Thứ Hai, 10 tháng 2, 2014

Tác động của hoạt động xuất nhập khẩu đến môi trường ở Việt Nam

Khoá luận tốt nghiệp Tác động của hoạt động xuất nhập khẩu đến môi
trường
Trần Minh Hoàng - Lớp A14 - K38D - Đại học Ngoại thương
- -
5

Môi trường sống của con người theo chức năng được phân thành các loại:
+Môi trường tự nhiên
: Bao gồm các nhân tố thiên nhiên như vật lý, hoá học,
sinh học, tồn tại ngoài ý muốn của con người, nhưng cũng ít nhiều chịu tác động
của con người. Đó là ánh sáng mặt trời, núi sông, biển cả, không khí, động vật,
thực vật, đất, nước….Môi trường tự nhiên cho ta không khí để thở, đất để xây
dựng nhà cửa, trồng cấy, chăn nuôi, cung cấp cho con người các loại tài nguyên
khoáng sản cần cho sản xuất, tiêu thụ
và là nơi chứa đựng, đồng hoá các chất
thải, cung cấp cho ta cảnh đẹp để giải trí, làm cho cuộc sống của con người thêm
phong phú.
+Môi trường xã hội:
Là tổng thể các quan hệ giữa người với người. Đó là
những luật lệ, thể chế, cam kết, quy định, ước định … ở các cấp khác nhau như
Liên hiệp quốc, Hiệp hội các nước, quốc gia, tỉnh, huyện, cơ quan, làng xã, họ
tộc, gia đình, tổ nhóm, các tổ chức tôn giáo, tổ chức đoàn thể…Môi trường kinh
tế xã hội định hướng các hoạt động của con người theo m
ột khuôn khổ nhất
định, tạo nên sức mạnh tập thể thuận lợi cho sự phát triển, làm cho cuộc sống
của con người khác với sinh vật khác.
+Ngoài ra ta còn phân biệt khái niệm môi trường nhân tạo
, bao gồm tất cả
các nhân tố do con người tạo nên, làm thành những tiện nghi trong cuộc sống
như ô tô, máy bay, nhà ở, công sở, các khu vực đô thị, công viên nhân tạo.
+Môi trường theo nghĩa rộng
là tất cả các nhân tố tự nhiên và xã hội cần thiết
cho sự sống, sản xuất của con người, như tài nguyên thiên nhiên, không khí, đất,
nước, ánh sáng cảnh quan, quan hệ xã hội.
+Môi trường theo nghĩa hẹp
không xét tới tài nguyên thiên nhiên, mà chỉ bao
gồm các nhân tố tự nhiên và xã hội trực tiếp liên quan tới chất lượng cuộc sống
của con người.
Tóm lại, môi trường của một vật thể, hay một sự kiện là tổng hợp các điều
kiện bên ngoài có ảnh hưởng tới vật thể và sự kiện đó. Môi trường là tất cả
những gì có xung quanh ta, cho ta cơ sở để sống và phát triển.
Như
vậy môi trường là một khái niệm tổng hợp, phức tạp, mang tính mở và
phát triển cùng với trình độ phát triển của khoa học công nghệ nói riêng, của nền
kinh tế- xã hội và nhận thức của loài người nói chung. Tuy nhiên, trong phạm vi
của khoá luận này, em chỉ xin trình bày môi trường với khái niệm môi trường
tự nhiên.
2. Thành phần môi trường
Thành phần môi trường là các yếu tố hợp thành môi trường: không khí, nước,
Khoá luận tốt nghiệp Tác động của hoạt động xuất nhập khẩu đến môi
trường
Trần Minh Hoàng - Lớp A14 - K38D - Đại học Ngoại thương
- -
6

đất, âm thanh, ánh sáng, lòng đất, núi, rừng, sông, hồ, biển, sinh vật, các hệ sinh
thái, các khu dân cư, khu sản xuất, khu bảo tồn thiên nhiên, cảnh quan thiên
nhiên, danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử và các hình thái vật chất khác.
Môi trường tự nhiên trên hành tinh hiện nay bao gồm:
- Khí quyển có cấu tạo phức tạp với nhiều tầng lớp khí khác nhau, trong đó
mỗi tầng khí quyển là một hỗn hợp các chất khí có nồng độ và thành phần khác
nhau, có tác động mạnh yếu khác nhau đế
n sự sống của con người.
- Thuỷ quyển bao gồm các tầng nước khác nhau trong các đại dương,
sông ngòi, ao hồ, nước ngầm trong lòng đất, kể cả sự sống trong các đại dương,
sông ngòi đó.
- Địa quyển là lớp vỏ trái đất, bao gồm bề mặt trái đất, cùng với sự sống và
các tài nguyên khoáng sản nằm trong lòng đất.
3. Tính chất môi trường
Với sự phát triển mạnh mẽ của n
ền kinh tế thị trường, môi trường ngày càng
mang đậm tính chất của một dạng hàng hoá công cộng đa dụng, với các đặc
trưng cơ bản là không cạnh tranh và không loại trừ. Nghĩa là với hàng hoá môi
trường thì, một mặt sự tiêu dùng của người này không loại trừ sự tiêu dùng của
người khác ( trừ khi họ phải trả giá rất đắt), và mặt khác, môi trường, với tất cả
những tiện ích của mình, ngày càng tr
ở thành sản phẩm và tài sản chung của
cộng đồng, vì cộng đồng và do cộng đồng cả ở cấp vùng, quốc gia, khu vực và
toàn cầu.
4. Một số khái niệm liên quan đến sự biến đổi môi trường.
+Ô nhiễm môi trường: Nếu nhìn dưới góc độ vật lí thuần tuý thì khái niệm ô
nhiễm môi trường chỉ trình độ của môi trường trong đó những chỉ số hoá lí của
nó bị thay đổi theo chiều h
ướng xấu đi. Theo Luật Bảo vệ môi trường ( khoản 2,
điều 6) thì ô nhiễm môi trường “ là sự làm thay đổi tính chất môi trường, vi
phạm tiêu chuẩn môi trường”.
Như vậy, nếu nhìn môi trường theo góc độ pháp lí thì một hành vi tác động
đến môi trường được coi là gây ô nhiễm môi trường nó phải đạt hai tiêu chí:
- Thay đổi tính chất môi trường
- Vi phạm tiêu chuẩn môi trường
Như vậy, có thể thấy rằng, nếu mộ
t khu vực nhất định nào đó chưa được pháp
luật quy định tiêu chuẩn môi trường thì một hành vi làm thay đổi môi trường
theo hướng xấu đi ở khu vực đó có thể bị coi là hành vi gây ô nhiễm môi trường.
Khoá luận tốt nghiệp Tác động của hoạt động xuất nhập khẩu đến môi
trường
Trần Minh Hoàng - Lớp A14 - K38D - Đại học Ngoại thương
- -
7

Điều này chỉ là nhìn nhận về mặt pháp lí để quy trách nhiệm. Song trên thực tế
có rất nhiều hoạt động gây ô nhiễm môi trường mà chưa vi phạm tiêu chuẩn môi
trường ( ô nhiễm không khí do các phương tiện giao thông) hoặc đã vượt tiêu
chuẩn cho phép rất nhiều mà không quy trách nhiệm cho ai được bởi đó là kết
quả tất yếu của hoạt động sản xuất, sinh hoạt của con người. Giải quyết vấn đề

này chỉ có thể tự giác mỗi người nhìn nhận được tác hại và góp phần giảm bớt
sự gia tăng ô nhiễm.
+ Tiêu chuẩn môi trường: Tiêu chuẩn môi trường là một bộ phận quan trọng
trong hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường, trong hoạt động quản lí môi
trường, tổ chức môi trường vừa được xem là công cụ kĩ thuật, vừa là công cụ
pháp lí giúp Nhà nước quản lí môi trường chỉ
trên cơ sở tiêu chuẩn môi trường,
các cơ quan Nhà nước mới có thể xác định chính xác chất lượng môi trường,
biết được một cách cụ thể thành phần môi trường nào đã bị ô nhiễm hay chưa?Ô
nhiễm đến mức độ nào? Ai là người gây ô nhiễm? Trên cơ sở các tiêu chuẩn môi
trường, Nhà nước mới có thể áp dụng các biện pháp ngăn chặn và khắc phục
tình trạng môi trường bị ô nhiễm và xử lí kị
p thời các vi phạm môi trường.
Theo luật bảo vệ môi trường 1993 ( khoản 7, điều 2) thì “ Tiêu chuẩn môi
trường là những chuẩn mực giới hạn cho phép được quy định dùng làm căn cứ
để quản lí môi trường”.
Những chuẩn mực giới hạn cho phép được hiểu là mức độ hoặc phạm vi chất
ô nhiễm nhất định trong các thành phần môi trường mà Nhà nước thấy có thể
chấp nhận đượ
c vì chưa đến mức gây nguy hiểm cho con người hoặc đã giới hạn
an toàn để bảo vệ sức khoẻ cộng đồng và bảo vệ môi trường trong hiện tại cũng
như trong tương lai.
Tuy nhiên, việc xác định tiêu chuẩn môi trường cũng cần xuất phát từ thực
tiễn của từng nước, chủ yếu là trình độ phát triển kinh tế, trình độ KH và CN để
sao cho các tiêu chuẩn môi trường vừa phả
i đảm bảo chất lượng môi trường, vừa
không vì vậy mà gây trở ngại cho quá trình phát triển kinh tế.
+Chất thải : Là chất được loại ra trong sinh hoạt, trong sản xuất hay trong các
hoạt động khác. Chất thải có thể ở dạng rắn, lỏng, khí hoặc các dạng khác.
+Chất gây ô nhiễm môi trường: Là những nhân tố làm cho môi trường trở
thành độc hại.
+Suy thoái môi trường: Là sự làm thay đổi chất lượng, số lượ
ng của thành
phần môi trường, gây ảnh hưởng xấu tới đời sống của con người và thiên nhiên.
+Sự cố môi trường: Là các tai biến hoặc rủi ro xảy ra trong quá trình hoạt
Khoá luận tốt nghiệp Tác động của hoạt động xuất nhập khẩu đến môi
trường
Trần Minh Hoàng - Lớp A14 - K38D - Đại học Ngoại thương
- -
8

động của con người hoặc thiên nhiên, gây suy thoái môi trường nghiêm trọng.
II.MỐI QUAN HỆ GIỮA THƯƠNG MẠI QUỐCTẾ VÀ MÔI TRƯỜNG
Mối quan hệ giữa thương mại quốc tế và môi trường là một trong những nội
dung cơ bản của mối quan hệ giữa kinh tế và môi trường. Phần lớn thiệt hại môi
trường có nguyên nhân từ sự gia tăng của các hoạt động kinh tế. Thương mại
quốc t
ế đóng một vai trò ngày càng lớn trong sự gia tăng các hoạt động kinh tế
và vì thế là một trong những tác nhân quan trọng của những biến đổi môi
trường.
1. Tính tất yếu khách quan của việc phát triển thương mại quốc tế trên cơ
sở bảo vệ môi trường sinh thái
Tự do hoá thương mại và vấn đề bảo vệ môi trường sinh thái đang trở thành
những vấn đề mang tính toàn cầu. Ngay trong lời nói đầ
u của hiệp định WTO đã
ghi nhận vấn đề bảo vệ môi trường và thúc đẩy sự phát triển bền vững. Sự quan
tâm về môi trường cũng được nhắc lại trong nhiều hiệp định mà WTO giám sát,
như các hiệp định về hàng rào kĩ thuật trong thương mại, nông nghiệp, trợ cấp,
các quyền sở hữu trí tuệ và dịch vụ.
Việc phát triển thương mại tự do trên cơ
sở bảo vệ môi trường không còn là
vấn đề của một quốc gia mà là vấn đề của cả thế giới, là xu thế, kết quả tất yếu
của quá trình phát triển kinh tế của mỗi nước, khi mà các yếu tố, các nguồn dự
trữ cho phát triển kinh tế đang ngày càng cạn kiệt, bị lãng phí vì ô nhiễm trầm
trọng, cũng như trước sức ép về sự gia tăng dân số trên toàn th
ế giới.
Trong phạm vi, khuôn khổ của một quốc gia, tính tất yếu của việc phát triển
thương mại quốc tế trên cơ sở bảo vệ môi trường sinh thái là do:
Thứ nhất, do yêu cầu giải quyết mâu thuẫn giữa lợi ích trước mắt và lâu
dài, giữa lợi ích cục bộ và tổng thể trong quá trình phát triển kinh tế.
Giữa kinh tế và môi trường có mối quan hệ trực tiếp và chặt chẽ. M
ặc dù tình
trạng liên quan đến ô nhiễm từ các ngành công nghiệp và ô nhiễm không khí ở
một số nước, nhất là những nước kém phát triển, chưa phải là ở mức cao, song
hiện nay, những vấn đề môi trường nghiêm trọng như nạn phá rừng, nạn xói
mòn và thoái hoá đất, việc huỷ hoại cân bằng sinh thái ở một số tiểu vùng, sự
mất dần các nguồn gen,v.v… đang là những vấn đề cấp bách có ảnh h
ưởng lâu
dài tới sự phát triển lâu bền. Cải cách kinh tế làm cho các hoạt động khai thác tài
nguyên và môi trường trở nên mãnh liệt hơn. Cải cách kinh tế, nếu không có thể
chế thích hợp, thì nạn ô nhiễm môi trường do công nghiệp, trước hết ở các trung
tâm công nghiệp khai khoáng, ở các đô thị, ở các vùng thu hút đầu tư nước
Khoá luận tốt nghiệp Tác động của hoạt động xuất nhập khẩu đến môi
trường
Trần Minh Hoàng - Lớp A14 - K38D - Đại học Ngoại thương
- -
9

ngoài, sẽ trở thành hiện thực.
Như vậy, vấn đề đặt ra là: không được phép vì mục đích tăng trưởng kinh tế
mà huỷ hoại, tàn phá môi trường, không thể vì lợi ích trước mắt mà để lại gánh
nặng và hậu quả cho những thế hệ mai sau.
Thương mại quốc tế tạo điều kiện cho các quốc gia tăng trưởng kinh tế,
nhưng tăng trưởng kinh tế lại có thể
gây ảnh hưởng xấu đến môi trường sinh thái
trên các khía cạnh sau: một là khai thác quá mức dự trữ tài nguyên làm mất cân
bằng sinh thái; hai là, do tăng trưởng kinh tế, các chất thải công nghiệp làm huỷ
hoại môi trường ngày càng cao ( chất thải phóng xạ, chất thải công nghiệp hoá
dầu…); ba là, việc nhập máy móc, trang thiết bị cũ từ nước ngoài vào biến các
nước nhập khẩu trở thành bãi thải công nghiệp của các nước phát triển, thương
mại thì thu
được lợi nhuận, song nền kinh tế thì suy tàn do công nghiệp lạc hậu,
môi trường sinh thái bị ô nhiễm.
Tuy nhiên, thương mại quốc tế không phải là lý do duy nhất làm suy thoái
môi trường sinh thái, mà còn có nhiều nguyên nhân khác nằm trong chính sách
phát triển kinh tế các nước khi lựa chọn cơ cấu kinh tế. Điều này có thể thấy rõ ở
các nước chậm phát triển như các nước châu Phi, với nền kinh tế lạc hậu, thương
mại không phát triển, nạn nghèo đ
ói đã và đang trở thành kinh niên mà môi
trường vẫn bị phá hoại ở mức báo động. Điều này có thể giải thích nguyên nhân
gây ra sự huỷ hoại môi trường sinh thái ở những nước này là để đáp ứng nhu cầu
tiêu dùng cá nhân chứ không phải cho đầu tư phát triển kinh tế, giải quyết lợi ích
trước mắt mà ảnh hưởng đến lợi ích lâu dài.
Tóm lại, môi trường sinh thái là giá đỡ của sự sống, bao hàm các yếu tố
về
tiềm năng phát triển kinh tế mà xét cho đến cùng, tất cả mọi hoạt động kinh tế
đều phụ thuộc vào đó. Vì vậy, bảo vệ môi trường sinh thái cũng tức là bảo vệ
các yếu tố tiềm năng cho phát triển, phân phối một cách có hiệu quả nguồn dự
trữ tài nguyên cho các ngành kinh tế, cho giai đoạn trước mắt và giai đoạn lâu
dài theo hướng phát triển bền vững. Trong mối quan h
ệ giữa thương mại quốc tế
và bảo vệ môi trường thì chúng vừa là định chế vừa có sự tương tác hỗ trợ lẫn
nhau.
Thứ hai, thực hiện chiến lược con người và phát huy yếu tố con người
trong mối quan hệ giữa thương mại quốc tế và môi trường
Thương mại quốc tế tạo điều kiện cho các quốc gia mở rộng thị trường, kinh
doanh có hiệu quả, phát triển mối quan hệ hợp tác và cạnh tranh trên thị trường
quốc tế, giúp cho con người mở rộng tầm nhìn ra bên ngoài, nâng cao tri thức.
Khoá luận tốt nghiệp Tác động của hoạt động xuất nhập khẩu đến môi
trường
Trần Minh Hoàng - Lớp A14 - K38D - Đại học Ngoại thương
- -
10

Đồng thời thương mại quốc tế cũng có nghĩa là thị trường hoá các mối quan hệ
kinh tế lẫn các mối quan hệ phi kinh tế cả về chiều rộng lẫn chiều sâu. Trong
hoạt động kinh tế nói chung và hoạt động thương mại quốc tế nói riêng, con
người bao giờ cũng là chủ thể, là người tiến hành các hoạt động sản xuất kinh
doanh, cũng là người ban hành các luật lệ, chính sách và lại là ngườ
i thực hiện
các luật lệ chính sách, thúc đẩy các hoạt động tăng trưởng, gìn giữ cảnh quan,
môi trường sinh thái. Vì vậy, bảo vệ môi trường sinh thái và việc thực thi chiến
lược con người có mối quan hệ hữu cơ với nhau. Trong mối quan hệ đó, một
mặt con người được sinh tồn trên các điều kiện của môi trường như không khí,
nước, thức ăn…, mặt khác do việc sử dụng, khai thác (nhiề
u khi là khai thác quá
mức) nguồn tài nguyên thiên nhiên, con người đã phá vỡ sự cân bằng sinh thái,
làm suy giảm, cạn kiệt các nguồn tài nguyên, gây ô nhiễm môi trường. Như vậy,
để duy trì và phát triển sự sống của chính mình, con người không thể không thực
thi các biện pháp giữ gìn và bảo vệ môi trường.
Bảo vệ môi trường sinh thái là một tất yếu khách quan trong quá trình tự do
hoá thương mại nhằm thực thi chiến lược con người và phát triển đất nước một
cách bền v
ững.
Khi con người là một yếu tố cấu thành của hệ môi trường sinh thái cần được
chăm lo, phát triển một cách hài hoà với các nguồn dự trữ tài nguyên như quỹ
đất đai ( đất ở và đất sản xuất lương thực, thực phẩm), nguồn nước ( nước sinh
hoạt, nước tưới tiêu…) thậm chí ngay cả các chất thải do con người thải vào môi
trường trong quá trình sản xuất, tiêu dùng của mình cũng cầ
n phải hài hoà với
sức chứa có thể chấp nhận của môi trường.
Hiện nay, chúng ta đang đứng trước tình hình là nhu cầu của con người tăng
lên nhưng nguồn tài nguyên có giới hạn. Sự quá tải của hành tinh sẽ không chịu
đựng được nhịp điệu tăng dân số, thêm 90 triệu người mỗi năm và trong 50 năm
nữa sẽ tăng gấp đôi số lượng người hiện nay, 12 tỷ ng
ười. Cuộc khủng hoảng
sinh thái không chỉ làm suy thoái môi trường tự nhiên mà còn đẩy mạnh suy sụp
kinh tế, phá vỡ hoà hợp xã hội. Cơn stress sinh thái gây ra các cuộc ở Xômali,
Haity hay Ruanđa là một chứng cứ. Bệnh dịch sinh thái sẽ xuất hiện với những
bệnh ung thư mới, với những suy thoái hệ thống, suy thoái khu vực, với một số
khu vực rộng lớn trên trái đất không thể sống được, hoang mạc rộng ra, v
ới sự
biến mất các động vật thực vật cần cho sự sống con người, với sự rối loạn khí
hậu quả đất. Khu vực thiếu lương thực sẽ tăng lên, sản xuất giảm, giá cả lương
thực , thực phẩm thì tăng vô độ.
Khoá luận tốt nghiệp Tác động của hoạt động xuất nhập khẩu đến môi
trường
Trần Minh Hoàng - Lớp A14 - K38D - Đại học Ngoại thương
- -
11

Sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá là do con người thực hiện. Như
vậy, cần phải có chính sách và chiến lược con người đúng đắn. Con người khi
tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh cần tuân thủ luật pháp( trong đó có luật
bảo vệ môi trường). Nhà nước với tư cách là chủ thể quản lí nền kinh tế, khi ban
hành chính sách, luật pháp phải đảm bảo quyền tự do kinh doanh của mỗi người,
đảm bảo tăng trưởng và phát triển kinh tế, và giữ gìn môi trường sinh thái. Con
người phải được bồi dưỡng và nâng cao trình độ toàn diện về mọi mặt để tiến
hành sản xuất, kinh doanh trong điều kiện tự do cạnh tranh.
Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng. Sự nghiệp cải cách kinh tế theo
hướng thị trường cũng là sự nghiệp của con người. Cải cách thành công nhanh
hay chậm tuỳ thuộc r
ất nhiều vào khả năng cải tạo con người, bao gồm con
người với tư cách là chủ thể quản lí. Ngược lại, sự tăng năng suất lao động sẽ
làm cho các nhà đầu tư quan tâm đến chiến lược phát triển dài hạn nhằm đạt
được phần lợi nhuận lớn hơn trong thương mại quốc tế.
Thứ ba, hoà nhập nền kinh tế của mỗi nước vào khu vực và trên th
ế giới
thông qua hoạt động xuất nhập khẩu, đầu tư liên doanh, liên kết kinh tế
thương mại và hợp tác quốc tế
Chúng ta đang sống trong một thời đại mà các quan hệ kinh tế quốc tế đã phát
triển tới mức không một quốc gia nào dù thuộc hệ thống kinh tế xã hội nào có
thể vẫn tồn tại hoặc phát triển mà không chịu sự tác động qua lại của các mối
quan hệ này.
Về phương diện kinh tế, thế giới hôm nay đang tiến tới khuôn khổ toàn cầu.
Do sự phát triển khoa học công nghệ và lực lượng sản xuất trên quy mô thế giới,
toàn cầu hoá và khu vực hoá đã trở thành xu thế tất yếu thúc đẩy hầu hết các
quốc gia thực hiện chính sách kinh tế mở bằng cách giảm bớt, thậm chí xoá bỏ
hàng rào thuế quan và phi quan thuế; chuyển dịch một cách thông thoáng hàng
hoá, v
ốn đầu tư, tiền tệ, dịch vụ lao động giữa các quốc gia với quy mô ngày
càng lớn, hình thành các tổ chức kinh tế – tài chính mang tính toàn cầu và khu
vực, kí kết hàng loạt các hiệp định song phương và đa phương, công ước kinh tế
quốc tế, phát triển củng cố các tập đoàn xuyên quốc gia. Muốn tận dụng được
công nghệ, tiền vốn và thị trường để phát triển kinh tế, các nước phải tích cự
c và
chủ động mở cửa. Tuy nhiên, để giữ vững chủ quyền bảo đảm sự phát triển
nhanh của mỗi quốc gia phải có những đối sách hợp lí trong việc hợp tác song
phương và đa phương trên cơ sở giữ vững độc lập chủ quyền, trong đó bao hàm
cả các yếu tố về tài nguyên thiên nhiên và môi trường sinh thái.
Khoá luận tốt nghiệp Tác động của hoạt động xuất nhập khẩu đến môi
trường
Trần Minh Hoàng - Lớp A14 - K38D - Đại học Ngoại thương
- -
12

2. Bản chất của mối quan hệ giữa thương mại quốc tế và môi trường
Thương mại quốc tế và môi trường có mối quan hệ nhân quả. Trước hết, môi
trường phải là giá đỡ của cuộc sống, chính vì vậy mọi hoạt động kinh tế , thương
mại đều phải dựa trên nền tảng của môi trường. Môi trường cung cấp mọi thứ
nguyên liệu đầu vào như kim lo
ại, sản phẩm rừng, thuỷ sản… cũng như năng
lượng cho quá trình chế biến. Môi trường cũng đồng thời là nơi tiếp nhận chất
thải của các hoạt động thương mại. Thứ hai, các hoạt động thương mại cũng
chịu những tác động mạnh mẽ của các yếu tố môi trường. Những biện pháp và
chính sách môi trường có thể tác động tích cực hoặc tiêu cự
c đối với thương mại
tự do, thúc đẩy hoặc là tạo ra rào cản đối với thương mại.
Thương mại quốc tế ảnh hưởng đến môi trường, trước hết bởi tính chất của
hoạt động này. Thương mại là hoạt động trao đổi, mua bán, là khâu trung gian
giữa sản xuất và tiêu dùng, do vậy, vừa là nguyên nhân lây lan ô nhiễm vừa có
thể phổ biến một cách nhanh nhất những sản phẩ
m và công nghệ thân thiện với
môi trường.
Ảnh hưởng tiếp theo của thương mại quốc tế đối với môi trường là bởi tính
quy mô của nó. Thương mại quốc tế ngày nay mang tính toàn cầu. Do đặc tính
này mà thương mại quốc tế có thể mở rộng quy mô của sản xuất thông qua sử
dụng các phương pháp sản xuất ngày càng hiệu quả, sản xuất nhiều hàng hoá
hơn trên cùng một đơn vị lao độ
ng , tài nguyên và công nghệ. Như vậy, thương
mại quốc tế góp phần làm tăng hiệu quả sản xuất, tiết kiệm và sử dụng hiệu quả
tài nguyên thiên nhiên. Tăng quy mô thương mại cũng làm tăng nhu cầu bảo vệ
môi trường sống của con người. Tuy nhiên , sự gia tăng quy mô sản xuất do tác
động của thương mại quốc tế cũng có thể gây ảnh hưởng xấu đến môi trường.
M
ột mặt, hoạt động này làm tăng các yếu tố đầu vào, khuyến khích khai thác và
sử dụng ngày càng nhiều các nguồn tài nguyên, đặc biệt là ở các nước đang phát
triển. Mặt khác, quy mô thương mại và sản xuất gia tăng sẽ làm tăng chất thải ô
nhiễm từ hoạt động sản xuất và tiêu dùng. Điều này có thể thấy rất rõ về tình
trạng rác thải và chất phát thải gây hiệu ứng nhà kính ở các nướ
c phát triển.
Một khía cạnh tác động khác của thương mại quốc tế đối với môi trường là
tính chất cơ cấu của nó. Thương mại quốc tế có thể tạo ra thay đổi cơ cấu sản
xuất của một nước theo nguyên tắc lợi thế so sánh , tức là , tập trung sản xuất
những mặt hàng có lợi thế để trao đổi lấy những hàng hoá khác. Nếu cơ cấu s
ản
xuất chuyển sang những hàng hoá ít tổn hại đến môi trường hơn, khi đó thương
mại quốc tế có tác dụng tốt đối với môi trường. Tuy nhiên, nếu một nước có khả
năng cạnh tranh tốt đối với những sản phẩm dựa trên các nguồn tài
Khoá luận tốt nghiệp Tác động của hoạt động xuất nhập khẩu đến môi
trường
Trần Minh Hoàng - Lớp A14 - K38D - Đại học Ngoại thương
- -
13

nguyên thiên nhiên hoặc những hàng hoá mà khi sản xuất chúng có khả năng ô
nhiễm cao thì thương mại quốc tế lại làm cho nước đó bị gia tăng ô nhiễm môi
trường, gây cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên.
Tóm lại, thương mại quốc tế và môi trường có môí quan hệ chặt chẽ với nhau.
Phát triển thương mại quốc tế sẽ tạo ra động lực để phát triển kinh tế, nâng cao
đời sống và nhận thức của m
ỗi người về môi trường cũng như làm tăng chi phí
bảo vệ môi trường. Ngược lại, môi trường với vai trò là giá đỡ của cuộc sống,
bảo vệ môi trường, hạn chế khai thác quá mức, bảo tồn và phát triển các nguồn
tài nguyên không tái tạo là cơ sở để phát triển kinh tế, thương mại và thương
mại quốc tế một cách bền vững. Mặt khác, thương mại quốc tế có thể
làm tổn
hại đến môi trường, làm lây lan ô nhiễm, sử dụng lãng phí và kém hiệu quả tài
nguyên thiên nhiên, tăng chất thải độc hại. Các biện pháp và công cụ môi trường
cũng có thể tạo ra rào cản hạn chế thương mại , bóp méo giá cả, tạo bất bình
đẳng trong thương mại quốc tế. Để giải quyết hài hoà mối quan hệ giữa thương
mại quốc tế và môi trường, mục tiêu phát triển thương mại và m
ục tiêu bảo vệ
môi trường phải đứng trên quan điểm phát triển bền vững. Phát triển bền vững là
dung hoà giữa việc bảo vệ môi trường và tăng trưởng kinh tế. Phát triển bền
vững là mục tiêu chung nhất không chỉ riêng cho thương mại quốc tế và môi
trường mà đối với tất cả các lĩnh vực hoạt động khác của nhân loại. Một môi
trường tự nhiên bền vững là n
ền tảng cho sự phát triển bền vững, trong đó có
phát triển thương mại quốc tế.
III. CÁC QUY ĐỊNH VỀ MÔI TRƯỜNG TRONG THƯƠNG MẠI
QUỐC TẾ
1. Quy định về môi trường của tổ chức thương mại quốc tế WTO
WTO là một tổ chức quốc tế nghiên cứu các điều lệ buôn bán quốc tế. Mục
đích của nó là tạo điều kiện thuận l
ợi cho mậu dịch giữa các nước bằng cách đề
ra các điều kiện cạnh tranh tốt và bình đẳng. Để đạt được mục tiêu này, WTO
khuyến khích các nước tham gia vào các cuộc thương lượng về việc cắt giảm
thuế quan, dỡ bỏ các hàng rào thương mại và yêu cầu các nước áp dụng các quy
định chung về thương mại hàng hoá và thương mại dịch vụ.
Thương mại quốc tế và môi trường là một trong nhữ
ng vấn đề đáng quan tâm
trên toàn cầu. Mối quan hệ giữa thương mại quốc tế và bảo vệ môi trường đã
được đặt ra từ đầu những năm 1970 ở các cấp độ khác nhau. Tháng 11/ 1971,
các đại diện hội đồng GATT thoả thuận thành lập một tổ chức chuyên trách về
các biện pháp môi trường và thương mại quốc tế ( còn gọi là tổ chức EMIT).
Khoá luận tốt nghiệp Tác động của hoạt động xuất nhập khẩu đến môi
trường
Trần Minh Hoàng - Lớp A14 - K38D - Đại học Ngoại thương
- -
14

Năm 1972, Hội nghị Stockholm 1972 về môi trường và nhân loại được tổ chức.
Trong thời gian chuẩn bị hội nghị , Tổng thư kí của GATT đã đưa ra một bản
nghiên cứu với tựa đề Kiểm soát ô nhiễm công nghiệp và thương mại quốc tế.
Mãi đến năm 1991, tổ chức EMIT mới có cuộc họp đầu tiên, đưa ra một bản
dự thảo để phục vụ H
ội nghị LHQ 1992 về môi trường và phát triển. Năm 1992,
UNCED đã tổ chức một cuộc hội nghị lớn hay còn được biết đến bởi tên ‘ đỉnh
cao của thế giới’, thông qua ‘ chương trình nghị sự 21’, chỉ ra tầm quan trọng
của việc thúc đẩy sự phát triển bền vững , thông qua một số biện pháp trong đó
có thương mại quốc tế.
Tháng 4 năm 1994, khi kết thúc vòng đàm phán Urguay, một quyết
định cấp
bộ trưởng về thương mại và môi trường đã được thông qua. Một Uỷ ban về
thương mại và môi trường (CTE) thuộc khuôn khổ WTO đã được thành lập.
CTE tiếp quản công việc từ nhóm EMIT.
WTO không phải là một tổ chức bảo vệ môi trường, phạm vi thẩm quyền của
tổ chức này chỉ liên quan đến các chính sách về môi trường được giới hạn bởi
chính sách về thươ
ng mại và có thể dẫn đến những ảnh hưởng quan trọng đối
với thương mại. Các thoả thuận GATT/ WTO đã tạo cơ hội cho những chính
sách về bảo vệ môi trường quốc gia nhưng với điều kiện là không được phân
biệt đối xử; những cơ hội tiếp cận thị trường là yếu tố cần thiết để bảo đảm giúp
các nước
đang phát triển phát triển bền vững. Về tăng cường sự hợp tác giữa các
quốc gia như là sự hợp tác đa phương cần thiết để đưa ra những vấn đề về gắn
thương mại với môi trường một cách tương xứng.
Một số điều khoản của GATT có liên quan trực tiếp tới các vấn đề gắn thương
mại với môi trườ
ng bao gồm điều I và III của GATT về sự không phân biệt đối
xử, cũng như các mục cụ thể của điều XX (GATT) về những ngoại lệ chung.
Tất cả các điều khoản GATT/ WTO liên quan đến các vấn đề gắn thương mại và
môi trường được trình bày dưới đây:
(1) Sự không phân biệt đối xử:

Quy tắc về sự phân biệt đối xử có hai phần: Quy chế tối huệ quốc( MFN) có
trong điều I và chính sách đãi ngộ quốc gia(NT) có ở trong điều III của GATT.
Theo điều I của GATT, các thành viên WTO nhất định phải dành các ưu đãi như
nhau đối với các sản phẩm như nhau được sản xuất từ các nước khác. Do đó,
không một nước nào có thể ban những đặc lợi về kinh doanh cho mộ
t nước khác
hoặc phân biệt đối xử. Tất cả các thành viên đều có điạ vị ngang bằng và những
lợi nhuận sẽ được lần lượt phân chia theo các hàng rào thương mại thấp hơn.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét