân tích so sánh doanh thu và
số tiền thực nhập quỹ khi bán hàng hoá, dịch vụ với tổng chi phí phát sinh và số
tiền thực xuất quỹ để vận hành doanh nghiệp. Trên cơ sở đó, có thể xác định đợc
kết quả sản xuất kinh doanh : lãi hay lỗ trong năm. Nh vậy, báo cáo kết quả kinh
doanh phản ánh kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, phản ánh tình hình tài
chính của một doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định. Nó cung cấp những
thông tin tổng hợp về tình hình và kết quả sử dụng các tiềm năng về vốn, lao động,
kỹ thuật và trình độ quản lý sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Biểu mẫu Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh có 3 phần:
+ Phần I: Lãi, lỗ.
+ Phần II: Tình hình thực hiện nghĩa vụ với Nhà nớc.
+ Phần III: Thuế giá trị gia tăng đợc khấu trừ, đợc hoàn lại, đợc miễn
giảm.
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đợc lập trên cơ sở
các tài liệu:
+ Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh kỳ trớc.
+ Sổ kế toán trong kỳ của các tài khoản từ loại 5 đến loại 9.
+ Sổ kế toán các tài khoản 133 Thuế GTGT đợc khấu trừ và tài khoản
333 Thuế GTGT phải nộp.
Tác dụng của việc phân tích báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh:
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh phản ánh các chỉ tiêu về doanh thu,
lợi nhuận và tình hình thực hiện nghĩa vụ với ngân sách nhà nớc của doanh nghiệp.
Do đó, phân tích báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh cũng cho ta đánh giá khái
12
quát tình hình tài chính doanh nghiệp, biết đợc trong kỳ doanh nghiệp kinh doanh
có lãi hay bị lỗ, tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu và vốn là bao nhiêu. Từ đó tính đ-
ợc tốc độ tăng trởng của kỳ này so với kỳ trớc và dự đoán tốc độ tăng trong tơng
lai.
Ngoài ra, qua việc phân tích tình hình thực hiện nghĩa vụ đối với nhà nớc, ta
biết đợc doanh nghiệp có nộp thuế đủ và đúng thời hạn không. Nếu số thuế còn
phải nộp lớn chứng tỏ tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là không
khả quan.
Nh vậy, việc phân tích báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh sẽ giúp ta có
những nhận định sâu sắc và đầy đủ hơn về tình hình tài chính của doanh nghiệp.
1.2.3.3. Báo cáo lu chuyển tiền tệ
Báo cáo lu chuyển tiền tệ là một trong bốn báo cáo tài chính bắt buộc mà
bất kỳ doanh nghiệp nào cũng phải lập để cung cấp cho ngời sử dụng thông tin của
doanh nghiệp. Nếu bảng cân đối kế toán cho biết những nguồn lực của cải (tài sản)
và nguồn gốc của những tài sản đó; và báo cáo kết quả kinh doanh cho biết thu
nhập và chi phí phát sinh để tính đợc kết quả lãi, lỗ trong một kỳ kinh doanh, thì
báo cáo lu chuyển tiền tệ đợc lập để trả lời các vấn đề liên quan đến luồng tiền vào
ra trong doanh nghiệp, tình hình thu chi ngắn hạn của doanh nghiệp. Những luồng
vào ra của tiền và các khoản coi nh tiền đợc tổng hợp thành ba nhóm : lu chuyển
tiền tệ từ hoạt động sản xuất kinh doanh, lu chuyển tiền tệ từ hoạt động tài chính
và lu chuyển tiền tệ từ hoạt động bất thờng.
1.2.3.4. Thuyết minh báo cáo tài chính
Thuyết minh báo cáo tài chính đợc lập nhằm cung cấp các thông tin về tình
hình sản xuất kinh doanh cha có trong hệ thống báo cáo tài chính, đồng thời giải
thích thêm một số chỉ tiêu mà trong các báo cáo tài chính cha đợc trình bày nhằm
giúp cho ngời đọc và phân tích các chỉ tiêu trong báo cáo tài chính có một cái nhìn
cụ thể và chi tiết hơn về sự thay đổi những khoản mục trong bảng cân đối kế toán
và kết quả hoạt động kinh doanh.
Thuyết minh báo cáo tài chính đợc lập căn cứ vào những số liệu và
những tài liệu sau:
13
+ Các sổ kế toán kỳ báo cáo.
+ Bảng cân đối kế toán kỳ báo cáo.
+ Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh kỳ báo cáo.
+ Thuyết minh báo cáo tài chính kỳ trớc, năm trớc.
Thuyết minh báo cáo tài chính trình bày 7 chỉ tiêu nhằm cụ thể hoá các
chỉ tiêu mà bảng cân đối kế toán không thể nêu lên hết đợc bao gồm:
+ Chỉ tiêu 1: Đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp.
+ Chỉ tiêu 2: Chính sách kế toán áp dụng tại doanh nghiệp.
Khi lập hai chỉ tiêu này, phải quán triệt các nguyên tắc chung sau:
- Phần trình bày bằng lời văn phải ngắn gọn, rõ ràng, mạch lạc, dễ hiểu.
- Phần trình bày bằng số liệu phải thống nhất với số liệu trên cỏc báo cáo
khác
- Các chỉ tiêu thuộc phần chế độ kế toán áp dụng tại doanh nghiệp phải
thống nhất trong cả niên độ kế toán i với các báo cáo quý. Nếu có sự thay đổi
phải trình bày rõ ràng những lý do thay đổi.
- Trong các biểu số liệu, cột số kế hoạch thể hiện số liệu kế hoạch của
kỳ báo cáo, cột số thực tế kỳ trớc thể hiện số liệu của kỳ ngay trớc kỳ báo cáo.
- Các chỉ tiêu đánh giá khái quát tình hình hoạt động của doanh nghiệp chỉ
sử dụng trong thuyết minh báo cáo tài chính năm.
+ Chỉ tiêu 3: Chi tiết một số chỉ tiêu trong báo cáo tài chính bao gồm:
3.1. Chi phí sản xuất kinh doanh theo yếu tố: phản ánh toàn bộ chi phí
sản xuất kinh doanh phát sinh trong kỳ của doanh nghiệp, đợc phân chia theo các
yếu tố chi phí nh sau:
- Chi phí nguyên vật liệu.
- Chi phí nhân công.
- Chi phí khấu hao tài sản cố định.
- Chi phí dịch vụ mua ngoài.
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét