Thứ Sáu, 21 tháng 2, 2014

238650

Luật Ngân hàng Việt Nam Nguyễn Thị Thanh Mai – KT33F-055
MỤC LỤC
B.Nội dung 2
I.Pháp luật chung về bảo hiểm tiền gửi 2
1.Khái niệm Bảo hiểm tiền gửi 3
2. Đặc điểm của bảo hiểm tiền gửi 3
II.Đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật bảo hiểm tiền gửi tại các ngân hàng
thương mại 4
1.Các ngân hàng thương mại tham gia Bảo hiểm tiền gửi 4
2.Xác định phạm vi tiền gửi được bảo hiểm 6
3.Thực tiễn và đánh giá bảo hiểm đối với tiền gửi ngoại tệ 6
4.Quy định về người được BHTG 9
5.Quy định mức phí BHTG đồng nhất không còn phù hợp 11
6.Quy định về hạn mức BHTG chưa được điều chỉnh kip thời và chưa tạo ra sự linh động để đối phó với
các trường hợp khủng hoảng tài chính 13
7.Quy định về tiếp nhận, xử lý các tổ chức tham gia BHTG phá sản,giải thể 16
III.Hướng hoàn thiện pháp luật về bảo hiểm tiền gửi 17
1.Không nên loại trừ khoản tiền gửi để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ của người gửi tiền ra khỏi phạm vi
tiền gửi được bảo hiểm 17
2.Cần mở rộng đối tượng tham gia BTHG 17
3.Cần tiếp tục quy định không bảo hiểm đối với tiền gửi bằng ngoại tệ để phục vụ cho chính sách quản lý
ngoại hối của quốc gia 18
4.Cần quy định chỉ bảo hiểm cho người gửi tiền là cá nhân 18
5.Cần có quy định phí BHTG dựa trên mức độ rủi ro của tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi 19
6.Cần điều chỉnh hạn mức BHTG phù hợp với điều kiện hiện nay và có quy định dự liệu cho trường hợp
khủng hoảng tài chính 19
C.Kết luận 20
A.Lời mở đầu.
Bài tập học kì Trang 1/20
Luật Ngân hàng Việt Nam Nguyễn Thị Thanh Mai – KT33F-055
Hệ thống bảo hiểm tiền gửi trên thế giới đã có lịch sử hoạt động hơn 70 năm.
Cuộc đại suy thoái giai đoạn 1929-1933 đặt ra sự cần thiết phải xây dựng được một tổ
chức tài chính có vai trò chuyên biệt trong việc bảo vệ, duy trì lòng tin của người gửi
tiền và phối hợp với cơ quan quản lý Nhà nước góp phần ổn định hệ thống tài chính.
Trong bối cảnh đó, vấn đế bảo hiểm tiền gửi (BHTG) đã được đặt ra, ghi nhận bằng sự
ra đời của tổ chức BHTG đầu tiên trên thế giới vào năm 1932, đó là Công ty BHTG
Liên Bang Hoa Kỳ (FDIC) và đến hết năm 2009, có 104 quốc gia đã thành lập hệ
thống BHTG công khai và 16 quốc gia khác đang nghiên cứu thành lập hệ thống bảo
hiểm tiền gửi
1
. Ngày nay, những vấn đề nhức nhối và hậu quả to lớn đối với nền kinh
tế vẫn tiếp tục xảy ra khi người gửi tiền đổ xô đến rút tiền tại các tổ chức nhận tiền gửi
thì tổ chức đó có thể rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán và đổ vỡ. Việc một
ngân hàng đổ vỡ sẽ kéo theo một phản ứng dây chuyền vì tâm lý lo sợ chung của
người gửi tiền và vì mối quan hệ tín dụng mật thiết của các ngân hàng. Sự đổ vỡ của
các ngân hàng thường để lại hậu quả xấu đối với nền kinh tế. Trong thập kỷ trước,
Chính phủ Acgentina phải từ nhiệm vì người rút tiền; hay như cuối năm 2007 đầu năm
2008, chính phủ Anh đã phải quốc hữu hóa Ngân hàng Northern Rock, chịu thiệt hại
hơn 50 tỷ Euro, Chính phủ Mỹ cũng đã phải cho phá sản một trong những ngân hàng
lớn và lâu đời của mình là Bear Stearns. Chính vì vậy, vấn đề ngăn ngừa rủi ro liên
quan đến tiền gửi vẫn luôn là vấn đề đáng được quan tâm hàng đầu hiện nay.
Bảo hiểm tiền gửi là một biện pháp phòng ngừa rủi ro nhằm bảo vệ các khoản
tiền gửi của khách hàng trong trường hợp ngân hàng không có khả năng chi trả cho
khách hàng. Bên cạnh đó, BHTG có vai trò quan trọng trong việc xây dựng, củng cố
niềm tiên của công chúng, góp phần vào sự phát triển an toàn lành mạng đối với hệ
thống tài chính ngân hàng, đảm bảo an sinh xã hội.
B.Nội dung.
I. Pháp luật chung về bảo hiểm tiền gửi.
1
Kinh nghiệm quốc tế về tổ chức bảo hiểm tiền gửi hiệu quả - UBTVQH, Viện nghiên cứu lập pháp, trung tâm thông
tin khoa học 2009 tr2
Bài tập học kì Trang 2/20
Luật Ngân hàng Việt Nam Nguyễn Thị Thanh Mai – KT33F-055
1. Khái niệm Bảo hiểm tiền gửi.
Hiện nay các quy định về bảo hiểm tiền gửi (BHTG) chủ yếu được quy định tạo
Nghị định số 89/1999/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 1/9/1999 về bảo hiểm
tiền gửi, Nghị định số 109/2005/NĐ-CP ngày 24/08/2005 sửa đổi, bổ sung một số điều
Nghị định số 89/1999/NĐ-CP, Thông tư của Ngân hàng nhà nước Việt Nam số
03/2006/TT-NHNN ngày 25/04/2006 cùng một số văn bản khác có quy định về quản
lý tài chính đối với bảo hiểm tiền gửi. Theo các quy định pháp luật hiện hành thì có
thể hiểu "Bảo hiểm tiền gửi là một loại hình bảo hiểm phi thương mại, theo đó tổ chức
tín dụng và các tổ chức khác có hoạt động ngân hàng có nhận tiền gửi bằng đồng Việt
Nam của khách hàng là cá nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác, doanh nghiệp tư nhân và công
ty hợp danh thì bắt buộc phải tham gia đóng phí bảo hiểm tiền gửi cho tổ chức bảo
hiểm tiền gửi Việt Nam theo quy định. Khi xảy ra sự kiện bảo hiểm thì tổ chức bảo hiểm
tiền gửi Việt Nam sẽ có trách nhiệm thay tổ chức nhận tiền gửi đó trả các khoản tiền
gửi được bảo hiểm của các khách hàng gửi tiền ở tổ chức tham gia bảo hiểm đó"
2
.
2. Đặc điểm của bảo hiểm tiền gửi.
BHTG là loại hình bảo hiểm phi thương mại. BHTG không thuộc phạm vi điều
chỉnh của Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2000 mà được điều chỉnh bằng quy chế
pháp lý riêng. BHTG cung cấp dịch vụ bảo hiểm cho người gửi tiền nhưng dịch vụ
này mang tính xã hội cao Vì nội dung của hoạt động ngân hàng là thực hiện kinh
doanh tiền tệ, một hoạt động luôn tiềm ẩn rủi ro và đổ vỡ mang tính dây chuyền. Do
vậy khi ra đời, mục tiêu của hoạt động BHTG không nhằm mục đích tìm kiếm lợi
nhuận mà nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền, góp phần đảm
bảo tính ổn định của hệ thống tài chính quốc gia. Người gửi tiền có tiền gửi vào tổ
chức nhận tiền gửi thuộc đối tượng được bảo hiểm sẽ được hưởng lợi trực tiếp từ
chính sách BHTG thông qua việc họ được tổ chức BHTG chi trả tiền bảo hiểm, khi tổ
chức nhận tiền gửi của họ không thể chi trả, mất khả năng thanh toán.
BHTG ở nước ta xét về tính chất là loại hình bảo hiểm bắt buộc. Pháp luật về
BHTG có quy định về điều kiện bảo hiểm, mức phí bảo hiểm mà các tổ chức tín dụng
tham gia quan hệ bảo hiểm có nghĩa vụ thực hiện. Việc áp dụng chế độ bảo hiểm bắt
2
Giáo trình Luật Ngân hàng Việt Nam. Trường Đại học Luật Hà Nội 2010 – tr 114
Bài tập học kì Trang 3/20
Luật Ngân hàng Việt Nam Nguyễn Thị Thanh Mai – KT33F-055
buộc đới với tiền gửi không chỉ nhằm xử lý rủi ro đối với tổ chức nhận tiền gửi, bảo
vệ lợi ích của người gửi tiền mà còn bảo vệ sự an toàn cho cả hệ thống các tổ chức tín
dụng và sự ổn định của tiền tệ quốc gia. Góp phần quan trọng trong việc nâng cao uy
tín của các tổ chức tín dụng với công chúng nhằm khai thác tối đa các nguồn vốn nhàn
rỗi để tập trung cho đầu tư phát triển kinh tế.
BHTG ở Việt Nam là loại bảo hiểm trách nhiệm pháp lý dân sự. Nếu xét về đối
tượng bảo hiểm thì BHTG thuộc loại bảo hiểm trách nhiệm dân sự phát sinh trong hợp
đồng. Đối tượng của BHTG chính là nghĩa vụ hoàn trả tiền gửi cả gốc lẫn lãi của tổ
chức nhận tiền gửi đối với người gửi tiền. Pháp luật BHTG ở nước ta xác định rõ
người tham gia bảo hiểm có nghĩa vụ đóng phí bảo hiểm là tổ chức được phép nhận
tiền gửi bằng đồng Việt Nam còn người được hưởng quyền lợi bảo hiểm là người gửi
tiền tại tổ chức tham gia bảo hiểm.
Ngày 01/9/1999 Thủ tướng Chính phủ ký quyết định số 218/1999/QĐ-TTG về
việc thành lập tổ chức bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam, đến ngày 07/01/2000 Bảo hiểm
tiền gửi Việt Nam chính thức đi vào hoạt động. Tổ chức bảo hiểm tiền gửi Việt Nam
có tên giao dịch quốc tế là Deposit Insurance of Vietnam ( viết tắt là DIV ) là một tổ
chức tài chính Nhà nước.
II. Đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật bảo hiểm tiền gửi tại
các ngân hàng thương mại.
1. Các ngân hàng thương mại tham gia Bảo hiểm tiền gửi.
Phạm vi đối tượng tham gia BHTG tương đối rộng, không chỉ có TCTD mà còn
các tổ chức phi ngân hàng, các tổ chức trong nước hay các tổ chức có vốn đầu tư nước
ngoài cũng như các tổ chức không phải là tổ chức tín dụng nhưng có nhận tiền gửi đều
trở thành đối tượng tham gia BHTG. Phạm vi này đã được quy định khá rõ tại Điều 2 -
Nghị định số 89/1999/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 01/9/1999 về bảo hiểm
tiền gửi và Điều 1 - Nghị định số 109/2005/NĐ-CP ngày 24/08/2005 sửa đổi, bổ sung
một số điều Nghị định số 89/1999/NĐ-CP quy định: "Các tổ chức tín dụng và tổ chức
không phải là tổ chức tín dụng được phép thực hiện một số hoạt động ngân hàng theo
quy định của Luật tổ chức tín dụng có nhận tiền gửi của tổ chức, cá nhân phải tham gia
bảo hiểm tiền gửi bắt buộc". Qua hơn mười năm hoạt động, cho đến nay, BHTG Việt
Bài tập học kì Trang 4/20
Luật Ngân hàng Việt Nam Nguyễn Thị Thanh Mai – KT33F-055
Nam đã thực hiện bảo vệ quyền lợi cho hàng chục triệu người gửi tiền tại hơn 1.000 tổ
chức tín dụng và số lượng tổ chức tham gia BHTG đang ngày một tăng. Pháp luật Việt
Nam quy định các tổ chức nhận tiền gửi bắt buộc phải tham gia BHTG, chính vì lẽ đó
hầu hết các ngân hàng thương mại đều tham gia vào bảo hiểm tiền gửi, trong đó có cả
các chi nhánh của ngân hàng nước ngoài cũng tham gia BHTGVN. Cùng với các cơ
quan giám sát tài chính khác trong hệ thống các cơ quan đảm bảo an toàn tài chính
quốc gia, BHTG đóng vai trò quan trọng thực hiện việc bảo đảm an toàn hoạt động
ngân hàng. Theo báo cáo thường niên của BHTG Việt Nam, tính đến cuối năm 2008,
BHTG Việt Nam đã thiết lập quan hệ với 1,077 tổ chức nhận tiền gửi, bao gồm 5 ngân
hàng thương mại quốc doanh, 34 ngân hàng thương mại cổ phần, 32 chi nhánh ngân
hàng nước ngoài; 5 ngân hàng liên doanh, 10 TCTD phi ngân hàng, QTDND Trung
ương và 990 QTDND cơ sở. Các tổ chức này đều được cấp giấy Chứng nhận BHTG.
Những số liệu này không chỉ cho thấy ý thức tuân thủ các quy định pháp luật
mà quan trọng hơn là sự tin cậy và mong muốn được hưởng lợi ích từ BHTGVN của
các ngân hàng thương mại. Thông qua việc tham gia BHTG, BHTG Việt Nam kịp thời
đưa ra những kiến nghị và cảnh báo giúp các ngân hàng thương mại tham gia BHTG
khắc phục các sai phạm và có biện pháp để phòng ngừa rủi ro trong hoạt động thông
qua thực hiện hoạt động giám sát sát từ xa và kiểm tra tại chỗ. Trong quý 4/2008, có
81/82 ngân hàng tham gia bảo hiểm được giám sát (ngoại trừ Ngân hàng Sumitomo
chi nhánh Hà Nội). Có thể thấy, trong những năm qua BHTG Việt Nam từng bước cải
tiến và áp dụng các chuẩn mực quốc tế trong việc kiểm tra, giám sát đối với tổ chức
tham gia BHTG theo hướng giám sát mức độ rủi ro của các ngân hàng thương mại.
Bài tập học kì Trang 5/20
Luật Ngân hàng Việt Nam Nguyễn Thị Thanh Mai – KT33F-055
2. Xác định phạm vi tiền gửi được bảo hiểm.
Xác định phạm vi tiền gửi được bảo hiểm là một trong những nội dung quan
trọng của pháp luật BHTG, là cơ sở để tính phí bảo hiểm đồng thời cũng là cơ sở để
BHTG Việt Nam tiến hành chi trả bảo hiểm cho người gửi tiền.
Việc pháp luật Việt Nam xác định phạm vi tiền gửi thông qua việc loại trừ một số
khoản tiền gửi không được bảo hiểm sẽ thuận lợi cho việc triển khai hoạt động BHTG
trong giai đoạn hoạt động ngân hàng đang phát triển có thể xuất hiện nhiều hình thức
huy động vốn mới chưa thể định danh tại thời điểm quy định về tiền gửi được bảo
hiểm.
Theo quy định tại Mục I - Thông tư 03/2006/TT-NHNN thì các khoản tiền
không được bảo hiểm bao gồm:
a) Tiền gửi của người gửi tiền là cổ đông sở hữu trên 10% vốn điều lệ hoặc nắm giữ
trên 10% vốn cổ phần có quyền bỏ phiếu của tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi đó;
b) Tiền gửi của người gửi tiền là thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Tổng
giám đốc (Giám đốc), Phó Tổng giám đốc (Phó Giám đốc) của tổ chức tham gia bảo
hiểm tiền gửi đó;
c) Tiền gửi dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của người gửi tiền;
d) Tiền mua giấy tờ có giá vô danh do tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi phát hành.
Ta có thể thấy, việc loại trừ khỏi phạm vi bảo hiểm khoản tiền gửi dùng để bảo
đảm thực hiện nghĩa vụ của người gửi tiền là chưa hợp lý. Các khoản tiền như các
khoản tiền gửi ký quỹ, tài khoản đảm bảo thanh toán sec…, về nguyên tắc vẫn thuộc
quyền sở hữu của người gửi tiền. Khi tổ chức tham gia BHTG mất khả năng thanh
toán thì người chịu thiệt hại là người gửi tiền. Trong trường hợp này, trước bên có
quyền người gửi tiền không hề được miễn việc thực hiện nghĩa vụ.
3. Thực tiễn và đánh giá bảo hiểm đối với tiền gửi ngoại tệ.
Pháp luật Việt Nam có quy định “Tiền gửi được bảo hiểm là tiền gửi bằng đồng
Việt Nam” ( Nghị đinh 89. Nghị định 109, Thông tư 03 ). Như vậy, tiền gửi được bảo
hiểm là đồng Việt Nam, bao gồm các loại tiền gửi có kỳ hạn và không kỳ hạn của cá
nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác, doanh nghiệp tư nhân và công ty hợp danh gửi tại tổ
chức tham gia BHTG, theo pháp luật hiện nay, hoạt động gửi tiền bằng đồng ngoại tế
Bài tập học kì Trang 6/20
Luật Ngân hàng Việt Nam Nguyễn Thị Thanh Mai – KT33F-055
vẫn chưa thuộc đối tượng được bảo hiểm. Đều này sẽ là phù hợp nếu câc giao dịch tại
các tổ chức tín dụng đều được thực hiện bằng đồng Việt Nam và số ngoại tệ được giao
dịch là không đáng kể. Tuy nhiên, chúng ta có thể thấy, Việt Nam là một quốc gia có
tỷ lệ đô la hóa cao, việc người dân thực hiện các giao dịch không chỉ tại các ngân hàng
mà đơn giản là trong cuộc sống thường nhật cũng không phải là điều xa lạ. Theo số
liệu Thống kê
3
.
Tỷ lệ tiền gửi bằng ngoại tệ/ tổng số vốn huy động của hệ thống ngân hàng (%)
Như vậy, để bảo vệ quyền lợi cho người gửi tiền có nên chăng quy định tiền gửi
bằng loại tiền nào cũng cần được bảo hiểm ? BHTG đối với cả ngoại tệ sẽ tạo cơ hội
cho các ngân hàng thu hút được nguồn ngoại tệ lớn trong công chúng, khuyến khích
lượng kiều hối từ nước ngoài gửi về Việt Nam cho đầu tư và phát triển đất nước. Nếu
chỉ bảo hiểm đồng Việt Nam sẽ không khuyến khích được người có ngoại tệ gửi tiền
vào ngân hàng. Liệu chúng ta có thể hiểu việc chỉ bảo hiểm đối với đồng Việt Nam là
một sự phân biệt đối xử của pháp luật đối với ngoại tệ hay không. Chính sách của Nhà
nước là tập trung mọi nguồn lực cho phát triển kinh tế, cho phép các ngân hàng nhận
tiền gửi bằng ngoại tệ, vì vậy, việc xem xét việc BHTG cho đồng ngoại tệ là điều nên
làm.
Tuy nhiên việc ủng hộ quan điểm không bảo hiểm đối với tiền gửi ngoại tệ xuất
phát từ những lý do sau :
Thứ nhất, chính sách quản lý ngoại hối của bất kì quốc gia nào cũng đều hướng
đến mục tiêu trên lãnh thổ quốc gia chỉ sử dụng đồng nội tệ của quốc gia đó. Chính
3
Số liệu của tổng cục thống kê năm 2005
Bài tập học kì Trang 7/20
Luật Ngân hàng Việt Nam Nguyễn Thị Thanh Mai – KT33F-055
sách ngoại hối của Việt Nam cũng không nằm ngoài mực tiêu đó, nhằm chống tình
trạng đô la hóa. Tình trạng đô la hóa ở Việt Nam đang diễn ra khá nhanh ở Việt Nam.
Tình trạng đô la hóa làm mất chủ quyền về tiền tệ, làm giảm vị thế độc tôn của đồng
tiền quốc gia, khiến cho thị trường ngoại hối phức tạp và khó quản lý, làm cho các
ngân hàng khó mua được ngoại tệ để đáp ứng nhu cầu thanh toán và ngân hàng Trung
ương cũng khó tăng được dự trữ ngoại hối.
Pháp lệnh ngoại hối số 28/2005/PL-UBTVQH11 ngày 13/12/2005, tại Điều 3 có quy
định : “Trên lãnh thổ Việt Nam, mọi giao dịch, thanh toán, niêm yết, quảng cáo của
người cư trí, người không cư trú không được thực hiện bằng ngoại hối…”
Thủ tướng Chính phủ cũng đã ban hành Quyết định số 98/2007/QĐ-TTg trong đó
khẳng định “Áp dụng các giải pháp kinh tế để chuyển dần quan hệ huy động – cho vay
trong nước bằng ngoại tệ của các TCTD sang quan hệ mua – bán ngoại tệ”. Như vậy,
chính sách quản lý ngoại hối của Việt Nam ngoài việc cấm sử dụng ngoại tệ trong các
giao dịch trên lãnh thổ Việt Nam, còn không khuyến khích người dân tích trữ ngoại tệ
(kể cả việc gửi vào ngân hàng), mà khuyến khích người dân bán ngoại tệ cho ngân
hàng. Đây được coi là lý do quan trọng nhất cho thất không nên quy định bảo hiểm
cho tiền gửi bằng ngoại tệ. Việc làm này nhằm hướng tới việc trên lãnh thổ Việt Nam
chỉ sử dụng đồng Việt Nam, không khuyên khích người dân sở hữu ngoại tệ, góp phần
nâng cao chủ quyền quốc gia về tiền tệ, hạn chế tình trạng đô la hóa.
Thứ hai, nếu quy định bảo hiểm cho tiền gửi ngoại tệ sẽ nảy sinh một loạt vấn
đề phức tạp như xác định mức phí bảo hiểm phải nộp bằng ngoại tệ hay nội tệ, quy
định hạn mực BHTG bằng ngoại tệ hay nội tệ và chi trả BHTG bằng ngoại tệ hay nội
tệ. Nếu thực hiện chi trả bằng ngoại tệ có thể dẫn đến khó khăn cho tổ chức BHTG
trong việc bảo đảm nguồn vốn ngoại tệ cho chi trả. Nếu quy định nộp phí, chỉ trả bằng
đồng nội tệ thì việc xác định tỷ giá sẽ như thế nào và tỷ giá tại thời điểm nào ?
Thứ ba, theo thông lệ quốc tế ở hầu hết các nước như Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc,
Thái Lan, Trung Quốc, Đài Loan, Indonesia… đều chỉ bảo hiểm cho đồng nội tệ. Ví
dụ như ở Canada không chi trả bảo hiểm cho “các khoản tiền gửi không được thanh
toán trong Canada hoặc không bằng đồng tiền Canada”.
Bài tập học kì Trang 8/20
Luật Ngân hàng Việt Nam Nguyễn Thị Thanh Mai – KT33F-055
4. Quy định về người được BHTG.
Nghị định 89/1999 đã quy định người được BHTG là cá nhân gửi tiền tại tổ
chức tham gia BHTG. Tuy nhiên, khi ban hành Nghị định 109 sửa đổi bổ sung Nghị
định 89 đã mở rộng người được BHTG : ngoài các cá nhân còn có người gửi tiền là hộ
gia đình, tổ hợp tác, doanh nghiệp tư nhân và công ty hợp danh. Mục đích của nhà làm
luật trong việc sửa đổi này thực chất là bổ sung người được BHTG đối với các chủ thể
không phải là cá nhân những cũng không phải là pháp nhân ( tại thời điểm ra Nghị
định 109 khi luật Doanh nghiệp năm 2005 chưa được ban hành, khi đó công ty hợp
danh không có tư cách pháp nhân ), các chủ thể này theo các nhà làm luật có tính chất
tương tự như cá nhân.
Tuy nhiên, quy định này đã nảy sinh một số bất cấp và không thống nhất với
các quy định khác của pháp luật ngân hàng.
Thứ nhất, Nghị định 109 mở rộng chủ thể được BHTG đối với một số loại hình
doanh nghiệp là doanh nghiệp tư nhân và công ty hợp danh. Mục đích của nhà làm
luật là bổ sung người được BHTG đối với các chủ thể không có tư cách pháp nhân,
tuy nhiên theo quy định tại Khoản 2 – Điều 130 – Luật Doanh nghiệp 2005 thì công ty
hợp danh là loại hình doanh nghiệp có tư cách pháp nhân. Theo nguyên tắc công bằng
trong kinh doanh, quy định trên lại là một sự phân biệt đối xử với các loại hình doanh
nghiệp khác như công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, công ty trách nhiệm
hữu hạn hai thành viên trở lên, công ty cổ phần.
Thứ hai, việc mở rộng các chủ thể BHTG tại Nghị định 109 gây nên tình trạng
không thống nhất với các văn bản pháp luật khác liên quan đến nhận tiền gửi như
Quyết định số 1284/2002/QĐ-NHNN2 ngày 21/11/2002 của Thống đốc Ngân hàng
nhà nước ban hành Quy chế mở và sử dụng tài khoản tiền gửi tại NHNN và TCTD,
Quyết định số 1160/2004/QĐ-NHNN ngày 13/9/2004 của Thống đốc ngân hàng Nhà
nước ban hành Quy chế về tiền gửi tiết kiệm. Theo Quy chế mở và sử dụng tài khoản,
TCTD mở các loại tài khỏa tiền gửi sau
- Tài khoản tiền gửi của cá nhân
- Tài khoản tiền gửi của đồng chủ tài khoản ( là tài khoản có ít nhất hai người trở
lên cùng đứng tên mở tài khoản, đồng chủ tài khoản có thể là cá nhân hoặc tổ
chức )
Bài tập học kì Trang 9/20
Luật Ngân hàng Việt Nam Nguyễn Thị Thanh Mai – KT33F-055
- Tài khoản tiền gửi của tổ chức.
Như vậy, chủ thể mở tài khoản tiền gửi, gửi tiền tiết kiệm hoặc là đứng tên cá
nhân hoặc đứng tên đồng chủ sở hữu hoặc đứng tên tổ chức. Không có chủ thể mở tài
khoản tiền gửi hoặc gửi tiền tiết kiệm với tư cách hộ gia đình, điều đó cho thấy sự
không thực tế trong việc đặt ra vấn đề BHTG với hộ gia đình.
Như vậy, có thể thấy việc mở rộng chủ thể được BHTG tại Nghị định 109 so với Nghị
định 89 còn nhiều điểm bất hợp lý và không phù hợp với thực tế. Về vấn đề này, thiết
nghĩ nên giữ nguyên quy định tại Nghị đinh 89, theo đó chủ thể được bảo hiểm tiền
gửi là Cá nhân.
Vấn đề không nên quy định bảo hiểm đối với người gửi tiền là các tổ chức với
những lý do sau :
Thứ nhất, BHTG cần hướng tới những người gửi tiền nhỏ, những người gửi tiền
có thu nhập thấp, ít có khả năng tiếp cận thông tin, không có điều kiện đánh giá và lựa
chọn tổ chức nhận tiền gửi an toàn, lành mạnh. Những người gửi tiền này do sự hạn
chế về hiểu biết và thông tin nên thường có những phản ứng thái quá, rút tiền hàng
loạt tại ngân hàng khi có các tin đồn thất thiệt, có thể làm ngân hàng đổ vỡ. Thời gian
trước (cuối năm 2003) xảy ra sự kiện tin đồn về Tổng giám đốc ACB bỏ trốn gây nên
một tâm lý hoang mang, hốt hoảng ở nhiều khách hàng có quan hệ giao dịch với ACB.
Dẫn đến hậu quả rất đông khách hàng ồ ạt kéo đến rút tiền gửi. Tuy nhiên đó chỉ là tin
đồn. Lượng người rút tiền chỉ giảm xuống khi “nạn nhân” chính của tin đồn cùng
thống đốc Ngân hàng trung ương xuất hiện với lời hứa bảo toàn tài sản cho khách
hàng.
Mặt khác, đối với người gửi tiền nhỏ, người gửi tiền có thu nhập thấp thông
thường khoản tiền gửi có vai trò rất quan trọng trong đời sống của họ. Trong khi đó,
các tổ chức là những người có khả năng thu thập thông tin, đánh giá tình hình hoạt
động của tổ chức nhận tiền gửi, từ đó có thể lực chọn tổ chức nhận tiền gửi an toàn,
lành mạnh để tránh rủi ro cho mình.
Thứ hai, việc không BHTG cho các tổ chức sẽ kích thích các tổ chức tìm hiểu,
lực chọn tổ chức nhận tiền gửi an toàn, và ngược lại tạo động lực để các tổ chức nhận
tiền gửi hoạt động lành mạnh để được sự tín nhiệm và lựa chọn của các tổ chức góp
phần giảm bớt rủi ro đạo đức trong hoạt động ngân hàng.
Bài tập học kì Trang 10/20
Luật Ngân hàng Việt Nam Nguyễn Thị Thanh Mai – KT33F-055
Thứ ba, thông thường nguồn gửi tiền của các cá nhân là các nguồn gửi tiền tiết
kiệm, có tính thời hạn, có sự ổn định nên là nguồn vốn chính để các ngân hàng thực
hiện việc cho vay phục vụ sự phát triển của nền kinh tế. Chính vì thế, nguồn tiền gửi
tiết kiệm từ các cá nhân có vai trò rất quan trọng đối với hệ thống ngân hàng, những
người gửi tiền cá nhân này cần được bảo vệ, khuyến khích họ gửi tiền vào ngân hàng.
Thứ tư, vì hạn mức BHTG bồi thường so với số tiền các tổ chức gửi quá nhỏ,
việc quy định không BHTG đối với họ thường cũng không ảnh hưởng đến việc họ gửi
tiền vào ngân hàng hay không. Mặt khác, việc gửi tiền tại ngân hàng là lựa chọn bắt
buộc của các tổ chức ,vì nhu cầu giao dịch, thanh toán với đối tác và sự an toàn tài sản
hoặc trong một số trường hợp theo quy định của pháp luật ( như để được hoàn trả thuế
giá trị gia tăng, trả lương cho người lao động…).
Thứ năm, theo quy định, phí BHTG được tính trên toàn bộ số dư tiền gửi của các loại
tiền gửi và được hạch toán vào chi phí hoạt động của ngân hàng. Nếu tiền gửi của tổ
chức được bảo hiểm thì phí BHTG mà các tổ chức tham gia BHTG phải nộp sẽ lớn
hơn rất nhiều nhiều vì tiền gửi của tổ chức thường có số lượng lớn. Từ đó làm tăng chi
phí hoạt động cho các tổ chức tham gia BHTG, dẫn đến tăng lãi suất cho vay, làm ảnh
hưởng xấu đến hoạt động của các doanh nghiệp. Trong khi đó, các tổ chức nếu được
nhận chi trả BHTG cũng không đáng kể vì hạn mức BHTG quá nhỏ so với số tiền mà
họ gửi.
Như vậy, nhìn tổng thể, việc quy định không BHTG cho tổ chức mang lại nhiều lợi
ích cho nền kinh tế hơn việc quy định BHTG cho loại chủ thể này.
5. Quy định mức phí BHTG đồng nhất không còn phù hợp.
Phí BHTG là khoản tiền mà tổ chức tham gia BHTG có nghĩa vụ nộp cho tổ
chức BHTG để được bảo hiểm cho tiền gửi của khách hàng.
Theo Nghị định 89, Nghị đinh 109 và Thông tư 03, tổ chức tham gia BHTG phải nộp
cho tổ chức BHTG một khoản phí bằng 0,15%/năm tính trên toàn bộ số dư tiền gửi
bình quân của các loại tiền gửi được bảo hiểm tại tổ chức tham gia BHTG. Như vậy,
khi thành lập BHTG đến nay, chúng ta thực hiện phí đồng hạng (cùng một tỷ lệ phí )
đối với tất cả các tổ chức tham gia BHTG.
Bài tập học kì Trang 11/20
Luật Ngân hàng Việt Nam Nguyễn Thị Thanh Mai – KT33F-055
( Nguồn : BHTG Việt Nam – http://www.div.gov.vn – Tính đến quý I năm 2009)
Quy định phí đồng hạng chỉ phù hợp trong thời gian vừa qua khi lần đầu tiên
Chính phủ thành lập một tổ chức BHTG của Chính phủ để thực hiện bảo hiểm một
cách công khai, minh bạch cho người dân. Trong thời gian đầu mới thành lập cần sự
đơn giản trong việc tính phí để BHTG đi vào thực tiễn. Tuy nhiên, quy định này có
hạn chế là không phân biệt tổ chức tham gia BHTG có hoạt động an toàn hay không
an toàn, rủi ro nhiều hay ít mà tất cả đều được áp dụng chung một tỷ lệ phí. Từ đó,
không tạo ra sự cạnh tranh trong hoạt động của các tổ chức tham gia BHTG hoạt động
an toàn để có thể được hưởng tỷ lệ phí BHTG thấp hơn. Quy định mức phí đồng hạng
cũng không có tác dụng giảm rủi ro đạo đức (là rủi ro xảy ra khi một bên tham gia cố
tình không thực hiện đúng nghĩa vụ của mình gây thiệt hại tới quyền lợi của người
khác) trong hoạt động tiền gửi. Ngược lại, cách tính phí BHTG theo mức độ rủi ro (tỷ
lệ phí phụ thuộc vào mức độ rủi ro của tổ chức tham gia BHTG) sẽ khắc phục được
những hạn chế nói trên, đồng thời phù hợp với nguyên tắc trong hoạt động của bảo
hiểm là rủi ro cao thì mức phí phải nộp cao, rủi ro thấp thì mức phí phải nộp thấp, tạo
sự công bằng hơn trong hoạt động BHTG.
Trên cơ sở xếp hạng đối với các tổ chức tham gia BHTG sẽ áp dụng mức phí
BHTG khác nhau đối với các tổ chức này. Tuy nhiên, ở Việt Nam do hệ thống các
ngân hàng chưa có những phát triển ổn định, cơ quan quản lý nhà nước chưa có những
đánh giá, phân loại, định mức tín nhiệm chuẩn đối với các ngân hàng, các tổ chức hoạt
động độc lập trong lĩnh vực định mức tín nhiệm cũng chưa được hình thành. Chính vì
Bài tập học kì Trang 12/20
Luật Ngân hàng Việt Nam Nguyễn Thị Thanh Mai – KT33F-055
lẽ đó nên điều cần quan tâm nhất khi áp dụng phí BHTG theo mức độ rủi ro là thực
hiện việc đánh giá, xếp hạng đối với các tổ chức tham gia BHTG.
Việc xếp hạng các tổ chức tham gia BHTG để tính phí BHTG theo mức độ rủi ro tại
các nước trên thế giới đều dựa trên tiêu chuẩn CAMEL. Cũng có nhiều nước sử dụng
kết quả đánh giá, xếp hạng của cơ quan thanh tra, giám sát ngân hàng để tính phí phân
biệt đối với các tổ chức tham gia BHTG. Một số khác lại sử dụng kết quả đánh giá,
xếp hạng của công ty đánh giá định mức tín nhiệm độc lập, một số nước tổ chức
BHTG trực tiếp đánh giá, xếp hạng và Ở Việt Nam, cơ quan thanh tra, giám sát ngân
hàng (thuộc NHNN) đã thực hiện việc đánh giá, xếp loại các tổ chức tín dụng hàng
năm theo tiêu chuẩn CAMEL (theo các Quyết định số 06/2008/QĐ-NHNN ngày
12/3/2008 và Quyết định số 14/2007/QĐ-NHNN ngày 09/4/2004 của Thống đốc
NHNN). Do đó, nên sử dụng kết quả đánh giá, xếp hạng của cơ quan thanh tra, giám
sát ngân hàng để tính phí đối với các tổ chức tham gia BHTG khi triển khai tính phí
BHTG theo mức độ rủi ro, để giảm chi phí.
6. Quy định về hạn mức BHTG chưa được điều chỉnh kip thời và chưa tạo ra sự
linh động để đối phó với các trường hợp khủng hoảng tài chính.
Hạn mức BHTG là số tiền tối đa mà tổ chức BHTG chi trả cho một người gửi
tiền tại tổ chức tham gia BHTG trong trường hợp tổ chức tham gia BHTG chấm dứt
hoạt động và không có khả năng thanh toán cho người gửi tiền.
BHTG Việt Nam được Nhà nước thành lập và cấp vốn điều lệ ban đầu là 1,000
tỉ đồng, đến nay là 5,000 tỉ đồng. Việc chi trả bảo hiểm cho người gửi tiền là một
trong những hoạt động vô cùng quan trọng của BHTG Việt Nam. Đây là biện pháp
cuối cùng những vô cùng có ýnghĩa đối với tổ chức tham gia BHTG hoạt động không
lành mạnh, dẫn đến tình trạng mất khả năng thanh toán. Việc chi trả kịp thời tiền gửi
được bảo hiểm tại các Quỹ tín dụng (QTD) này đã thể hiện được vai trò của DIV trong
việc bảo vệ quyền lợi người gửi tiền, tạo lập được lòng tin của người dân đối với hệ
thống ngân hàng, ngăn chặn được sự đổ vỡ dây truyền trong hệ thống QTDND. Đồng
thời góp phần vào việc củng cố, chấn chỉnh hệ thống QTD để hệ thống này phát triển
an toàn, ổn định theo tinh thần chỉ thị số 57/CT-TW của Bộ chính trị và Quyết định số
135/2000/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Tính đến cuối tháng 6-2009, BHTG
Bài tập học kì Trang 13/20
Luật Ngân hàng Việt Nam Nguyễn Thị Thanh Mai – KT33F-055
Việt Nam đã thực hiện chi trả tiền gửi được bảo hiểm cho hơn 1.500 người gửi tiền tại
hơn 36 quỹ tín dụng nhân dân với tổng số tiền gần 19 tỷ đồng. Việc trực tiếp chi trả
tiền gửi được bảo hiểm tạo được niềm tin của công chúng đối với hệ thống ngân hàng,
tránh hiện tượng người dân đổ xô đi rút tiền, có thể gây ra sự đổ vỡ dây chuyền
4
.
Vấn đề đáng quan tâm hiện nay là hạn mức chi trả của BHTG. Hạn mức BHTG
là vấn đề rất nhạy cảm, bởi vì nó có thể ảnh hưởng tới tâm lý người gửi tiền, đồng thời
cũng ảnh hưởng đến hành vi ứng xử của các bên trong quan hệ BHTG.
Hạn mức BHTG có mối quan hệ với mức độ rủi ro đạo đức trong hoạt động
ngân hàng. Hạn mức BHTG càng cao thì rủi ro đạo đức càng cao, biểu hiện ở chỗ
người gửi tiền do yên tâm rằng khoản tiền của họ được bảo hiểm nên không có động
lực tìm hiểm, đánh giá và lực chọn tổ chức nhận tiền gửi an toàn, còn tổ chức nhận
tiền gửi do huy động được tiền gửi dễ dàng nên không chú trọng các biện pháp bảo
đảm an toàn và có xu hướng thực hiện các hoạt động cho vay mạo hiểm hơn. Rủi ro
đạo đức xuất hiện cao nhất trong hệ thống BHTG chi trả không giới hạn (không có
hạn mức BHTG), nên việc quy định bảo hiểm không giới hạn chỉ cần thiết và phù hợp
khi hệ thống ngân hàng của quốc gia đứng trước các cuộc khủng hoảng tài chính và
chỉ nên duy trì trong một thời gian ngắn.
Hạn mức BTHG thấp sẽ đặt người gửi tiền trước những rủi ro thiệt hạn trong
trường hợp tổ chức nhận tiền gửi đổ vỡ, do đó tạo động lực cho họ lực chọn tổ chức
nhận tiền gửi có độ an toàn cao hơn, chính vì lẽ đó, đứng trên phương diện rủi ro đạo
đức thì hạn mức bảo hiểm càng thấp càng tốt. Tuy nhiên, hạn mức BHTG quá thấp
không có tác dụng củng cố niềm tin của người gửi tiền vào hệ thống ngân hàng, không
hạn chế được nguy cơ rút tiền hàng loạt của người gửi tiền chỉ vì những tin đồn thất
thiệt. Mặc khác, hạn mức thấp sẽ không có tác dụng bảo vệ quyền lợi của người gửi
tiền trong trường hợp tổ chức nhận tiền gửi đổ vỡ (bất kỳ tổ chức nhận tiền gửi nào
cũng có thể phá sản trong cơ chế thị trường), vì vậy không có tác dụng duy trì sự ổn
định của hệ thống ngân hàng. Do đó, xác định hạn mức BHTG phải đủ thấp để khuyến
khích sự thận trọng của người gửi tiền, đồng thời cũng phải đủ cao để củng cố niềm
tin của người gửi tiền, ngăn chặn nguy cơ rút tiền hàng loạt của người gửi tiền tại ngân
4
Tài liệu của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam – http://www.div.gov.vn
Bài tập học kì Trang 14/20

Xem chi tiết: 238650


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét