5
cơ quan chức năng hoặc lo sợ hậu quả đối với chính bản thân họ và con cái họ.
1
Việc chấp nhận các hành vi bạo lực gia đình được củng cố bởi tư tưởng văn hóa
ở Việt Nam. Điều này được phản ánh trong hệ thống cơ quan tư pháp, công an,
tòa án, viện kiểm sát và trong tư tưởng của một số cán bộ của các cơ quan này.
Vì vậy, việc nâng cao nhận thức của người thực hiện trợ giúp pháp lý về bạo lực
gia đình là vấn đề hết sức quan trọng.
Cuốn Tài liệu này được xây dựng dành cho đội ngũ người thực hiện trợ
giúp pháp lý. Dù bạn là người thực hiện trợ giúp pháp lý ở cơ sở, là chuyên gia
về pháp luật, là Cộng tác viên của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước, là thành
viên Ban chủ nhiệm Câu lạc bộ trợ giúp pháp lý hay cán bộ của các tổ chức đăng
ký tham gia thực hiện trợ giúp pháp lý, Tài liệu này sẽ cung cấp các thông tin
giúp bạn có thể thực hiện trợ giúp pháp lý có hiệu quả cho đối tượng là nạn nhân
trong những vụ việc có dấu hiệu bạo lực gia đình.
Tháng 10/2010, Cục Trợ giúp pháp lý đã thực hiện một cuộc khảo sát về
thực trạng trợ giúp pháp lý cho nữ giới là nạn nhân bạo lực gia đình cũng như
nhu cầu bồi dưỡng nâng cao kiến thức và kỹ năng thực hiện trợ giúp pháp lý
trong những vụ việc có dấu hiệu bạo lực gia đình
2
. Vào thời điểm đó, việc người
đến yêu cầu trợ giúp pháp lý có phải là nạn nhân bạo lực gia đình hay không
không được xem là một tiêu chí khi xác định diện đối tượng theo quy định của
Luật Trợ giúp pháp lý. Mặc dù vậy, 1/3 trên tổng số người thực hiện trợ giúp
pháp lý được phỏng vấn khẳng định họ đã từng tham gia giải quyết vụ việc bạo
lực gia đình, phần lớn trong số họ trả lời đã từng giải quyết 01 - 03 vụ việc có
dấu hiệu bạo lực gia đình trong 12 tháng trở lại đây
3
. Theo Kết quả khảo sát, dù
vụ việc trợ giúp pháp lý có được xác định là vụ việc bạo lực gia đình hay không,
người thực hiện trợ giúp pháp lý vẫn tiến hành gặp gỡ tiếp xúc với nạn nhân, đặc
biệt là trong những vụ ly hôn, trong lĩnh vực hôn nhân gia đình. Một Cộng tác
viên trợ giúp pháp lý khi được phỏng vấn cho biết “Cứ 10 vụ ly hôn thì 08 vụ có
dấu hiệu bạo lực gia đình”. Tuy nhiên, không phải tất cả người thực hiện trợ
giúp pháp lý đều có thể phát hiện hay nhận biết nạn nhân của bạo lực gia đình,
thậm chí ngay cả nạn nhân cũng không coi những gì người khác làm đối với
mình là bạo lực gia đình hay vi phạm pháp luật nên không tìm đến và yêu cầu
được trợ giúp pháp lý.
Tuy nhiên, trong thời gian tới vì rất nhiều lý do, người thực hiện trợ giúp
pháp lý có thể đối mặt với số lượng ngày càng tăng của các vụ việc bạo lực gia
1
Kết quả Nghiên cứu Quốc gia về Bạo lực gia đình đối với phụ nữ tại Việt Nam năm 2010 – Báo cáo Tóm tắt (do Tổng cục Thống kê thực
hiện với sự hỗ trợ của Liên hợp quốc trong Chương trình hợp tác về Bình đẳng giới giữa Chính phủ Việt Nam và Liên Hợp quốc), trang 5.
2
Để biết thêm các thông tin về khảo sát, vui lòng xem Báo cáo kết quả thực trạng trợ giúp pháp lý cho nạn nhân bạo lực gia đình và nhu cầu
tập huấn, bồi dưỡng nâng cao năng lực thực hiện trợ giúp pháp lý đối với vụ việc liên quan đến bạo lực gia đình của người thực hiện trợ giúp
pháp lý ở cơ sở do Cục Trợ giúp pháp lý và UNODC thực hiện tháng 10/2010 (sau đây gọi là Báo cáo khảo sát).
3
Báo cáo khảo sát cho thấy có 35,34% người được phỏng vấn khẳng định họ đã tham gia giải quyết vụ việc bạo lực gia đình và 88,65%
trong số đó trả lời họ đã từng giải quyết 01 - 03 vụ việc có dấu hiệu bạo lực gia đình trong 12 tháng trở lại đây. (Xem thêm ở Báo cáo khảo
sát).
6
đình. Trước hết, trong tháng 3/2011, Bộ trưởng Bộ Tư pháp đã ban hành Thông
tư số 07/2011/TT-BTP ngày 31/3/2011 hướng dẫn bảo đảm bình đẳng giới trong
tổ chức cán bộ và hoạt động trợ giúp pháp lý (sau đây gọi tắt là Thông tư số
07/2011/TT-BTP). Theo quy định tại Điều 12 của Thông tư, trong số người
được trợ giúp pháp lý là nữ giới theo Điều 2 Nghị định số 07/2007/NĐ-CP ngày
12/01/2007 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều
của Luật Trợ giúp pháp lý thì nữ giới là nạn nhân bạo lực gia đình được các tổ
chức thực hiện trợ giúp pháp lý ưu tiên sử dụng nguồn lực để trợ giúp pháp lý.
Thứ hai, có một chiến dịch truyền thông cộng đồng nhằm nâng cao nhận thức và
khuyến khích nạn nhân bạo lực gia đình tìm kiếm sự hỗ trợ từ phía các cơ quan
nhà nước. Thứ ba, ở mức độ nào đó, người thực hiện trợ giúp pháp lý đã được
nâng cao nhận thức và tăng cường kỹ năng trong việc nhận diện nạn nhân bạo
lực gia đình khi người được trợ giúp pháp lý đến yêu cầu trợ giúp pháp lý trong
các lĩnh vực khác nhau, chẳng hạn như trong các vụ việc ly hôn.
Khảo sát cũng chỉ ra rằng những thông tin về bạo lực gia đình mà người
thực hiện trợ giúp pháp lý xác định được chưa dựa vào kiến thức hay kinh
nghiệm của họ mà phần lớn là do nạn nhân cung cấp
4
. Ngoài ra, khảo sát cũng
cho thấy, người thực hiện trợ giúp pháp lý phải đối mặt với rất nhiều khó khăn,
thách thức khi thực hiện trợ giúp pháp lý đối với vụ việc bạo lực gia đình, như:
Nạn nhân còn do dự, e ngại khi chia sẻ các thông tin về tình trạng của
họ;
Nhận thức và hiểu biết của người thực hiện trợ giúp pháp lý về Luật
Phòng, chống bạo lực gia đình và các văn bản pháp luật được áp dụng trong quá
trình giải quyết vụ việc bạo lực gia đình còn hạn chế;
Nạn nhân rút lui hoặc từ bỏ quyền được bảo vệ của họ;
Thiếu sự phối hợp với sự hỗ trợ từ phía các cơ quan, tổ chức có liên
quan.
Kết quả khảo sát nêu bật nhu cầu cần nâng cao kiến thức của người thực
hiện trợ giúp pháp lý về các quy định của pháp luật hiện hành để ứng phó kịp
thời với nạn bạo lực gia đình cũng như xây dựng, tăng cường năng lực cho họ để
thực hiện trợ giúp pháp lý có hiệu quả đối với các vụ bạo lực gia đình. Những
người được phỏng vấn trong cuộc khảo sát đã đề nghị được tập huấn, bồi dưỡng
kiến thức và kỹ năng trợ giúp pháp lý trong việc thực hiện trợ giúp pháp lý các
vụ việc bạo lực gia đình. Tài liệu này được xem là bước đầu tiên nhằm hiện thực
hóa mục tiêu này.
4
148/160 người được phỏng vấn, theo Báo cáo Kết quả khảo sát
7
Mục tiêu của tài liệu
Tài liệu này được xem là công cụ thiết thực cung cấp những chỉ dẫn cần
thiết về kiến thức và kỹ năng cho người thực hiện trợ giúp pháp lý trong việc
thực hiện trợ giúp pháp lý cho nạn nhân bạo lực gia đình để nâng cao chất lượng
dịch vụ pháp lý miễn phí hỗ trợ cho nạn nhân bạo lực gia đình.
Đối tượng sử dụng Tài liệu
Đối tượng sử dụng Tài liệu bao gồm:
Trợ giúp viên pháp lý;
Cộng tác viên là luật sư;
Cộng tác viên trợ giúp pháp lý khác;
Chuyên viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước (Trung
tâm);
Tư vấn viên pháp luật;
Thành viên Ban chủ nhiệm Câu lạc bộ trợ giúp pháp lý;
Công chức của Sở Tư pháp có liên quan đến việc thực hiện trợ giúp
pháp lý.
Phạm vi của Tài liệu
Tài liệu tập trung vào bạo lực đối với phụ nữ trong các mối quan hệ gia
đình và quan hệ như vợ chồng. Người gây ra bạo lực đối với phụ nữ có thể là
chồng, chồng cũ hoặc bạn tình hay các thành viên trong gia đình như con trai,
mẹ chồng hoặc những thành viên khác.
Mặc dù các hình thức bạo lực gia đình khác cũng rất nghiêm trọng, tuy
nhiên Tài liệu chủ yếu tập trung vào bạo lực gia đình đối với phụ nữ trong các
mối quan hệ gia đình của họ. Thực tế cho thấy, phần lớn nạn nhân bạo lực gia
đình là nữ giới. Mặc dù các số liệu thống kê rất đa dạng nhưng nghiên cứu cũng
chỉ ra rằng số vụ bạo lực gia đình mà nạn nhân là nữ giới chiếm khoảng 95%
tổng số vụ việc bạo lực gia đình
5
. Sự bất bình đẳng giới dai dẳng và nền văn hóa
mà ở đó duy trì sự thống trị của nam giới đối với nữ giới sẽ còn tiếp tục mang lại
hậu quả là số lượng nữ giới bị bạo hành tăng lên và việc đòi quyền lợi của họ sẽ
bị hạn chế. Nữ giới là nạn nhân bạo lực gia đình cần một sự hỗ trợ và bảo vệ đặc
biệt do tính chất thân mật và riêng tư của các mối quan hệ mà ở đó diễn ra tình
trạng bạo lực.
Tài liệu này không nhằm giải quyết tình trạng bạo lực gia đình đối với trẻ
em. Vì để xác định, đánh giá và ứng phó với tình trạng này cần phải có những
5
Tài liệu tập huấn về Quyền con người của Luật sư Bang Minnesota. Theo số liệu thống kê của Canada, phụ nữ là nạn nhân bạo lực gia đình
chiếm 83% trong tổng số vụ bạo lực gia đình: Số liệu Thống kê của Canada về “Bạo lực gia đình ở Canada”: Tập hợp số liệu thống kê năm
2008.
8
kỹ năng đặc thù nhất định. Tuy nhiên, cũng cần nhìn nhận khách quan rằng trẻ
em là người chứng kiến tình trạng bạo lực gia đình đối với mẹ của chúng, do đó,
chúng cũng là nạn nhân. Vì vậy rất cần một sự can thiệp toàn diện để sự hỗ trợ,
bảo vệ người mẹ cũng bao gồm cả việc đáp ứng các yêu cầu cần thiết của trẻ
em.
Bố cục của Tài liệu
Tài liệu được chia thành các Phần như sau:
Lời giới thiệu
Phần I: Khái quát chung về bạo lực gia đình
Phần II: Khung pháp lý
Phần III: Kỹ năng, phương pháp xác định và giải quyết vụ việc có dấu
hiệu bạo lực gia đình
Phần IV: Một số kỹ năng thực hiện trợ giúp pháp lý cho nạn nhân bạo
lực gia đình trong các vụ án hình sự
Phần V: Một số kỹ năng thực hiện trợ giúp pháp lý cho nạn nhân bạo
lực gia đình trong các vụ việc dân sự
Phần VI: Một số kỹ năng thực hiện trợ giúp pháp lý cho nạn nhân bạo
lực gia đình trong các vụ hòa giải
Phần VII: Vấn đề phối hợp – mối quan hệ giữa các tổ chức thực hiện
trợ giúp pháp lý và các cơ quan, tổ chức có liên quan
Phụ lục
Tài liệu nhằm cung cấp cho người thực hiện trợ giúp pháp lý và các cán
bộ có liên quan những hướng dẫn thực tế, cụ thể và hữu ích. Mỗi Phần sẽ có tóm
tắt những vấn đề quan trọng được đề cập đến.
Tài liệu này do Cục Trợ giúp pháp lý - Bộ Tư pháp xây dựng với sự hỗ trợ
của Cơ quan phòng chống Ma túy và Tội phạm của Liên Hợp quốc tại Việt Nam
(UNODC). Tài liệu được xây dựng trên cơ sở kết quả khảo sát được tiến hành
vào tháng 10/2010 về thực trạng trợ giúp pháp lý cho nạn nhân bạo lực gia đình
và nhu cầu tập huấn, bồi dưỡng nâng cao năng lực thực hiện trợ giúp pháp lý đối
với vụ việc liên quan đến bạo lực gia đình của người thực hiện trợ giúp pháp lý
ở cơ sở. Cuộc khảo sát và Tài liệu này là các hoạt động trong khuôn khổ Dự án
“Tăng cường năng lực cho các cơ quan hành pháp và tư pháp chống bạo lực
trong gia đình ở Việt Nam” (VNM/T28) và là một phần trong Chương trình
chung về Bình đẳng giới của Liên Hợp quốc.
9
PHẦN I: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BẠO LỰC GIA ĐÌNH
Tóm tắt nội dung chính
1. Bạo lực gia đình là hành vi cố ý cũng là hành vi có ý thức.
2. Bạo lực gia đình là một hình thức bạo lực trên cơ sở giới xuất phát từ
quan niệm và niềm tin lâu đời rằng người phụ nữ luôn thấp kém hơn và phụ
thuộc vào nam giới.
3. Phụ nữ là nạn nhân bạo lực gia đình chiếm tỉ lệ cao (95%) trong tổng số
vụ bạo lực gia đình.
4. Bạo lực gia đình chủ yếu liên quan đến những hành vi lặp đi lặp lại; bao
gồm các hình thức lạm dụng, bạo hành khác nhau.
5. Có 04 hình thức bạo lực gia đình chủ yếu là bạo lực: về thể xác, về tâm
lý, về tình dục và về kinh tế.
6. Người gây ra bạo lực sử dụng rất nhiều loại hành vi khác nhau để đạt
được quyền lực và sự kiểm soát đối với nạn nhân.
7. Người gây ra bạo lực, nạn nhân và mối quan hệ giữa người gây ra bạo
lực, nạn nhân.
8. Nhận thức về động cơ thúc đẩy bạo lực gia đình và những rào cản mà
nạn nhân gặp phải khi tìm kiếm sự hỗ trợ sẽ giúp ích cho người thực hiện trợ
giúp pháp lý trong việc ứng phó/giải quyết một cách hiệu quả hơn các vụ bạo
lực gia đình.
10
1. Giải thích thuật ngữ
Khái niệm bạo lực gia đình có được định nghĩa trong Luật không?
Câu trả lời là Có. Luật Phòng, chống bạo lực gia đình quy định về giải thích
thuật ngữ tại Điều 1 Khoản 2:
“Bạo lực gia đình là hành vi cố ý của thành viên gia đình gây tổn hại hoặc
có khả năng gây tổn hại về thể chất, tinh thần, kinh tế đối với thành viên khác
trong gia đình”.
Bạo lực trong gia đình là hiện tượng một hay nhiều thành viên dùng quyền
lực và bạo lực trong cả một quá trình để thực hiện hành vi làm cho thành viên
khác trong gia đình đau đớn về thể xác, bị khủng hoảng về tinh thần và bị bế tắc
về mặt xã hội nhằm khuất phục, khống chế và kiểm soát người đó
6
. Mặt khác,
bạo lực gia đình là hành vi cố ý. Mục đích của nó là để thiết lập và duy trì quyền
lực và sự kiểm soát đối với người khác. Bạo lực được dùng để đe dọa, hạ nhục
hoặc khiến nạn nhân sợ hãi.
Bạo lực gia đình:
Có thể là một hành vi bạo lực đơn lẻ; hoặc
Là tổng hợp của nhiều hành động thông qua việc sử dụng các hành vi tấn
công, kiểm soát.
Nghiên cứu Quốc gia về Bạo lực gia đình đối với phụ nữ ở Việt Nam (sau đây gọi là
Nghiên cứu quốc gia) chỉ ra rằng có 60% trong tổng số phụ nữ thừa nhận đã từng bị
thương tích do hành vi bạo lực gây ra cho biết họ bị thương tích nhiều hơn một lần và
17% bị thương tích nhiều lần.
7
Bạo lực gia đình gồm những loại hình nào?
Bạo lực gia đình thường được chia thành 04 loại
Bạo lực thể xác: Đấm đá, đánh, xô đẩy, bóp cổ…
Bạo lực tinh thần: Nguyền rủa, chửi bới, mắng nhiếc, hạ thấp hay xúc
phạm danh dự, nhân phẩm, đổ lỗi, chê bai những suy nghĩ và cảm xúc của người
khác, đe dọa, ném, đập vỡ đồ đạc, đấm và tưởng, cất giấu đồ đạc…
Bạo lực tình dục: Bất kỳ hành vi, hành động cưỡng ép quan hệ tình dục
ngoài ý muốn nào.
Bạo lực kinh tế: Ngăn không cho làm việc, kiểm soát chặt chẽ, không cho
người khác tiếp cận những nguồn thu nhập của gia đình…
6
Xem: Trung tâm Nghiên cứu và Ứng dụng Khoa học về Giới – Gia đình – Phụ nữ và Vị thành niên (CSAGA), tài liệu tập huấn về Giới –
Bạo lực giới và truyền thông phòng chống bạo lực gia đình, tại Bến Tre, tháng 5 năm 2007.
7
Nghiên cứu quốc gia, xem trích dẫn số 1.
11
CẦN LƯU Ý RẰNG – Bạo lực gia đình là hình thức cưỡng chế và kiểm
soát mà một người hành xử đối với người khác. Bạo lực gia đình không chỉ là sự
tấn công cơ học thậm chí không buộc phải là hành động tác động đến thể chất
của nạn nhân. Nó thường là việc lặp đi lặp lại một phương thức bao gồm nhiều
hành động như đe dọa, tước đoạt về kinh tế, cô lập, lạm dụng bạo hành về tinh
thần và tình dục. Một số hành vi mà kẻ gây ra bạo lực sử dụng đã khiến nạn
nhân bị tổn thương cả về thể chất và tinh thần. Ngoài ra còn có các hành vi dẫn
đến tổn thương về tâm lý, tinh thần cho nạn nhân. Mặc dù những hành vi này
không để lại những thương tật trên cơ thể nạn nhân nhưng nó vẫn để lại những
tổn thương sâu sắc trong tâm hồn họ.
QUAN TRỌNG LÀ – Chưa có khái niệm chính thức về bạo lực tinh thần.
Bạo lực tinh thần hay còn gọi là bạo lực tâm lý là hình thức bạo lực khó xác
định nhất vì nhiều lý do. Trước hết, không có dấu hiệu nào biểu hiện ra bên
ngoài về sự tổn hại mà bạo lực tinh thần gây ra. Thứ hai, phương thức hay hành
vi được sử dụng như “lăng mạ” hay “hạ nhục, bôi nhọ” có thể xảy ra trong mọi
mối quan hệ và có thể chưa đến mức bị gọi là “bạo lực”. Để xác định xem loại
hành vi này có phải là một hình thức bạo lực gia đình hay không, chúng ta cần
xem xét xem nó có dựa trên sự áp đặt quyền lực và sự kiểm soát hay không.
Nhìn chung, bạo lực tinh thần hay bạo lực tâm lý còn bao gồm cả những hành vi
như thường xuyên đe dọa, hạ thấp phẩm giá chứ không chỉ đơn giản là tạo ra áp
lực tinh thần hay xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm của người khác.
Bạo lực thể chất Bạo lực tinh thần/tâm lý
Là hành vi cố ý gây ra thương tích trên
cơ thể nạn nhân, bao gồm hành vi bạo
lực và thương tật nhỏ.
Bao gồm các hành động như đánh
đập, đối xử tàn tệ, tra tấn hoặc những
hành vi có mục đích khác gây ra thương
tật cho sức khỏe và cuộc sống của người
khác.
Có thể bao gồm việc sử dụng hung
khí như que, gậy, dao hoặc kéo.
Nghiên cứu Quốc gia chỉ ra rằng
31,5% phụ nữ từng lập gia đình đã từng
bị chồng hoặc chồng cũ bạo hành về thể
chất
8
.
Là hành vi cố ý làm tổn thương tâm
lý/tinh thần của người khác và chạm
ngưỡng bạo lực.
Bao gồm các hành vi nghiêm trọng có
thể ảnh hưởng đến sức khỏe tâm lý/tinh
thần của phụ nữ, bao gồm việc sử dụng
những lời lẽ lăng mạ, chửi rủa, đe dọa
hoặc hành vi vi phạm khác, kiểm soát và
ngăn cấm người phụ nữ tham gia vào
các hoạt động xã hội hoặc các hoạt động
kinh doanh, lao động khác.
Nghiên cứu quốc gia cho thấy tỷ lệ
bạo lực tâm lý phổ biến trong suốt đời
người phụ nữ do chồng gây ra là 53,6%.
8
Nghiên cứu quốc gia về Bạo lực gia đình đối với phụ nữ tại Việt Nam, tr 52-53.
9
Vung và Cộng sự (CS) năm 2008, Luke và CS năm 2007, UNFPA 2007, Lợi và CS 1999, trích trong “Số chuyên đề: Bạo lực trên cơ sở
giới” (UN Việt Nam, tháng 5/2010)
10
Mai và CS, trích trong Số chuyên đề, xem ghi chú 9.
12
Nghiên cứu Quốc gia cũng chỉ ra
rằng tần suất phụ nữ bị bạo lực về thể
xác mang tính tích lũy và gia tăng theo
độ tuổi.
Nghiên cứu ở phạm vi nhỏ chỉ ra
rằng bạo lực thể xác là hình thức phổ
biến nhất của bạo lực trên cơ sở giới với
tỉ lệ từ 16-37% phụ nữ cho biết họ đã
từng bị bạo lực thể xác
9
.
Một nghiên cứu trên 465 cặp đôi chỉ
ra rằng 50% nam giới thừa nhận họ đã
từng đánh vợ trong khi chỉ 37% phụ nữ
nói rằng họ từng bị bạo lực. Điều này
cho thấy, phụ nữ thường có xu hướng
báo cáo không đầy đủ về tình trạng bạo
lực mà họ đã chịu trong đời
10
.
Nghiên cứu ở phạm vi nhỏ chỉ ra rằng
tỷ lệ bạo lực tâm lý/tinh thần cao hơn tỷ
lệ bạo lực thể xác từ 19% đến 55%
11
.
Cuộc điều tra 2006 trên tổng số 2.000
phụ nữ đã từng lập gia đình cho biết
25% trong số họ đã từng bị bạo lực tâm
lý/tinh thần trong chính gia đình họ
12
.
Rất khó xác định bạo lực vì những
tổn hại không thể hiện ra bên ngoài như
bạo lực thể xác.
Rất khó để phân biệt một hành vi chỉ
là xúc phạm hay đến đã mức bạo lực
tâm lý/tinh thần.
Đối với mỗi trường hợp, cần phải
đánh giá chính xác các tác động mà
hành vi gây ra. Cần xem xem có mối
quan hệ quyền lực và kiểm soát giữa hai
người hay không.
Bạo lực tình dục Bạo lực kinh tế
Là hành vi quấy rối tình dục, hoặc
cưỡng ép quan hệ tình dục ngoài ý muốn
của nạn nhân.
Bao gồm các hành vi như hãm hiếp,
cưỡng ép quan hệ tình dụng; sử dụng
những lời lẽ hoặc hành động cưỡng ép
nạn nhân thực hiện những hành vi tình
dục khiến nạn nhân cảm thấy bị làm
nhục; đe dọa để quan hệ tình dục.
Nghiên cứu quốc gia cho thấy cứ
khoảng 10 phụ nữ từng kết hôn thì có 01
người đã từng bị chồng bạo lực tình dục
trong đời (9,9%).
Cuộc điều tra năm 2006 của Ủy ban
Các vấn đề Xã hội của Quốc hội tại 08
tỉnh, thành phố cho thấy có đến 30%
phụ nữ trả lời đã từng bị chồng bắt
quan hệ tình dục ngoài ý muốn
13
.
Theo dữ liệu của Trung tâm tư vấn
Cửa Lò thì có 42/207 vụ là bạo lực tình
dục.
Là hành vi cố ý sử dụng phương tiện
kinh tế để kiểm soát vợ hoặc chiếm đoạt
thu nhập hợp pháp của vợ hoặc ngăn
cấm vợ tiếp cận, sử dụng các nguồn thu
nhập của gia đình hoặc bắt ép vợ làm
việc quá sức.
Bao gồm các hành vi như ép buộc
thành viên khác trong gia đình lao động
quá sức hoặc đóng góp vượt quá khả
năng thu nhập của họ; kiểm soát thu
nhập của thành viên khác trong gia đình
để bắt họ phụ thuộc về tài chính.
Một điều tra nhỏ về hình thức bạo lực
kinh đã được thực hiện tại Việt Nam.
Dữ liệu thu được từ trung tâm tư vấn
thuộc Bệnh viện Đức Giang – Hà Nội
cho thấy 11% bệnh nhân đã từng bị bạo
hành về kinh tế.
11
Xem trích dẫn số 9.
12
Xem tờ trình số 2330 TTr/UBXH 2006 trích trong UNFPA 2007: tr 22, xem trích dẫn số 9.
13
Xem trích dẫn số 9.
13
Các hành vi bạo lực gia đình được quy định trong Luật như thế nào?
Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007 tại khoản 1 Điều 2 quy định
các hành vi bạo lực gia đình bao gồm:
a. Hành hạ, ngược đãi, đánh đập hoặc hành vi cố ý khác xâm hại đến sức khoẻ,
tính mạng;
b. Lăng mạ hoặc hành vi cố ý khác xúc phạm danh dự, nhân phẩm;
c. Cô lập, xua đuổi hoặc gây áp lực thường xuyên về tâm lý gây hậu quả nghiêm
trọng;
d. Ngăn cản việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong quan hệ gia đình giữa ông, bà
và cháu; giữa cha, mẹ và con; giữa vợ và chồng; giữa anh, chị, em với nhau;
đ. Cưỡng ép quan hệ tình dục;
e. Cưỡng ép tảo hôn; cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự
nguyện, tiến bộ;
g. Chiếm đoạt, huỷ hoại, đập phá hoặc có hành vi khác cố ý làm hư hỏng tài sản
riêng của thành viên khác trong gia đình hoặc tài sản chung của các thành viên gia
đình;
h. Cưỡng ép thành viên gia đình lao động quá sức, đóng góp tài chính quá khả
năng của họ; kiểm soát thu nhập của thành viên gia đình nhằm tạo ra tình trạng phụ
thuộc về tài chính;
i. Có hành vi trái pháp luật buộc thành viên gia đình ra khỏi chỗ ở.
Có phải chỉ phụ nữ mới là nạn nhân bạo lực gia đình?
Bạo lực gia đình có thể xảy ra trong bất kỳ mối quan hệ gia đình nào, bao
gồm quan hệ vợ - chồng, vợ cũ - chồng cũ; cha dượng/mẹ kế với con riêng của
vợ/chồng, cha mẹ và con cũng như quan hệ giữa những người cùng chung sống.
Tuy nhiên, thực tế là nạn nhân bạo lực gia đình chủ yếu là nữ giới. Mặc dù số
liệu về bạo lực gia đình rất đa dạng, nhưng các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng số
vụ việc mà nạn nhân là phụ nữ chiếm khoảng 95% tổng số vụ bạo lực gia đình
14
.
Bạo lực gia đình đối với phụ nữ thường được gọi là “bạo lực trên cơ sở giới” vì
nó phần nào xuất phát từ tình trạng phụ thuộc về giới tính của phụ nữ trong xã
hội. Trong hầu hết các xã hội, mối quan hệ bất bình đẳng giữa nam giới và nữ
giới được tạo lập và duy trì bởi quan niệm bất di bất dịch về giới là nguyên nhân
cơ bản dẫn đến bạo lực đối với phụ nữ.
14
Điều này được phản ánh trong các nghiên cứu của quốc tế cũng như Việt Nam trong thời gian gần đây. (Xem Tập hợp chuyên đề nghiên
cứu về bạo lực trên cơ sở giới của Liên Hợp quốc, t5/2010, xem trích dẫn 1 và 9).
14
2. Nhận thức về nguyên nhân dẫn đến tình trạng bạo lực gia đình đối với
phụ nữ
Nguyên nhân sâu xa chính là sự bất bình đẳng giới
Bạo lực gia đình xuất phát từ hành vi và thái độ kéo dài hàng thế kỷ của xã
hội mà trong đó phụ nữ bị cho là thấp kém hơn đàn ông và so với đàn ông thì họ
không xứng đáng để kiểm soát cuộc sống của chính họ hay đưa ra các quyết
định. Sự bất bình đẳng giới được duy trì và phản ánh trong quan niệm bất di bất
dịch về giới. Suy nghĩ sai lầm đó đã củng cố niềm tin rằng đàn ông có quyền dạy
dỗ vợ của họ thông qua những hành động có tính bạo lực để bảo vệ thanh danh
của gia đình. Bạo lực đối với phụ nữ thường bị coi nhẹ như thể nó là điều hết
sức bình thường trong xã hội, ngay cả đối với chính những nạn nhân bạo lực gia
đình.
Kết quả Nghiên cứu quốc gia phản ánh nhận thức của người phụ nữ về vai trò
của họ như sau:
» 27% đồng ý với ý kiến “một người vợ tốt là người luôn biết vâng lời ngay cả
khi chị ta không đồng ý”.
» Cùng tỷ lệ như trên đồng ý với ý kiến “mọi quyết định quan trọng của gia đình
phải do người chồng quyết định”.
» Tuy nhiên, phần lớn phụ nữ muốn chồng chia sẻ công việc gia đình với họ khi
họ đi làm (97.7%).
Hiện nay, nhiều xã hội được xây dựng trên cơ sở hệ thống mà ở đó người
đàn ông có nhiều quyền lực về tài chính và chính trị hơn phụ nữ. Những xã hội
này được gọi là “xã hội gia trưởng”. Trong xã hội này, người đàn ông giữ vị trí
thống trị về chính trị, kinh tế và được xem là người đứng đầu, đại diện cho gia
đình. Sức mạnh của nam giới được củng cố bởi niềm tin rằng người đàn ông
luôn mạnh mẽ và có khả năng lãnh đạo hơn là phụ nữ. Điều này đã dẫn đến sự
tiếp cận không bình đẳng của phụ nữ đối với giáo dục, đào tạo các kỹ năng, cơ
hội nghề nghiệp và các nguồn lực tài chính từ đó tiếp tục duy trì thậm chí củng
cố mối quan hệ quyền lực bất bình đẳng giữa đàn ông và phụ nữ. Mục đích của
bạo lực gia đình là phát triển, củng cố quyền lực và sự kiểm soát đối với người
khác.
Những nhận thức sai lầm có thể duy trì bất bình đẳng giới và bạo lực
Về giáo dục, trẻ em chịu ảnh hưởng trực tiếp từ gia đình về việc chúng nhìn
nhận thế nào về vai trò của giới trong gia đình, hành vi bạo lực của cha và sự
chịu đựng của mẹ. Có thể nói rằng, việc chứng kiến cảnh bạo lực trong gia đình
cũng chính là một hình thức bạo lực đối với trẻ em. Điều này gây ra tổn thương
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét