Thứ Tư, 19 tháng 2, 2014
506 Giải pháp thúc đẩy phát triển nông nghiệp - nông thôn gắn với du lịch
5
sinh sống của nhiều dân tộc, nên sẽ là nơi khá lý tưởng để có thể thực hiện
việc liên kết phát triển theo mô hình này.
2. Mục tiêu và nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài
Mục tiêu đặt ra cho việc nghiên cứu đề tài là phân tích các tác động có
thể có của mô hình phát triển nông nghiệp – nông thôn gắn với du lòch đến các
khía cạnh của đời sống của người dân nông thôn. Đề tài cũng sẽ chỉ ra các giải
pháp để mô hình này có thể đi vào thực tế và phát huy tối đa hiệu quả cần có
của nó trên đòa bàn nghiên cứu nói riêng, đồng thời làm cơ sở cho việc mở rộng
ra trên phạm vi cả nước nói chung. Đây cũng là nhiệm vụ đặt ra cho đề tài này.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
• Đối tượng nghiên của đề tài xoay quanh các hoạt động phục vụ du lòch
có liên quan trực tiếp đến đối tượng trồng trọt của người dân trên đòa bàn phân
tích. Từ đó, một sự đánh giá về hiệu quả và mức độ tác động hiện tại của các
hoạt động này đến các chủ thể có liên quan sẽ được đưa ra.
• Vì nhiều lý do, đề tài này chỉ chủ yếu xác đònh hiệu quả kinh tế của
mô hình phát triển nông nghiệp – nông thôn gắn với du lòch, các khía cạnh
khác sẽ là hướng mở cho sự nghiên cứu sâu hơn về sau.
Đòa bàn nghiên cứu của đề tài tập trung tại một số khu vực có tiềm năng về tự
nhiên và tương đối thuận lợi cho việc thu hút du khách tham quan và nghỉ
dưỡng, cụ thể là các khu vực nằm trong đòa bàn ba xã Suối Cát, Suối Tân
(huyện Diên Khánh) và Cam Hải Tây (thò xã Cam Ranh) thuộc tỉnh Khánh
Hòa.
6
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU VỀ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP –
NÔNG THÔN GẮN VỚI DU LỊCH
1.1. Cơ sở của liên kết ngành
1.1.1. Quan hệ giữa lónh vực nông nghiệp với các lónh vực khác
trong nền kinh tế
Đối với các nước đang phát triển, đặc biệt là các nước có một lực lượng
lao động dồi dào trong khu vực nông thôn, có thể nói nông nghiệp là ngành sản
xuất cơ bản, có ảnh hưởng quan trọng tới quá trình phát triển của nền kinh tế
quốc dân. Theo phương diện lý thuyết, mô hình hai khu vực (two-sector model)
hay còn gọi là mô hình phát triển song trùng của Arthur Lewis (1954) đã diễn
tả sinh động mối quan hệ giữa nông nghiệp và công nghiệp.
Theo mô hình này, khu vực nông nghiệp cung cấp lao động, lương thực và
thò trường cho công nghiệp. Ngược lại, công nghiệp phát triển thu hút lao động
dư thừa ở nông thôn và cung cấp sản phẩm công nghiệp (máy móc, thuốc trừ
sâu, phân bón v…v…) cho nông nghiệp, góp phần làm tăng năng suất lao động
trong khu vực này.
Tiếp theo mô hình hai khu vực của Lewis là sự bổ sung của John Fei và
Gustar Ranis (1961) cho mô hình bằng việc phân tích vai trò lớn hơn của nông
nghiệp trong đẩy mạnh công nghiệp hóa thông qua việc ứng dụng tiến bộ kỹ
thuật, nâng cao năng suất, sản lượng nông nghiệp, và vai trò của ngoại thương,
vay mượn và viện trợ nước ngoài trong quá trình tăng trưởng. Sau đó là sự xuất
hiện của mô hình “Tăng trưởng kinh tế ở Châu Á gió mùa” do Harry Toshima
dựa trên tình hình thực tế từ các nước Châu Á mà đưa ra. Mặc dù Harry
Toshima không tán thành với Lewis về việc chuyển lao động từ khu vực nông
thôn sang khu vực thành thò, cho rằng điều này là không hợp lý, và đề xuất
phát triển công nghiệp ngay trên đòa bàn nông thôn, nhưng mô hình của ông
cũng xác nhận vai trò tích cực của nông nghiệp trong quá trình phát triển tại
các nước đang phát triển.
7
Đúc kết từ các lý thuyết phát triển kinh tế và thực tiễn phát triển của các
nước, tiến só Đinh Phi Hổ đã khái quát ra các vai trò của nông nghiệp trong một
nền kinh tế, đặc biệt là đối với các nền kinh tế đang phát triển: 1) kích thích sự
tăng trưởng nền kinh tế; 2) đóng góp vào mức tăng trưởng GDP của nền kinh
tế.
• Nông nghiệp kích thích tăng trưởng kinh tế. Điều này thể hiện qua các
mặt cụ thể như: a) cung cấp lương thực-thực phẩm; b) cung cấp nguyên liệu cho
các ngành công nghiệp; c) là nguồn thu ngoại tệ; d) nông nghiệp – nông thôn
phát triển đóng góp cho việc giảm nghèo.
Việc đảm bảo một nguồn lương thực-thực phẩm dồi dào là điều kiện cần
thiết để đảm bảo cho nền kinh tế của các nước đang phát triển có thể tăng
trưởng ổn đònh bởi vì vấn đề này liên quan mật thiết với vấn đề tiền công và
việc duy trì sức sản xuất của lực lượng lao động. Giải pháp nhập khẩu thì lại
không thực tế trong hoàn cảnh khan hiếm ngoại tệ. Ngoài ra, trong giai đoạn
đầu của quá trình công nghiệp hóa, phát triển nông nghiệp mạnh và bền vững
là một nhân tố quan trọng hàng đầu
( )1
. Ngành công nghiệp chế biến nông sản
giữ vai trò thống trò trong khu vực công nghiệp (xem phụ lục 1).
Đóng góp của nông nghiệp trong việc tạo nguồn và tiết kiệm ngoại tệ
cũng là khía cạnh đáng kể. Kinh nghiệm của Đài Loan, Thái lan… cho thấy như
vậy. Một mặt đóng góp quan trọng nữa trong vai trò kích thích của nông nghiệp
đối với sự tăng trưởng của các nền kinh tế đang phát triển đó là sự phát triển
của nông nghiệp – nông thôn làm nền tảng cho vấn đề giảm nghèo (phụ lục 2).
• Nông nghiệp đóng góp vào mức tăng trưởng GDP của nền kinh tế. Công
trình nghiên cứu của Kutznets (1964), cùng với ứng dụng của Ghatak và
Ingersent (1984)
( )2
(xem phụ lục 3) cho thấy có một xu hướng chung là sự đóng
góp của nông nghiệp trong tăng trưởng GDP giảm dần theo thời gian. Tuy
nhiên, họ cho rằng ảnh hưởng của nông nghiệp không mất đi và điều này đã
được Hwa Erh-Cheng chứng minh từ nghiên cứu thực tế (xem phụ lục 4). Như
vậy, giữa công nghiệp và nông nghiệp, một cách trực tiếp hay gián tiếp, luôn
1
Xem Phạm Đỗ Chí _chủ biên (2003), Làm gì cho nông thôn Việt Nam, trang 149.
2
Xem TS. Đinh Phi Hổ (2003), Kinh tế Nông nghiệp – Lý thuyết và thực tiễn, chương 1.
8
có mối quan hệ với nhau trong bất kỳ giai đoạn phát triển nào của công nghiệp,
và kéo theo là sự hình thành và phát triển của mối quan hệ giữa nông nghiệp
với lónh vực dòch vụ. Bên cạnh đó, Kuznets, Ghatak và Ingersent còn chỉ ra một
bài học từ các nước đang phát triển đã nôn nóng tiến hành công nghiệp hóa đó
là “cái bẫy” của sự “nôn nóng công nghiệp hóa” làm cho tăng trưởng chung
của nền kinh tế bò hạn chế (xem phụ lục 5).
Tóm lại, nông nghiệp có quan hệ nhất đònh đối với phần còn lại của nền
kinh tế, các quan hệ này không chỉ về vật chất mà nó còn hình thành nên các
nhóm lợi ích, có vai trò cụ thể trong xã hội. Tùy theo điều kiện cụ thể và tùy
theo mỗi giai đoạn phát triển của mỗi nước mà vai trò của nông nghiệp thể
hiện cụ thể như thế nào, nhưng vai trò của nông nghiệp hay mối quan hệ của
nó với các lónh vực khác của nền kinh tế là không thể không thừa nhận. Quan
hệ giữa nông nghiệp với các lónh vực khác nằm trong hệ thống các mối quan hệ
tất yếu được hình thành trong tiến trình phát triển của xã hội, và chính các mối
quan hệ này đòi hỏi phải có một hệ thống liên kết chặt chẽ giữa các lónh vực
trong xã hội.
Liên ngành
Trung
ương-
đòa
phương
Giữa các
nhóm hộ
Liên
vùng
Trong nước – Quốc tế
Sơ đồ 1: Các mối liên kết chính trong nền kinh tế
Nguồn: Đặng Kim Sơn, 2001.
Thừa nhận mối quan hệ thực tế của nông nghiệp với các lónh vực khác
trong nền kinh tế và thấy rõ tầm quan trọng của nó đối với tiến trình công
nghiệp hóa tại một nước mà phần lớn lực lượng lao động sống ở nông thôn và
hoạt động trong lónh vực nông nghiệp sẽ góp phần làm cho nền kinh tế tránh
khỏi tình trạng phân cách thông qua các chính sách phát triển kinh tế hợp lý.
1.1.2. Sự phân cách kinh tế
Albert Hirschman (thập kỷ 50) đã đưa ra quan điểm “hiệu ứng liên kết”
(linkage effect), cho rằng mỗi ngành kinh tế có mối liên kết nhất đònh đối với
phần còn lại của nền kinh tế, đầu ra của ngành này là đầu vào của ngành kia
9
gọi là liên kết về phía trước (forward linkage) và đầu ra của ngành kia làm đầu
vào của ngành này gọi là liên kết về phía sau (backward linkage). Một ngành
mà có liên kết trước và liên kết sau cao thì sẽ tạo nên một hiệu ứng mạnh gọi
là “hiệu ứng liên kết” (xem Đặng Kim Sơn (2001), Công nghiệp hóa từ nông
nghiệp – Lý luận, thực tiễn và triển vọng áp dụng ở Việt Nam). Mặc dù lúc này
Hirschman cho rằng không có liên kết sau đối với lónh vực nông nghiệp (do bỏ
qua tác dụng cung cấp đầu vào từ lónh vực nông nghiệp cho lónh vực công
nghiệp) và hiệu ứng liên kết trước của ngành nông nghiệp cũng yếu, nên ông
ta cho rằng nông nghiệp không đáng được ưu tiên. Nhưng mối quan hệ giữa
nông nghiệp với các ngành khác đã không bò phủ nhận, chỉ có khác là vai trò
của nông nghiệp trong tăng trưởng kinh tế bò xem nhẹ, và ông cho rằng các
nước đang phát triển nên tập trung vào phát triển công nghiệp (lónh vực được
ông cho rằng có hiệu ứng liên kết mạnh). Đi theo hướng tập trung phát triển
công nghiệp một cách thái quá, nhiều nền kinh tế đang phát triển đã rơi vào
tình trạng phân cách, một tình trạng trái ngược với ý đồ mà quan điểm hiệu ứng
liên kết đặt ra.
Sự liên kết và phân cách của một nền kinh tế là khái niệm được các nhà
kinh tế phát triển gần đây đưa ra, thể hiện sự chú ý đến tầm quan trọng của
cách phân phối thu nhập và qui mô dân số trong việc mở rộng nhu cầu tiêu
dùng để kích thích khu vực công nghiệp trong nước phát triển ở giai đoạn đầu
của quá trình công nghiệp hóa (xem phụ lục 6 và 7).
Một nền kinh tế liên kết là một nền kinh tế mà trong đó: 1) các lónh vực
kinh tế khác nhau có sự liên kết với nhau một cách chặt chẽ; 2) không có sự
chênh lệch một cách thái quá về cơ sở hạ tầng cơ bản giữa các khu vực; 3) các
nhóm lợi ích trong xã hội (các giai tầng trong xã hội) có sự hỗ trợ qua lại lẫn
nhau, không hình thành những mâu thuẫn lớn. Trái ngược với một nền kinh tế
liên kết là một nền kinh tế phân cách. Trong nền kinh tế phân cách, mối quan
hệ giữa các lónh vực trở nên lỏng lẻo, các thò trường bò phân cách về mặt đòa lý
và xã hội. Sự phân cách không những tồn tại giữa các lónh vực mà trong nội bộ
các lónh vực cũng có khả năng hình thành những mảng riêng biệt. Năng lực
phát triển của các bộ phận dân cư trong xã hội rất khác biệt, nhất là giữa dân
10
cư nông thôn và dân cư thành thò, làm ảnh hưởng tới việc mở rộng thò trường và
khả năng tăng trường ổn đònh của nền kinh tế. Vấn đề này liên quan tới sự cách
biệt về mặt đòa lý, xã hội và chòu ảnh hưởng của các chính sách phát triển.
Sự phân cách trong một nền kinh tế là sản phẩm của ý thức của con
người, hay là sản phẩm của các chính sách phát triển kinh tế. Điều kiện cụ thể
của từng nước, trong đó điều kiện chính trò là phần nhiều và tiếp đến là điều
kiện tự nhiên (khác biệt giữa các khu vực về điều kiện tự nhiên) cũng có thể là
nguồn gốc hình thành nên sự phân cách trong một nền kinh tế.
Trong thực tế, không có một chỉ tiêu cụ thể nào có thể đánh giá được mức
độ liên kết của một nền kinh tế. Các nhà kinh tế chỉ dựa vào các dấu hiệu như:
mức độ chênh lệch thu nhập giữa các khu vực (khu vực truyền thống và khu
vực hiện đại), mức độ thu hút lực lượng lao động khu vực hiện đại (các ngành
công nghiệp được ưu tiên phát triển), khu vực nông thôn tiếp cận như thế nào
với sản phẩm của lónh vực hiện đại (“xét về kết cấu, ở một nền kinh tế liên
kết, các mối quan hệ cả phía cung và cầu đều phân bố đều về đòa lý và xã
hội”), v…v… để xác đònh một nền kinh tế có rơi vào tình trạng phân cách hay
không và mức độ phân cách đó có nghiêm trọng hay không. Tình trạng phân
phối và sử dụng nguồn lực của quốc gia giữa các lónh vực, các nhóm lợi ích
(thành thò và nông thôn) cũng là yếu tố mà các nhà nghiên cứu kinh tế quan
tâm khi đề cập tới vấn đề phân cách trong một nền kinh tế (ví dụ: đầu tư cho
ngành có hiệu ứng liên kết (linkage effects) mạnh hay ngành có hiệu ứng liên
kết yếu). Tình trạng này là mầm mống cho sự hình thành các dấu hiệu của hiện
tượng phân cách trong nền kinh tế.
1.1.3. Kinh nghiệm phát triển của một số nước trong khu vực
1.1.3.1. “Sự thần kỳ của Nhật bản” là kết quả của sự kết
hợp hài hòa giữa nông nghiệp và công nghiệp
Nhật bản là ví dụ điển hình cho sự thành công của quá trình công nghiệp
hóa bởi sự kết hợp chặt chẽ giữa nông nghiệp và công nghiệp. Khởi đầu quá
trình công nghiệp hóa, Nhật Bản dựa vào phát triển nông nghiệp để tạo đà cho
phát triển công nghiệp, mức đóng góp của nông nghiệp trong suốt thời kỳ đầu
công nghiệp hóa là rất cao (những năm 1870, thuế nông nghiệp chiếm đến 35%
11
sản lượng lúa của nông dân) (Đặng Kim Sơn, trang 56). Kinh tế nông thôn
trong thời kỳ này là nguồn thu chính của ngân sách. Tuy mức điều tiết từ nông
nghiệp để phục vụ cho công nghiệp hóa là cao nhưng nó lại không vượt quá
khả năng tái sản xuất của nông nghiệp. Sở dó có được điều này là vì nước Nhật
đã chăm lo rất tốt cho nông nghiệp ngay từ thời kỳ đầu, họ “nuôi” để mà “vắt”
và không ngừng đầu tư trở lại cho nông nghiệp (xem phụ lục 8).
Bài học rất đáng được
để ý từ kinh nghiệm của
Nhật Bản là chính sách phi
tập trung hóa công nghiệp,
đưa sản xuất công nghiệp về
nông thôn
Biểu đồ 1: Quan hệ giữa giá nông sản với giá hàng
công nghiệp ở Nhật (1935-1980)
Nguồn: Đặng Kim Sơn (2001).
(∗)
(không chỉ các
ngành công nghiệp chế biến
mà cả các ngành cơ khí), coi
trọng công nghệ thu hút nhiều lao động làm
cho cơ cấu kinh tế nông thôn thay đổi, góp
phần tăng nhanh thu nhập của nông dân (1950 thu nhập phi nông nghiệp đóng
góp 29% và 1990 là 85% tổng thu nhập của nông dân) (Đặng Kim Sơn). Điều
này có thể thực hiện được là bởi vì chính phủ Nhật đã quan tâm đến kết cấu hạ
tầng, năng lượng và thông tin liên lạc trên khắp lãnh thổ ngay từ đầu. Ngoài ra,
chính phủ Nhật còn luôn kiên trì giữ giá nông sản ổn đònh có lợi cho nông dân,
ngay cả khi nông sản hàng hóa dư thừa.
0
5
10
15
20
25
12345
Tỷ lệ đóng góp của NN cho GDP (%)
0
50
100
150
200
250
300
350
400
Chỉ số giá hà ng NN/ hà ng CN
Series2
Series1
Tỷ lệ đóng góp của NN trong GDP
Tỷ lệ giá nông sản/ giá hàng CN
1955 1960 1970 1980
1935
1.1.3.2. Đài Loan khai thác hợp lý tiềm năng của khu vực
nông thôn
Sự hợp lý ở đây thể hiện ở việc Đài Loan tiến hành chuyển tài nguyên ra
khỏi nông thôn nhưng vẫn đảm bảo được sự tái sản xuất mở rộng của nông
nghiệp. Thành công lớn của Đài Loan trong giai đoạn đầu của quá trình công
nghiệp hóa chính là không tạo ra áp lực việc làm đối với lónh vực công nghiệp
và liên tục tiến bộ trong nỗ lực tạo ra sự cân bằng trong thu nhập (Đài Loan và
∗
Chính sự phi tập trung hóa này giúp cho Nhật có thể phát triển sự liên kết phát triển giữa các doanh nghiệp nhỏ
và vừa ở các thò trấn nông thôn với công ty lớn tại thành thò.
12
một số nước Châu Âu có thu nhập cân bằng nhất trên thế giới
( )1
). Mặc dù phải
đối mặt với tình trạng thất nghiệp cao và lao động nông nghiệp chiếm phần lớn
trong lực lượng lao động nhưng trong giai đoạn đầu phát triển công nghiệp tại
Đài Loan đã không xảy ra hiện tượng lao động đổ xô ra thành thò. Không
những thế, dù bò điều tiết mạnh để phục vụ cho phát triển công nghiệp, nông
nghiệp còn đóng góp lớn cho sự phát triển của công nghiệp thông qua sự phát
triển của các ngành chế biến nông sản xuất khẩu (xem Phạm Đỗ Chí chủ biên,
phần IV), vấn đề phân hóa giàu nghèo trong giai đoạn này cũng được giải
quyết. Và thò trường nông thôn Đài Loan
trở thành nơi tiêu thụ hàng hóa công
nghiệp trong quá trình công nghiệp hóa
(từ 1956 đến 1966, thò trường trong nước
đóng góp 60% tăng trưởng của lónh vực
công nghiệp chế tạo).
Thành công của Đài Loan có được
là nhờ chính sách không ngừng nâng cao
thu nhập của người dân nông thôn và tạo sự liên kết hay phối hợp hợp lý giữa
nông nghiệp và công nghiệp trong giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hóa
thông qua việc phi tập trung hóa công nghiệp, đưa công nghiệp về phát triển tại
nông thôn (giúp thực hiện thành công “ly nông bất ly hương”), nhờ đó mà phát
triển được thò trường trong nước làm cơ sở để phát triển tiềm lực của quốc gia.
Để làm được điều này, Đài Loan phải có được sự đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng và nguồn
nhân lực tại nông thôn (lưu ý: “hơn 2/3 dân số nông nghiệp tại Đài Loan có bằng cấp giáo dục
chính thức”, Phạm Quang Diệu, Đặng Kim Sơn (xem Phạm Đỗ Chí chủ biên)
Nguồn: Phạm Đỗ Chí, 2003.
0
20
40
60
80
100
Biểu đồ 2: Số doanh nghiệp toàn quốc và ở
khu vực nông thôn
1.1.3.3. Hàn Quốc phát triển mô hình làng mới Saemaul
Undong để khắc phục tình trạng phân cách kinh tế
Mô hình làng mới Saemaul Undong được chính phủ Hàn Quốc phát động
xây dựng vào đầu thập niên 70 của thế kỷ trước là giải pháp của Hàn Quốc
nhằm mục đích xóa đi hố “phân cách” kinh tế giữa khu vực nông thôn và khu
vực thành thò. Sự phân cách kinh tế này chính là kết quả của sự nóng lòng đẩy
1
Đặng Kim Sơn
1234
toàn quốc
khu vực nông thôn
1965 1975 1985 1995
13
nhanh nhanh sự nghiệp công nghiệp hóa, dốc toàn lực vào việc phát triển các
ngành công nghiệp hướng vào xuất khẩu, phát triển thành thò, và bỏ quên sự
cần thiết của việc phát triển nông thôn và chăm lo cho năng lực phát triển của
người dân sống trong khu vực này. “Trong khi một phần nhỏ dân cư đô thò hăng
say học tập, cố gắng cạnh tranh làm giàu, mong muốn quyết tâm đổi đời thì đại
bộ phận nông dân vẫn sống trong cảnh nghèo nàn và mang trong mình tư tưởng
bi quan và ỷ lại, lối thoát duy nhất là rời bỏ quê hương, chạy về đô thò” (Đặng
Kim Sơn).
Thực chất của việc phát triển mô hình làng mới là làm cho thu nhập của
người nông dân (chiếm phần đông dân số vào thời điểm đó) được cải thiện và
kích thích, xây dựng năng lực tự phát triển của khối dân cư nông thôn. Đây
cũng chính là yếu tố làm cho các nước như Nhật và Đài Loan có được sự phát
triển ổn đònh trong giai đoạn tiến hành công nghiệp hóa đất nước.
1.1.4. Thực tiễn phát triển của Việt Nam
1.1.4.1. Tạo sự bình đẳng về năng lực hội nhập của hai khu
vực là một vấn đề nan giải và cần nhiều nỗ lực trong tương lai
Cho đến nay, người dân nông thôn là thành phần dân cư vất vả tạo ra
phần lớn vật chất làm đầu vào cho sản xuất hàng tiêu dùng và xuất khẩu nhưng
họ cũng chính là thành phần dân số bò thiệt thòi nhiều so với khối dân cư thành
thò nói chung. Đây là vấn đề bức thiết trong quá trình phát triển kinh tế.
Theo thống kê, các doanh nghiệp đang tiến hành hoạt động kinh doanh
trên đất nước Việt Nam phần lớn tập trung tại các trung tâm đô thò lớn (thành
phố Hồ Chí Minh và Hà Nội chiếm 53,6% tổng số doanh nghiệp và 52,14% số
vốn đăng ký)
( )1
, và trong từng vùng cũng có sự mất cân đối về sự phân bố của
các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh. Tại các vùng nông thôn, số lượng doanh
nghiệp rất ít. Vấn đề này thể hiện một thực tế là người dân nông thôn, nhất là
người dân sản xuất nông nghiệp, đã và đang phải gánh chòu phần thiệt thòi
trong quá trình phát triển kinh tế của đất nước. Người ta đã chứng minh rằng,
trong thực tế có sự tương quan giữa số doanh nghiệp và GDP/đầu người của
1
Viện Nghiên Cứu Quản Lý Kinh Tế Trung Ương (Trang web của Bộ Kế hoạch và Đầu tư)
14
một đòa phương (đồ thò 1). Như vậy, người dân nông thôn không có nhiều điều
kiện để tăng thu nhập cho bản thân và cho gia đình tại khu vực họ sinh sống,
cách giải quyết mà họ cho là tốt nhất là di cư ra các khu đô thò với mong muốn
có nhiều cơ hội việc làm hơn.
Đồ thò 1: Tương quan dân số/doanh nghiệp và GDP/người phân theo đòa bàn tỉnh
100
1000
10000
0
2000 4000 6000 8000
10000
12000
Số
dân/
một
doanh
nghiệp
GDP/ người
Nguồn: Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương, 2002.
Trong khi phải gánh chòu thiệt thòi, người dân nông thôn, nông nghiệp lại
là bộ phận cung cấp lợi thế so sánh cho nhiều mặt hàng tiêu dùng và xuất khẩu
của đất nước, đem về nhiều nguồn lợi to lớn (xem phụ lục 9). Và sự đóng góp
này còn lớn hơn nếu như có sự đầu tư đồng bộ cho sự cải thiện chất lượng sản
phẩm, cải thiện và phát triển vùng nguyên liệu, đầu tư nâng cao năng lực
nghiên cứu và phổ biến kỹ thuật sản xuất cho người nông dân, áp dụng được
những kỹ thuật - công nghệ như các nước, trước hết là như các nước trong khu
vực, và đầu tư phát triển hệ thống phân phối. Một minh chứng rõ ràng đó là
khả năng cạnh tranh của mặt hàng gạo của nước ta vẫn còn thấp hơn so với của
Thái Lan.
Nguồn: Thời báo Kinh tế Việt Nam – Kinh tế 2004-2005 Việt Nam và thế giới.
Các nước khác
2.79
Trung Quốc 0.80
Pakistan 1.80
n Độ 2.80
Mỹ 3.00
Việt Nam 4.01
Thái Lan 10.13
Xuất khẩu gạo thế giới năm 2004 (triệu tấn)
Giá gạo 5% tấm, USD/tấn, FOB
221
232
235
263
205
226 226
233
quý
I/2004
quý
II/2004
quý
III/2004
quý
IV/2004
Thái Lan
Việt Nam
Năng suất lao động nông nghiệp của Việt Nam thấp hơn nhiều so với các
nước, ngay cả so với các nước đang phát triển lân cận (xem phụ lục 10), cũng
góp phần làm cho cuộc sống của người dân nông nghiệp gặp khó khăn, luôn
bấp bênh và thật khó khăn để có thể cải thiện. Sản xuất nông nghiệp thì luôn
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét