Chủ Nhật, 16 tháng 2, 2014
Tài liệu Đề tài " bán phá giá hàng hoá " ppt
4
Chi phí quản lý hành
chính sản xuất: 10 USD
Chi phí sản xuất : 130USD
Chi phí quản lý và bán hàng: 40 USD
Tổng chi phí 170 USD
Lãi (15%) 30 USD
Giá trị kiến tạo 200 USD
Chú ý: Lãi là ở mức bình thường trên doanh số.
1.2. Khái niệm về bán phá giá hàng hoá
1.2.1. Khái niệm
Theo điều VI của Hiệp định chung về buôn bán và thuế quan (GATT) năm 1947
xác định:
Bán phá giá là hành động mang sản phẩm của một nước sang bán thành hàng hoá ở
một nước khác, với mức giá xuất khẩu thấp hơn giá trị thông thường của sản phẩm
đó khi bán ở trong nước.
Một sản phẩm được coi là bán phá giá khi nó được đưa vào hoạt động thương mại
tại nước nhập khẩu với giá xuất khẩu thấp hơn giá có thể so sánh được trong tiến
trình buôn bán thông thường đối với sản phẩm tương tự khi đưa tới người tiêu dùng
ở trong nước xuất khẩu.
Như vậy, trung tâm của khái niệm bán phá giá là có sự tách biệt về giá, khi giá xuất
khẩu thấp hơn gía trị thông thường của hàng hóa đó ở trong nước xuất khẩu.
5
Bán phá giá hàng hoá không đồng nghĩa với hàng hoá bán rẻ. Một nước có thể xuất
khẩu hàng hoá đó sang nước khác, bán với giá rẻ hơn hàng hoá cùng loại đang bán
trên thị trường nước nhập khẩu, nếu giá bán không thấp hơn gía bán của hàng hoá
đó trên thị trường nước xuất khẩu thì hành động đó không phải là bán phá giá.
Ví dụ về việc bán phá giá hàng hoá như sau:
Một người sản xuất TV lâu năm bán mặt hàng tivi PANASONIC với giá
300USD/chiếc, nếu người đó xuất khẩu TV cùng loại PANASONIC tới nước khác
và bán với giá 230USD /chiếc thì người đó đã thực hiện hành động bán phá giá.
Từ điển Tiếng Việt- do Trung tâm Ngôn ngữ và Văn hóa Việt Nam- Bộ giáo
dục và đào tạo phát hành năm 1999 quy định: “ Bán phá giá là bán với giá thấp
hơn giá chung của thị trường để nhằm cạnh tranh chiếm lĩnh thị trường”.
Theo điều 4 của “Pháp lệnh giá” của nước Cộng hoà xã hội Chủ nghĩa Việt
Nam định nghĩa:
“Bán phá giá là hành vi bán hàng hoá, dịch vụ với giá quá thấp so với giá thông
thường trên thị trường Việt Nam để chiếm lĩnh thị trường , hạn chế cạnh tranh
đúng pháp luật, gây thiệt hại đến lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân sản xuất,
kinh doanh và lợi ích của Nhà nước.”
Với định nghĩa này, Phạm vi điều chỉnh của nó chỉ đặt ra đối với việc chống phá
giá trong quan hệ thương mại tại thị trường nội địa nhưng xét về bản chất không có
gì trái, mâu thuẫn so với những giải thích mang tính chuẩn mực của Từ điển, với
những quy định của GATT, WTO. Nó đã vận dụng và điều chỉnh một cách tương
đối hợp lý vấn để chống bán phá giá trong quan hệ thương mại quốc tế vào quan
hệ thương mại nội địa, phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Khái niệm trên đã làm
sáng tỏ ba nội dung cơ bản để tiến hành các giải pháp chống bán phá giá phải chú
ý, đó là:
6
Thứ nhất: Xác định hành vi (Bán phá giá là hành vi bán hàng hoá, dịch vụ với
giá quá thấp so với giá thông thường…).
Thứ hai: Xác định mục tiêu của hành vi ( …để chiếm lĩnh thị trường, hạn chế
cạnh tranh đúng pháp luật).
Thứ ba: Xác định hệ quả xảy ra của hành vi và việc thực hiện mục tiêu của
hành vi ( Gây thiệt hại đến lợi ích hợp pháp của tổ chức , cá nhân sản xuất kinh
doanh khác và lợi ích Nhà nước).
Một khái niệm với ba nội dung nêu trên có liên quan mật thiết với nhau và nó là
quan hệ nhân quả; nếu cắt bỏ bất kỳ vế nào củakhái niệm trên thì khái niệm sẽ mãi
mãi không thể là một khái niệm hoàn chỉnh.
1.2.2. Điều kiện bán phá giá hàng hoá
Theo điều 23- “Pháp lệnh giá” của Việt Nam ngày 8/5/2002
Các hành vi sau không bị coi là hành vi bán phá giá:
Hạ giá bán hàng tươi sống
Hạ giá bán hàng tồn kho do chất lượng giảm, lạc hậu về hình thức, không phù
hợp với thị hiếu người tiêu dùng.
Hạ giá bán hàng hoá theo mùa vụ
Hạ giá bán hàng hoá để khuyến mại theo quy định của pháp luật
Hạ giá bán hàng hoá trong trường hợp phá sản, giải thể, chấm dứt hoạt động sản
xuất, kinh doanh, thay đổi địa điểm, chuyển hướng sản xuất, kinh doanh.
Điều kiện bán phá giá hàng hoá là phải lũng đoạn được mặt hàng đó ở thị trường
trong nước để tránh nguồn hàng nhập khẩu trở lại.
Có thể nói bán phá giá hàng hoá là một trong những biểu hiện trực tiếp lớn nhất
của sự can thiệp của Nhà nước trong lĩnh vực Ngoại thương, đồng thời là thủ đoạn
quan trọng để mở rộng khả năng tiêu thụ hàng hoá trên thị trường ngoài nước. Đặc
điểm của bán phá giá hiện nay là phần lớn do Nhà nước tiến hành và tổn thất do
Ngân sách Nhà nước gánh chịu.
7
1.3. Mục tiêu của bán phá giá
Mục tiêu của bán phá giá hàng hoá là nhằm đánh bại đối thủ cạnh tranh, chiếm lĩnh
thị trường tiêu thụ, đẩy mạnh xuất khẩu hàng hoá và cuối cùng là đạt được lợi
nhuận tối đa. Nhưng trong đó hai mục tiêu chủ yếu là mục tiêu lợi nhuận và mục
tiêu chính trị.
1.3.1. Mục tiêu chính trị
Bán phá giá là một trong những biểu hiện trực tiếp nhất của sự can thiệp của Nhà
nước Đế quốc trong lĩnh vực ngoại thương. Ngoài mục tiêu chính là mục tiêu lợi
nhuận, mục tiêu chính trị và thao túng các nứơc khác cũng được coi là khá quan
trọng trong hành động bán phá giá. Một số nước thực hiện bán phá gía để thao túng
thị trường.
Đối với các hãng lớn ngoài việc thao túng thị trường còn có thể với mục đích khác
như dành uy tín, hoặc để tăng sức ép với bạn hàng nhập khẩu về mặt nào đó.
Ví dụ: Mỹ đã sẵn sàng bỏ Ngân sách để mua phần lớn số gạo trên thị trường thế
giới rồi bán phá giá, điều này làm cho nhiều nước phải lao đao và phải chịu nhiều
vòng phong toả của Mỹ. Chẳng hạn giá xuất khẩu gạo của Mỹ khoảng
400USD/tấn, thậm chí 800USD/tấn, họ cũng sẵn sàng bán ra thị trường thế giới với
giá chỉ bằng 60%-70%, thậm chí 40% mức giá mua. Mức này thấp hơn nhiều so
với gía thành của nông dân Mỹ sản xuất ra, do đó Mỹ phải trợ giá từ 700- 800 tr
USD/năm để trợ giá xuất khẩu gạo, nhằm thực hiện mục tiêu của mình. Tuy bị
thâm hụt Ngân sách nhưng Mỹ đã thực hiện được mục tiêu chính trị của mình là
thao túng giá gạo trên thế giới, để từ đó buộc các nước phải ràng buộc với mình
trong những điều kiện nhất định.
1.3.2. Mục tiêu lợi nhuận
Thực tế quan sát ở Châu Âu đã chỉ ra rằng, khi mà các hãng cạnh tranh với nhau có
mức chi phí bình quân xấp xỉ như nhau thì họ thường thoả thuận thủ tiêu cạnh
8
tranh, giảm lượng bán và tăng giá bán. Khi tự do cạnh tranh, sau một khoảng thời
gian không dài thị trường không cân bằng, lợi nhuận của các doanh nghiệp giảm
thoả thuận giảm sản lượng xuống tạo ra mức cân bằng mới của thị trường nhưng
vẫn có lợi nhuận cao hơn cạnh tranh ngang.
Còn đối với các nước xuất khẩu, khi thực hiện hành động bán phá gía nhằm mục
tiêu lợi nhuận, nước xuất khẩu phải hạn chế tối đa nhập khẩu, các doanh nghiệp
trong nước thoả thuận với nhau về giá, nâng mức giá trong nước lên. Mặt khác, họ
xuất khẩu với giá triệt tiêu đối thủ. Sau khi chiếm lĩnh thị trường nước nhập khẩu,
họ sẽ tìm cách thao túng để thu lợi nhuận tối đa.
Nguyên nhân của việc tăng lợi nhuận khi bán phá giá:
Các doanh nghiệp trong nước đã thoả thuận với nhau để xác định mức sản lượng
từng hãng và xác định mức giá chung trong nước. Khi đó họ sẽ thu được nhiều lãi
trong việc nâng giá bán.
Tăng được số lượng hàng xuất khẩu do giá rẻ hơn tại nước nhập khẩu , tạo điều
kiện cho các hãng này mở rộng sản xuất, tận dụng được hết công suất, máy móc
thiết bị dẫn đến giảm chi phí, do đó mà bù lỗ cho việc bán phá giá ở nước ngoài.
Khi mọi đối thủ cạnh tranh đã bị đánh bại, họ sẽ lũng đoạn thị trưòng nước nhập
khẩu về mặt hàng được đem bán phá giá và lợi nhuận sẽ lớn hơn gấp nhiều lần.
Một số ví dụ về việc bán phá giá mặt hàng tivi của Nhật tại thị trường Mỹ:
Từ những năm 1960, các công ty điện tử hàng đầu của Nhật Bản là HITACHI,
SANYO, SHARP và TOSHIBA đã cạnh tranh gay gắt với nhau. Nhưng ngày
10/09/1964, họ đã thoả thuận thống nhất nâng giá bán, quy định sản lượng của mỗi
công ty.
Kết quả của việc thoả thuận nâng giá này là người Nhật phải trả giá 700USD cho 1
chiếc tivi màu trong khi ở Mỹ giá là 400USD/chiếc tivi cùng loại. Các công ty của
Mỹ đã không chịu nổi sự cạnh tranh và đến năm 1989, sáu hãng lớn và nhiều hãng
nhỏ của Mỹ bị phá sản, công nghiệp sản xuất bị suy yếu, ngược lại các hãng điện tử
của Nhật đã thu được lợi nhuận lớn qua việc bán phá giá này.
9
1.4. Nguyên nhân của việc bán phá giá
Hành động bán phá giá xảy ra do nhiều nguyên nhân, có thể kể đến những nguyên
nhân chính sau đây:
Do có các khoản tài trợ của Chính phủ hoặc cơ quan công cộng nước ngoài.
Chính sách tài trợ nhằm đạt được hai mục đích chính sau đây:
+ Duy trì và tăng cường mức sản xuất xuất khẩu
+ Duy trì mức sử dụng nhất định với các yếu tố sản xuất như lao động và tiền vốn
trong nền kinh tế. Các khoản tài trợ có thể được cấp cho người sản xuất cũng như
cho người tiêu dùng, nhưng về mặt tác động kinh tế thì chúng đều như nhau và đều
đưa đến những hệ quả kinh tế tương tự.
Các hình thức tài trợ chủ yếu là: trợ cấp, ưu đãi về thuế, tín dụng ưu đãi, sự tham
gia của Chính phủ vào các chi phí kinh doanh cũng như các hỗ trợ xuất khẩu.
Các khoản tài trợ giúp các ngành thực hiện công nghệ mới, trang bị máy và thiết bị
hiện đại, nghĩa là giúp cho các ngành mới gia nhập thị trường và đẩy mạnh phát
triển những ngành công nghiệp mũi nhọn của đất nước, tăng cường xuất khẩu. Do
đó mà chi phí sản xuất giảm xuống dẫn đến việc hạ giá bán.
Do nhập siêu lớn, vẫn phải có ngoại tệ để bù đắp cho thiếu hụt này. Khi đó có
thể áp dụng biện pháp bán phá giá để giải quyết cho vấn đề thiếu hụt ngoại tệ.
Do trong một nước có quá nhiều hàng tồn kho, không thể giải quyết theo cơ chế
giá bình thường.
Bán phá giá được sử dụng như là công cụ cạnh tranh. Sau khi đã chiếm lĩnh được
thị trường nội điạ của nước nhập khẩu, triệt tiêu được sự cạnh tranh của hàng nội
địa thì các hãng sẽ tìm cách thao túng thị trường nội địa để thu được lợi nhuận tối
đa.
Cũng có thể có một số nước làm ra sản phẩm với giá thành rất thấp do sử dụng lao
động trẻ em, tiền lương thấp và sử dụng lao động của tù nhân làm hàng xuất khẩu.
Việc sử dụng lao động trẻ em ngoài việc mang lại siêu lợi nhuận còn là cách để
10
cạnh tranh với đối thủ cạnh tranh. Nhờ giá nhân công rẻ mạc, người ta có thể hạ giá
thành sản phẩm , xuất khẩu hàng hoá bán phá giá ở nước ngoài.
Đối với mặt hàng ngoại nhập khẩu, do thu được lợi nhuận siêu ngạch có được từ
trốn thuế nhập khẩu, hàng ngoại sẽ điều tiết và chiếm lĩnh được thị trường với
giá cạnh tranh so với hàng hoá sản xuất trong nước. Ví dụ: hàng vải trên thị
trường Việt Nam, thực tế hàng vải nội chỉ giữ 20% thị phần còn 80 % thị phần
là hàng vải ngoại nắm giữ, trong đó hàng Trung Quốc chiếm 60% thị phần, phần
lớn số vải từ Trung Quốc là do nhập lậu, trốn thuế nên được bán với giá dù chỉ
bằng 1/3- 1/2 hàng sản xuất trong nước.
1.5. Những ảnh hưởng của việc bán phá giá hàng hoá
Hành động bán phá giá có thể có lợi trong một số trường hợp ,nhưng nếu lạm dụng
quá thì sẽ gây nhiều tác hại đối với nước nhập khẩu cũng như nước xuất khẩu.
1.5.1. Đối với nước xuất khẩu
1.5.1.1. Mặt tích cực
Bán phá giá giúp cho các doanh nghiệp trong nước xuất khẩu mở rộng thị trường
tiêu thụ sản phẩm, tăng thu được ngoại tệ, giúp tiêu thụ được lượng hàng tồn kho,
đặc biệt là các mặt hàng lương thực, thực phẩm, quần áo lỗi mốt Tiêu biểu như ở
Pháp, ngay từ khi mới vào mùa đã có lượng hàng tồn đọng như: thực phẩm sắp hết
thời hạn sử dụng, quần áo , giầy dép hết mốt lên tới 50% số dự trữ bán ra. Hàng
tồn kho này được mang bán với mức giá thấp hơn 30% giá thị trường. Đến cuối
mùa, hàng tồn đọng chỉ còn vài phần trăm lại đựơc bán lại cho những người chuyên
nghiệp với giá bằng 1/10 giá cũ, họ sẽ đẩy số hàng hoá này ra nước ngoài bán phá
giá.
11
Ngoài ra biện pháp bán phá giá còn là công cụ quan trọng trong chính sách Ngoại
thương của đất nước nhằm giúp cho việc thực hiện những mục tiêu cụ thể trong
chiến lược phát triển kinh tế xã hội của nước đó.
1.5.1.2. Mặt tiêu cực
Người tiêu dùng trong nước phải chịu thiệt do phải chịu giá cao hơn so với trước
đây do có sự thoả thuận về giá giữa các doanh nghiệp.
Việc các doanh nghiệp bán phá giá, lượng hàng hoá đó lại được bán cho chính các
doanh nghiệp trong nước mình, do đó lại quay lại lũng đoạn thị trường trong nước.
Do việc bán phá giá nhằm mục đích thu được siêu lợi nhuận nên một vài nước đã
sử dụng lao động trẻ em, phụ nữ, lao động tù nhân với giá rẻ mạt. Hậu quả là người
lao động bị ngược đãi nặng nề. Trung Quốc là một trong những nước tiêu biểu sử
dụng lao động tù nhân.Theo số liệu mới đây của văn phòng Quốc tế về lao động trẻ
em (BIT) thì trên toàn thế giới có trên 250 triệu trẻ em từ 5-14 tuổi đang tham gia
hoạt động kinh tế.
1.5.2. Đối với nước nhập khẩu
1.5.2.1. Tác động tích cực
Người tiêu dùng có cơ hội để lựa chọn , tiêu dùng những mặt hàng mới, lạ giá cả dễ
chấp nhận.
Đối mặt với những mặt hàng từ nước ngoài đưa vào với giá rẻ, buộc các dịch vụ
trong nước phải tìm cách cải tiến mẫu mã hàng hóa, đổi mới máy móc thiết bị, nâng
cao chất lượng sản phẩm, tích cực áp dụng công nghệ tiên tiến, tận dụng nguồn
nhân lực để hạ chi phí sản xuất nhằm giữ vững vị trí trên thị trường và thu được lợi
nhuận tối ưu.
12
1.5.2.2. Tác động tiêu cực
Bán phá giá hàng hoá cũng gây ra không ít những khó khăn cho nước nhập khẩu,
nhất là đỗi với các nước đang phát triển, có thị trường hẹp.
Trước hết với người tiêu dùng của nước nhập khẩu họ phải sử dụng những mặt
hàng kém chất lượng, hàng giả, đôi khi cả hàng quá thời hạn sử dụng, không đảm
bảo về an toàn về an toàn thực phẩm, vệ sinh, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức
khoẻ của người dân.
Các chủ doanh nghiệp, những người kinh doanh do hám lợi, thu được lợi nhuận
cao, do đó tìm mọi cách nhập lậu hàng hoá, trốn thuế gây thất thu cho Ngân sách
Nhà nước. Hơn nữa do không thể cạnh tranh đựơc với hàng nước ngoài nên nhiều
xí nghiệp trong nước bị đình trệ sản xuất, bị phá sản hoàn toàn. Khi đó nó là
nguyên nhân quan trọng gây ra hiện tượng trì trệ, hạn chế tốc độ phát triển nền kinh
tế của nước nhập khẩu.
Về mặt xã hội, việc các xí nghiệp bị đóng cửa sản xuất hoặc ở bên bờ của sự phá
sản hoạt động cầm chừng đã làm cho nhiều công nhân không có việc làm, đời sống
khó khăn, thất nghiệp tăng, kèm theo nó là các tệ nạn xã hội cũng gia tăng gây khó
khăn cho sự phát triển kinh tế xã hội của nước nhập khẩu.
Chương 2: Thực trạng bán phá giá hàng hoá ở Việt Nam
13
2.1. Thực trạng bán phá giá hàng nhập khẩu tại Việt Nam
Việc nước ta tham gia vào ASEAN, APEC và xin gia nhập WTO sẽ dẫn đến việc
xoá bỏ hàng rào thuế quan, hiện tượng bán phá giá hàng hoá nước ngoài chắc chắn
ngày càng tăng trên thị trường nứơc ta. Các hãng nước ngoài tìm đủ mọi phương
sách để chiếm đoạt thị phần, dồn ép các ngành sản xuất Việt Nam vào một góc thị
phần nhỏ hẹp.
Theo kết quả điều tra xã hội học của hội người tiêu dùng Việt Nam tại Hà Nội và
thành phố Hồ Chí Minh cho thấy: các nhóm hàng ôtô, xe máy, rượu bia, thuốc lá
của Mỹ, Nhật, Pháp và các nước châu Âu khác chiếm ưu thế. Với nhóm mặt hàng
gia dụng trước năm 1992 hàng Việt Nam chiếm 62%, hàng Mỹ chiếm 15%m các
nước châu Âu chiếm 14%, và 11% là các nước còn lại thì từ năm 1992 trở lại đây
hàng Trung Quốc đã từng bước chiếm chiếm lĩnh trận địa này. Các mặt hàng như
đồ chơi trẻ em, hàng dân dụng, xe máy, xe đạp, các giống cây trồng, thuốc trừ sâu
của Trung Quốc cũng xâm nhập mạnh vào thị trừơng nước ta trong thời gian gần
đây.
Sự kiện Trung Quốc gia nhập WTO sẽ làm cho Trung Quốc cạnh tranh mạnh hơn
trong những ngành hiện nay. Trung Quốc họ đang có lợi thế so sánh, trong khi đó
những mặt hàng thuộc nhóm A ( những ngành có hàm lượng lao động cao, chủ yếu
là lao động giản đơn như vải vóc, quần áo giầy dép, dụng cụ lữ hành, dụng cụ du
lịch ,) cũng là lĩnh vực mà Việt Nam có lợi thế so sánh. Do đó Việt Nam sẽ phải
gặp nhiều khó khăn hơn trong cuộc cạnh tranh này, còn Trung Quốc sẽ tìm mọi
biện pháp để thực hiện mục tiêu của mình.
Bên cạnh đó, tình trạng buôn lâụ, trốn thuế ở nước ta ngày càng gia tăng và càng
phức tạp hơn. Buôn lậu làm cho hàng ế thừa, hàng kém phẩm chất được bày bán
tràn lan trên thị trường, gây tổn thất nặng nề cho các nhà sản xuất trong nước, gây
thiệt hại về kinh tế và sức khoẻ cho người tiêu dùng.
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét