Thứ Tư, 12 tháng 2, 2014

Một số biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động SXKD của Cty Xây lắp Vật tư kỹ thuật

- Theo nghĩa tổng quát thì hiệu quả kinh tế là phạm trù phản ánh trình độ quản
lý, đảm bảo thực hiện có kết qủa cao về nhiệm vụ kinh tế xã hội đặt ra với chi phí
nhỏ nhất.
- Phạm trù kinh tế đợc hiểu trên hai góc độ đó là địng tính và định lợng.
+ Về định lợng: Hiệu quả kinh tế của việc thực hiện mỗi nhiệm vụ kinh tế xã
hội biểu hiện mối tơng quan giữa kết quả thu đợc với chi phí bỏ ra. Nếu xét tổng
hợp thì ngời ta chỉ thu lại đợc hiệu quả kinh tế khi kết quả thu về lớn hơn chi phí
bỏ ra, chênh lệch càng lớn thì hiệu quả càng cao.
+ Về mặt định tính: Mức độ hiệu quả kinh tế thu đợc phản ánh trình độ năng
lực quản lý sản xuất kinh doanh.
Hai mặt định tính và định lợng của hiệu quả kinh doanh không đợc tách rời
nhau.
- Hiệu quả kinh tế không đồng nhất với kết quả kinh tế. Kết quả kinh tế là
phạm trù so sánh, thể hiện mối quan tâm giữa cái bỏ ra và cái thu về. Kết quả chỉ
là yếu tố cần thiết để phân tích đánh giá hiệu quả tự bản thân mình, kết quả cha
thể hiện đợc nó tạo ra ở mức độ nào và chi phí nào, có nghĩa riêng kết quả cha thể
hiện đợc chất lợng tạo ra nó.
Bản chất hiệu quả kinh tế là thể hiện mục tiêu phát triển kinh tế và các hoạt
động sản xuất kinh doanh , tức là thoả mãn tốt hơn nhu cầu của thị trờng. Vì vậy
nói đến hiệu quả là nói đến mức độ thoả mãn nhu cầu với việc lựa chọn và sử
dụng các nguồn lực có giới hạn tức là nói đến kết quả kinh tế trong việc thoả mãn
nhu cầu.
Tóm lại: Vấn đề nâng cao hiệu quả kinh tế của sản xuất xã hội và toàn bộ hoạt
động sản xuất kinh doanh khác là một yêu cầu cơ bản nhất của mục tiêu phát
triển.
* Phân loại hiệu quả:
Hiệu quả là một phạm trù lớn mang tính tổng hợp vì vậy trong việc tiếp cận,
phân tích và đánh giá chỉ tiêu này cần nhận thức rõ về tính đa dạng các chỉ tiêu
hiệu quả và phân loại các chỉ tiêu hiệu quả theo các căn cứ sau:

- 5 -
- Căn cứ vào nội dung và tính chất của các kết quả nhằm đáp ứng nhu cầu đa
dạng của mục tiêu, ngời ta phân biệt hiệu quả kinh tế và các loại hiệu quả khác.
+ Các loại hiệu quả khác nhau: Hiệu quả xã hội về cải thiện điều kiện làm
việc, đời sống, bảo vệ môi trờng cho đến các mặt về chính trị, an ninh, quốc
phòng
Nói chung vai trò xã hội ngày càng tăng nhng hiệu quả kinh tế có vai trò
quyết định nhất, nó chi phối và là tiền đề để thực hiện các yêu cầu xã hội khác.
+ Hiệu quả kinh tế: là mối quan hệ giữa kết quả sản xuất kinh doanh và kinh
tế đạt đợc so sánh với chi phí bỏ ra trong việc sử dụng các nguồn lực. Hiệu quả
kinh tế là tác dụng của ngời lao động xã hội đạt đợc trong quả trình sản xuất và
kinh doanh cũng nh quá trình tái tạo sản xuất xã hội trong việc tạo ra của cải vật
chất và các dịch vụ.
- Căn cứ theo yêu cầu tổ chức xã hội và tổ chức quản lý kinh tế của các cấp
quản lý trong nền kinh tế quốc dân: Phân loại hiệu quả theo cấp hiệu quả của
ngành nghề, tiềm lực và theo những đơn vị kinh tế bao gồm:
+ Hiệu quả kinh tế quốc dân , hiệu quả kinh tế vùng (Địa phơng)
+ Hiệu quả kinh tế sản xuất xã hội khác.
+ Hiệu quả kinh tế khu vực phi sản xuất (Giáo dục, y tế )
+ Hiệu quả kinh tế Doanh nghiệp (Đợc quan tâm nhất)
4. Các phơng pháp phân tích hiệu quả :
a) Phơng pháp so sánh: là phơng pháp lâu đời nhất và áp dụng rộng rãi nhất. So
sánh trong phần kinh tế là đối chiếu các chỉ tiêu, các hiện tợng kinh tế đã đợc l-
ợng hoá có cùng một nội dung, một tính chất tơng tự nhau.
Phơng pháp so sánh có nhiều dạng:
- So sánh các số liệu thực hiện với các số liệu định mức hay kế hoạch
- So sánh số liệu thực tế giữa các kỳ, các năm
- So sánh số liệu thực hiện với các thông số kỹ thuật kinh tế trung bình
hoặc tiên tiến.
- So sánh số liệu của xí nghiệp mình với các số kiệu của các xí nghiệp tơng
ứng hoặc với các đối thủ cạnh tranh.

- 6 -
- So sánh các thông số kỹ thuật kinh tế của các phơng án kinh tế khác
Ưu điểm lớn nhất của phơng pháp so sánh là cho phép tách ra đợc những nét
chung, nét riêng của các hiện tợng đợc so sánh, trên cơ sở đó đánh giá đợc các
mặt phát triển, hay kém phát triển, hiệu quả hay kém hiệu quả để tìm ra giải pháp
quản lý tốt nhất và tối u nhất trong mỗi trờng hợp cụ thể.
Đòi hỏi có tính nguyên tắc khi áp dụng phơng pháp so sánh là:
* Các chỉ tiêu hay các kết quả tính toán phải tơng dơng nhau về nội dung phản
ánh và cách xác định.
* Trong phân tích so sánh có thể so sánh tuyệt đối, số tơng đối và số bình quân.
Số tuyệt đối là số tập hợp trực tiếp từ các yếu tố cấu thành hiện tợng kinh tế đ-
ợc phản ánh.
Ví dụ: Tổng sản lợng, tổng chi phí lu thông, tổng lợi nhuận
Phân tích bằng số tuyệt đối cho thấy khối lợng và quy mô của hiện tợng kinh
tế. Các số tuyệt đối đợc so sánh phải có cùng một nội dung phản ánh, cách tính
toán xác định, phạm vi, kết cấu và đơn vị do lờng của hiện tợng. Vì thế dung lợng
ứng dụng tuyệt đối trong phân tích so sánh nằm trong một khuôn khổ nhất định.
Số tơng đối là số biểu thị dới dạng số phần trăm tỉ lệ hoặc hệ số. Sử dụng số t-
ơng đối có thể đánh giá đợc sự thay đổi kết cấu các hiệ tợng kinh tế đặc biệt cho
phép liên kết các chỉ tiêu không tơng đơng để phân tích so sánh. Chẳng hạn thiết
lập mối quan hệ giữa hai chỉ tiêu khối lợng hàng hoá tiêu thụ và lợi nhuận đẻ suy
diễn, nếu tăng khối lợng hàng hoá lên 1% thì có thể tăng tổng lợi nhuận lên1%.
Tuy nhiên số tơng đối không phản ánh đợc chất lợng bên trong cũng nh quy mô
của hiện tợng kinh tế. Bởi vậy trong nhiều trơng hợp, khi so sánh cần kết hợp
đồng thời cả số tuyệt đối lẫn số tơng đối.
Số bình quân là số phản ánh mặt trung nhất của hiện tợng, bỏ qua sự phát triển
không đồng đều của các bộ phận cấu thành hiện tợng kinh tế. Số bình quân có thể
biểu thị dới dạng số tuyệt đối (năng suất lao động bình quân. Vốn lu động bình
quân ). Cũng có thể biểu thị dới dạng số tơng đối (tỷ suất phí bình quân, tỷ suất
doanh lợi ). Sử dụng số bình quân cho phép nhận định tổng quát về hoạt động
kinh tế của doanh nghiệp, xây dựng các định mức kinh tế - kỹ thuật

- 7 -
Tuy nhiên vẫn lu ý rằng số lợng mã số bình quân phản ánh không tồn tại
trong thực tế. Bởi vậy khi sử dụng nó cần tính tới cả các khoảng dao động tối đa.
b) Phơng pháp thay thế liên hoàn :
Thay thế liên hoàn là thay thế lần lợt số liệu gốc hoặc số liệu kế hoạch bằng số
liệu thực tế của nhân tố ảnh hởng tới một chỉ tiêu kinh tế đợc phân tích theo đúng
logic quan hệ giữa các nhân tố. Phơng pháp thay thế liên hoàn có thể áp dụng đợc
khi mối quan hệ giữa các chỉ tiêu và giữa các nhân tố, các hiện tợng kinh tế có
thể biểu thị bằng một hàm số. Thay thế liên hoàn thờng đợc sử dụng để tính toán
mức ảnh hởng của các nhân tố tác động cùng một chỉ tiêu đợc phân tích. Trong
phơng pháp này, nhân tố thay thế là nhân tố đợc tính mức ảnh hởng, còn các nhân
tố khác giữ nguyên, lúc đó so sánh mức chênh lệch hàm số giữa cái trớc nó và cái
đã đợc thay thế sẽ tính đợc mức ảnh hởng của nhân tố đợc thay thế.
Giả sử chỉ tiêu A có mối quan hệ với 2 nhân tố, và mối quan hệ đó có thể biểu
thị dới dạng hàm số :
A = f (X, Y)
và Ao = f (Xo, Yo)
A1 = f (X1, Y1)
Để tính toán ảnh hởng của các nhân tố X và Y, tới chỉ tiêu A. Thay thế lần lợt
X, Y. Lúc đó, giả sử thay thế nhân tố X trớc Y ta có :
- Mức ảnh hởng của nhân tố X đến chỉ tiêu A :
* x = f (X1, Yo) - f (Xo, Yo)
- Mức ảnh hởng của nhân tố Y đến chỉ tiêu A :
* y = F (X1, Y1) - f (X1, Yo)
Có thể nhận thấy, bằng cách tơng tự trên, nếu ta thay thế nhân tố Y trớc, nhân
tố X sau, ta có :
* y = f (Xo, Y1) - f (Xo, Yo)
* x = f (X1, Y1) - f (Xo, Y1)

- 8 -
Nh vậy, khi trình tự thay thế khác nhau, có thể thu đợc các kết quả khác nhau
về mức ảnh hởng của cùng một nhân tố tới cùng một chỉ tiêu. Đây là nhợc điểm
nổi bật của phơng pháp này.
Xác định trình tự thay thế liên hoàn hợp lý là một yêu cầu khi sử dụng phơng
pháp này. Trật tự thay thế liên hoàn trong các tài liệu thờng đợc qui định nh sau :
- Nhân tố khối lợng thay thế trớc, nhân tố trọng lợng thay thế sau :
- Nhân tố ban đầu thay thế trớc, nhân tố thứ phát thay thế sau. Khi có thể phân
biệt rõ ràng các nhân tố ảnh hởng thì vận dụng nguyên tắc trên trong thay thế liên
hoàn là khá thuận tiện. Trong trờng hợp, cùng một lúc có nhiều nhân tố chất lợng,
khối lợng tức nhiều nhân tố có cùng tính chất nh nhau, việc xác định trật tự
thay thế trở nên khó khăn, một số tài liệu đã đợc phơng pháp toán tích phân, vi
phân thay cho phơng pháp này.
Với ví dụ nêu trên ta có : A = f (X, Y).
d A = f x d x + f y d y
và A x = f x d x
A y = f y d y
Khi chỉ têu thực tế so với chỉ tiêu gốc (A1 so với Ao) chênh lệch không quá 5 -
10% thì kết quả tính toán đợc trong bất kỳ trình tự thay thế nào cũng xấp xỉ bằng
nhau. Một sự biến dạng nữa của phơng pháp này là phơng pháp số chênh lệch.
Trong phơng pháp này để xác định mức ảnh hởng của từng nhân tố, ngời ta sử
dụng số chênh lệch so sánh của từng nhân tố để tính toán.
Cũng với ví dụ trên, ta có : A = f (x, y)
với trật tự thay thế x trớc, y sau :
A x = f ( x . yo) với X = X1 - Xo
Ay = f (X1 . y) với Y = Y1 - Yo
Phơng pháp số chênh lệch ngắn gọn, đơn giản. Tuy nhiên, khi sử dụng. Cần chú
ý : Dấu ảnh hởng của các nhân tố tới chỉ tiêu đợc phân tích trùng với dấu của số
chênh lệch nhân tố đó nếu trong hàm số biểu thị mối liên hệ của nhân tố với chỉ

- 9 -
tiêu là dấu nhân (x) hoặc dấu cộng (+); Dấu ảnh hởng của các nhân tố tới chỉ tiêu
đợc phân tích trùng với dấu của số chênh lệch nhân tố đó nếu trong hàm số biểu
thị mối liên hệ của nhân tố với chỉ tiêu là dấu chia (:) hoặc dấu trừ (-).
c) Phơng pháp liên hệ cân đối :
Đây là phơng pháp mô tả và phân tích các hiện tợng kinh tế khi giữa chúng tồn
tại mối quan hệ cân bằng hoặc cần phải tồn tại sự cân bằng. Phơng pháp liên hệ
cân đối đợc sử dụng rộng rãi trong phân tích tài chính; phân tích sự vận động của
hàng hoá, vật t nhiên liệu; xác định điểm hoà vốn; phân tích cán cân thơng mại
d) Phơng pháp đồ thị :
Là phơng pháp mô tả và phân tích các hiện tợng kinh tế dới dạng khác nhau của
đồ thị : biểu đồ tròn, các đờng cong của đồ thị.
Ưu điểm của phơng pháp này là có tính khái quát cao. Phơng pháp đồ thị đặc
biệt có tác dụng khi mô tả và phân tích các hiện tợng kinh tế tổng quát, trừu tợng.
Ví dụ : Phân tích bằng đồ thị quan hệ cung cầu hàng hoá, quan hệ giữa chi phí
và qui mô sản xuất kinh doanh khi các mối quan hệ giữa các hiện tợng kinh tế
đợc biểu thị bằng một hàm số (hoặc một hệ phơng trình) cụ thể, phơng pháp đồ
thị cho phép xác định các độ lớn của đối tợng phân tích cũng nh sự tác động của
các nhân tố ảnh hởng.
e) Phơng pháp phân tổ :
Là một phơng pháp thống kê và đợc áp dụng rộng rãi trong phân tích kinh tế,
đặc biệt trong phân tích kinh tế vĩ mô. Phân tổ là sự phân chia các bộ phận, cấu
thành của hiện tợng đợc nghiên cứu theo các dấu hiệu cơ bản của hiện tợng đó.
Phơng pháp phân tổ cho phép nghiên cứu các hiện tợng trong mối liên kết tơng
quan hoặc phụ thuộc, tách ra từ những tác dụng ảnh hởng tới chỉ tiêu đợc phân
tích những nhân tố xác định hơn, tìm ra những qui luật và xu hớng đặc trng cho
các hiện tợng kinh tế và diễn biến kinh tế Phơng pháp này còn dùng để thăm dò
nghiên cứu thị trờng hàng hoá, phân nhóm bạn hàng, khách hàng
f) Phơng pháp so sánh tơng quan :

- 10 -
Đây là một phơng pháp thống kê dùng để nghiên cứu các mối liên hệ tơng quan
phi tuyến giữa các hiện tợng kinh tế. So sánh tơng quan thờng đợc sử dụng để
định dạng các mối quan hệ kinh tế và lợng hoá chúng qua thực nghiệm thống kê
trên số lớn, tìm hiểu xu thế phát triển cũng nh tính qui luật trong sự phát triển và
liên hệ của các hiện tợng kinh tế khác nhau.
g) Các phơng pháp toán học ứng dụng khác :
Hiện nay, trong phân tích kinh tế áp dụng rất nhiều các phơng pháp toán học
ứng dụng, số lợng các phơng pháp toán học ứng dụng trong phân tích kinh tế
ngày càng tăng. Phổ biến là các phơng pháp toán qui hoạch tuyến tính, lý thuyết
trò chơi, lý thuyết phục vụ đám đông.
Tóm lại, tuỳ theo đối tợng phân tích và cách thể hiện thông tin trong từng trờng
hợp cụ thể mà ngời ta lựa chọn một hay nhiều phơng pháp kể trên để thực hiện
phân tích hoạt động kinh tế.
5. Hệ thống các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sản xuất kinh doanh
Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp là một vấn đề phức tạp, có quan hệ
với tất cả các yếu tố trong quá trình kinh doanh. Do đó để đánh gía chính xác
có cơ sở khoa học hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, cần phải xây dựng
hệ thống các chỉ tiêu phù hợp bao gồm các chỉ tiêu tổng hợp và cá chỉ tiêu bộ
phận.
Để đánh giá chính xác và có cơ sở khoa học về hiệu quả sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp, cần phải xây dựng hệ thống các chỉ tiêu phù hợp bao gồm các
chỉ tiêu tổng hợp và các chỉ tiêu chi tiết. Các chỉ tiêu này đa phản ánh đợc sức sản
xuất, sức sinh lợi cũng nh sức hao phí của từng yếu tố, từng loại vốn và phải
thống nhất với công thức đánh giá hiệu quả chung.
Ta có công thức tổng quát nh sau:
Kết quả đầu ra
Hiệu quả sản xuất kinh doanh = (1)
Nguồn lực đầu vào

- 11 -
Kết quả đầu ra đợc đo băng các chỉ tiêu: DT, GTTSL, LN, các khoản nộp ngân
sách
Nguồn lực đầu vào bao gồm: lao đọng, chi phí, vốn.
Công thức (1) phản ánh suất hao phí của các chỉ tiêu đầu vào nghĩa là để có một
đơn vị kết quả đầu ra thì hao phí bao nhiêu đơn vị nguồn lực đầu vào.
Bản chất của kết quả đầu ra và nguồn lực đầu vào trong hoạt động kinh doanh
của doanh nghiệp đợc thể hiện nh sau:
- Các kết quả vật chất tức là các giá trị sử dụng dới dạng sản phẩm hay dịch vụ
đợc doanh nghiệp tạo ra nhằm đáp ứng nhu cầu của thị trờng, có thể ký hiệu loại
kết quả này là (SX). Vì vậy (SX) có thể là giá trị tổng sản lợng, doanh thu
- Kết quả về mặt tài chính thể hiện qua chỉ tiêu lợi nhuận bao gồm phần để lại
cho doanh nghiệp và phần nộp cho nhà nớc theo quy định. Ký hiệu loại kết quả
này là (LN).
- Các chi phí mà doanh nghiệp thờng bỏ ra
+ Chi phí về lao động sống thể hiện bằng số lợng lao động, có thể ký hiệu
loại này là (L).
+ Chi phí về lao động vật hoá bỏ ra dới dạng vốn cố định và vốn lu động,
có thể ký hiệu loại này là (V).
+ Các chi phí thờng tập hợp nên chỉ tiêu giá thành ký hiệu là (Z).
Các chỉ tiêu này có mối liên quan nh sau:
Bảng 1: Bảng biểu diễn các chỉ tiêu hiệu quả của doanh
nghiệp.
Kết quả
Chi phí
Lợi nhuận Doanh thu, tổng sản lợng
LN SX
L D
L
N
L
V D
V
N
V
Z D
Z
N
Z
Trong đó: D
L
: Hiệu quả về lao động

- 12 -
D
V
: Hiệu quả về vốn
D
Z
: Hiệu quả về chi phí.
Qua bảng trên ta thấy để phản ánh hiệu quả của một yếu nguồn lực nào đó thì ta
phải xét đến các chỉ tiêu với các yếu tố đó. Ta có thể chia thành các nhóm sau:
- Nhóm 1: Hiệu quả sử dụng lao động để xác định đợc hiệu quả sử dụng lao
động ta cần xét đến năng suất lao động, hiệu suất lao động
- Nhóm 2: Hiệu quả sử dụng tài sản: Nghĩa là ta phải phân tích suất sinh lợi của
tài sản lu động và tài sản cố định.
- Nhóm 3: Hiệu quả sử dụng nguồn vốn: Muốn xác định doanh nghiệp sử dụng
nguồn vốn có hiệu quả hay không ta phải xét đến sức sinh lợi của tổng nguồn
vốn.
- Nhóm 4: Hiệu quả sử dụng chi phí: Ta cần tính toán các chỉ tiêu doanh thu
trên chi phí, lợi nhuận trên chi phí để xác định doanh nghiệp sử dụng chi phí có
hiệu quả hay không.
6.Nội dung phân tích hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
6.1 Phân tích kết quả đầu ra:
a) Doanh thu: Doanh thu của doanh nghiệp trong thời kỳ xem xét (thờng là 1
năm) là tổng giá trị hàng hoá dịch vụ mà doanh nghiệp đã bán đợc trong thời kỳ
đó (đã xuất hoá đơn bán hàng):
Doanh thu = Giá bán x Số lợng bán hàng
Doanh thu đợc chia làm 3 loại:
- Với giá bán có tính thuế GTGT thì doanh thu đợc gọi là doanh thu có thuế
GTGT
- Với giá bán cha tính thuế GTGT thì doanh thu đợc gọi là doanh thu cha có thuế
GTGT

- 13 -
- Doanh thu cha có thuế và đã khầu trừ các khoản liên quan (giảm giá, chiết khấu,
hàng trrả lại ) thì đ ợc gọi là doanh thu thuần.
b) Chi phí:
Để phân tích hiệu quả sử dụng chi phí ta cần phân tích các chỉ tiêu doanh thu
trên tổng chi phí, lợi nhuận trên tổng chi phí.
Doanh thu
C
1
=
Chi phí nguyên vật liệu

Doanh thu
C
2
=
Chi phí nhân công
Doanh thu: Tổng số tiền doanh nghiệp thu đợc do bán hàng hoà và dịch vụ trong
một kỳ sản xuất kinh doanh, đây là chỉ tiêu phản ánh kết quả SXKD.
Lợi nhuận: Bằng lợi nhuận trớc thuế trừ đi các khoản thuế, đây là chỉ tiêu phản
ánh kết quả quá trình kinh doanh. Phản ánh chất lợng hoạt động sản xuất kinh
doanh. Để phân tích đợc các chỉ tiêu trên cần phải dựa vào các căn cứ sau đây:
- Dựa vào bảng kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh các doanh nghiệp trong
một kỳ sản xuất.
- Các báo cáo tài chính kế toán tổng hợp thờng đợc trình bày dới dạng so sánh,
bao gồm số liệu của năm báo cáo và số liệu của một trong những kỳ hạch toán tr-
ớc đó. Các số liệu so sánh rất có ích trong việc tính toán và phân tích xu hớng
biến đổi hiệu quả và các mối quan hệ .
Trên cơ sở đó ta sẽ đánh giá khái quát mối quan hệ giữa các chỉ tiêu phản ánh
quy mô sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Mặt khác ta cũng sẽ nghiên cứu
sự biến động của các chỉ tiêu tức là ta xem trong kỳ hoạt động sản xuất kinh
doanh vừa qua của doanh nghiệp có tăng lên hay giảm đi so với các số liệu của
kỳ trớc đợc lấy làm kỳ gốc của doanh nghiệp. Điều này giúp ta đánh giá đợc thực
trạng và triển vọng của từng doanh nghiệp so với nền kinh tế quốc dân.
6.2 Phân tich yếu tố đầu vào

- 14 -

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét