Thứ Sáu, 14 tháng 2, 2014

1626_Tai_lieu-Truyen_thong-SRB-24-12-SRB_Last

5

Biểu đồ số 1: 10 tỉnh có tỷ số giới tính khi sinh cao nhất (ĐTDS-2009)

Nguồn: Tổng cục thống kê, Tổng điều tra dân số và nhà ở 2009.
- Theo báo cáo năm 2011 của Tổng cục Dân số-KHHGĐ (thu thập riêng
theo báo cáo của hệ thống cộng tác viên dân số) cũng phản ánh 1 xu hướng
tương tự, đó là 10 tỉnh xảy ra MCBGTKS cao nhất, trong đó có 5 tỉnh đã xảy ra
MCBGTKS từ năm 2009 (Hải Dương, Bắc Ninh, Bắc Giang, Nam Định, Hòa
Bình) và 5 tỉnh mới gia nhập, đó là (Lạng Sơn, Lào Cai, Thanh Hóa, Quảng
Bình, Hậu Giang).
Biểu đồ số 2: Những tỉnh bị MCBGTKS cao nhất

Nguồn: Tổng cục DS-KHHGĐ, Báo cáo Thống kê 2011.
Câu hỏi 4: Tình trạng MCBGTKS ở Việt Nam bắt đầu từ khi nào và diễn
biến ra sao?
- Kết quả của 2 cuộc Tổng Điều tra dân số năm 1979 và 1989 cho thấy
TSGTKS đều trong giới hạn bình thường (năm 1979 là 105/100, năm 1989 là
106/100).
- Theo kết quả Tổng Điều tra dân số 1999, TSGTKS là 107/100 – cao hơn
tỷ số chuẩn chút ít và đã có có 36 tỉnh ít nhiều xảy ra MCBGTKS.
6

- Kết quả Tổng Điều tra dân số và nhà ở năm 2009 đã cho thấy tỷ số giới
tính khi sinh đã ở mức 110,5/100. Các cuộc Điều tra biến động dân số (BĐDS)
hàng năm cũng phản ánh xu hướng tăng liên tục của TSGTKS.
Như vậy, từ năm 1999, TSGTKS có dấu hiệu tăng nhẹ, nhưng giai đoạn
từ năm 2006 đến 2012, TSGTKS tăng liên tục từ 110/100 lên 112/100.
Ở Việt Nam, mặc dù TSGTKS đã có dấu hiệu gia tăng từ năm 1999, tuy
nhiên, bắt đầu từ 2006, tỷ số giới tính khi sinh bắt đầu tăng và trở thành
thách thức lớn với công tác dân số và nỗi lo lớn với các nhà hoạch định chính
sách.
Biểu đồ số 3: Tỷ số giới tính khi sinh ở Việt Nam (ĐTDS và BĐDS
3
)

Câu hỏi 5: Tại Việt Nam, mất cân bằng giới tính khi sinh đã xảy ra ở đâu?
- Ở nước ta, tình trạng MCBGTKS đã xảy ra ở cả khu vực nông thôn,
thành thị, cả đồng bằng và miền núi.
MCBGTKS cũng xảy ra ở hầu hết các vùng sinh thái. Theo kết quả Tổng
Điều tra dân số và nhà ở năm 2009, chỉ còn vùng Tây Nguyên không xảy ra
MCBGTKS. Khu vực đồng bằng sông Hồng có tình trạng MCBGTKS cao
nhất (115,3/100).

3
Cứ 10 năm, tại Việt nam mới tiến hành Tổng Điều tra dân số 1 lần (với quy mô toàn dân),
kết quả của Tổng Điều tra dân số có độ chính xác cao nhất;
Hàng năm, Tổng cục Thống kê tiến hành Điều tra biến động dân số hàng năm, với cỡ mẫu
nhỏ hơn nhưng cũng đại diện cho cả nước, tuy nhiên độ chính xác thấp hơn so với kết quả từ
Tổng Điều tra dân số.
Nhìn chung, dù kết quả Tổng Điều tra dân số và Điều tra biến động dân số hàng năm có độ
chính xác khác nhau, song đều phản ánh xu hướng chung là sự gia tăng của tình trạng
MCBGTKS.
7

Biểu đồ số 4: Tỷ số giới tính khi sinh theo vùng sinh thái (ĐTDS – 2009)


- Kết quả điều tra biến động dân số năm 2011 cho thấy tình trạng
MCBGTKS tăng mạnh ở khu vực đồng bằng sông Hồng, sông Cửu long và
vùng miền núi phía Bắc so với 2009.
Biểu đồ số 5: Tỷ số giới tính khi sinh theo vùng sinh thái (BĐDS-2011)











- Về tác động của trình độ học vấn, số liệu phân tích từ ĐTDS - 2009 cho
thấy, bà mẹ có học vấn càng cao thì sự ưa thích và tỷ lệ sinh con trai càng lớn so
với bà mẹ có học vấn thấp hơn. Đây là một thách thức lớn cho công tác truyền
thông, bởi những người học vấn cao, hầu như đều biết những thông tin về thực
8

trạng, hậu quả MCBGTKS, do đó giải pháp tuyên truyền với họ sẽ ít hiệu quả
đối với những người có học vấn cao thích con trai.
Biểu đồ 6: Tỷ số giới tính khi sinh theo trình độ học vấn bà mẹ (ĐTDS - 2009)


- Về tác động của điều kiện kinh tế xã hội, theo kết quả ĐTDS-2009, các
ông bố, bà mẹ có điều kiện kinh tế khá giả thì sự ưa thích và tỷ lệ sinh con trai
cao hơn nhiều so với ông bố, bà mẹ có điều kiện kinh tế khó khăn Đây là thách
thức lớn, bởi người càng giàu càng thích đẻ con trai, vì vậy giải pháp khuyến
khích về kinh tế sẽ ít tác dụng đối với nhóm người giàu thích đẻ con trai.
Biểu đồ 7: Tỷ số giới tính khi sinh theo thu nhập (ĐTDS – 2009)

Kết quả từ các cuộc Điều tra dân số hàng năm cũng cho thấy có sự chênh
lệch rõ nét về MCBGTKS giữa thành thị và nông thôn, theo đó người dân thành
phố ưa thích và sinh con trai nhiều hơn so với người dân ở nông thôn.
9


Biểu đồ số 8: Tỷ số giới tính khi sinh theo khu vực (ĐTDS hàng năm)












Sự khác nhau về tỷ số mất cân bằng giới tính khi sinh theo điều kiện kinh
tế - xã hội ở Việt Nam và Ấn Độ đều tương tự như nhau, đó là thu nhập cao thì
ưa thích và sinh con trai nhiều hơn người thu nhập thấp.

Bảng số 1: So sánh SRB theo thu nhập giữa Việt Nam và Ấn Độ - 2009
Tình trạng kinh tế
của bà mẹ
Tỷ số GTKS Việt
Nam
Tỷ số GTKS Ấn
Độ
Nghèo 105.2 104.8
Cận nghèo 107.5 105.6
Trung bình 112.8 108.7
Khá 111.7 112.5
Giàu 112.9 117.1

Câu hỏi 6: Diễn biến về MCBGTKS ở một số tỉnh như thế nào?
- Số liệu tổng hợp từ các nguồn Điều tra biến động dân số hàng năm và
Tổng Điều tra dân số và nhà ở năm 2009 cho thấy trong giai đoạn 2006-2011,
TSGTKS đã rất cao và tăng liên tục ở 10 tỉnh, chủ yếu tập trung ở vùng Đồng
bằng sông Hồng.
10


Bảng số 2: Biến động về MCBGTKS ở 10 tỉnh có mức MCBGTKS cao
(Tổng hợp từ ĐTDS-2009 và BĐDS hàng năm)
Tên đơn vị Năm
2006
Năm
2007
Năm
2008
Năm
2009
Năm
2010
Năm
2011
Toàn quốc 108.6 111.0 110.8 110.5 113.3 112.3
1. Hưng Yên 114.8 129.0 130.3 130.7 120.7 113.8
2. Hải Dương 120.5 120.0 123.6 120.2 122.0 121.3
3. Bắc Ninh 111.6 122.0 121.5 119.4 128.6 125.5
4. Bắc Giang 115.6 118.0 111.4 116.8 118.7 119.7
5. Nam Định 110.7 107.0 113.0 116.4 121.5 120.1
6. Hòa Bình 110.5 107.0 111.7 116.3 108.8 119.9
7. Hải Phòng 111.7 108.0 109.7 115.3 112.8 113.0
8. Quảng Ngãi 102.7 110.0 111.2 115.1 126.7 117.3
9. Quảng Ninh 107.5 117.0 110.1 115.0 108.0 114.5
10. Vĩnh Phúc 108.2 110.0 110.8 114.9 115.4 116.2

Câu hỏi 7: Việc lựa chọn con trai xảy ra qua thứ tự các lần sinh thế nào?
Kết qủa Điều tra biến động dân số năm 2011 cho thấy, TSGTKS đã tăng
cao ngay từ lần sinh thứ nhất (109,7/100) và tăng dần qua các lần sinh tiếp theo,
cụ thể ở lần sinh thứ hai là 111,9/100 và ở lần sinh thứ ba trở đi đã ở mức rất cao
(119,7/100).
Số liệu trên thể hiện sự lựa chọn con trai ngay từ lần sinh đầu tiên, còn lần
sinh thứ 3 với TSGTKS cao nhất đã thể hiện mong muốn đẻ bằng được thêm
đứa con trai.
11


Biểu đồ số 9: SRB theo lần sinh tại Việt Nam (BĐDS-2011)

Câu hỏi 8: Ở các nước khác có xảy ra mất cân bằng giới tính khi sinh?
Không chỉ ở Việt Nam, tại một số nước cũng xảy ra tình trạng MCBGTKS.
Ngay từ những năm 1980, đã xảy ra mất cân bằng giới tính khi tại nhiều nước
Châu Á và Đông Âu.
Bảng số 3: Tỷ số giới tính khi sinh ở một số nước trên thế giới
Nước SRB Giai đoạn
Khu vực Đông và Đông Nam Á
Trung Quốc 118,1 2009
Hàn Quốc 116,0 1991
Việt Nam 111,9 2011
Khu vực Nam Á
Ấn Độ 110,6 2007
Pa-kis-tan 109,9 2007
Khu vực Tây Á
Azerbaijan 117,6 2009
Armenia 115,8 2008
Georgia 111,9 2006
Khu vực Đông Nam Âu
Albania 111,5 2008
Montenegro 111,6 2006
12

- Cũng giống như ở Việt Nam, ở một số nước trên thế giới, MCBGTKS xảy
ra ngay từ lần sinh thứ nhất, thứ hai và cao nhất ở lần sinh thứ ba trở đi.
Bảng số 4: Tỷ số giới tính khi sinh theo thứ tự sinh của một số nước
Tên nước SRB lần 1 SRB lần 2 SRB lần 3 Năm thống kê
Armenia: 106,8/100 110,4/100 176,9/100 2001-2008
Trung Quốc 108,4/100 143,2/100 156,4/100 2005
Ấn Độ 111/100 112/100 116/100 2001
Nguồn: Quỹ dân số Liên hợp quốc
Câu hỏi 9. Ở châu Âu, Nhật Bản có xảy ra MCBGTKS không?
Các nước khu vực châu Âu hay như Úc, Nhật Bản là các nước phát triển
và mặc dù tỷ lệ sinh rất thấp, mỗi cặp vợ chồng chỉ có 1,3 con (như ở Nhật Bản)
nhưng hầu như không xảy ra tình trạng MCBGTKS. Tỷ lệ giới tính khi sinh
hàng năm ở các quốc gia này ở mức bình thường, 104-106 bé trai/100 bé gái
mới sinh.
Câu hỏi 10: Tình hình MCBGTKS ở Trung Quốc thế nào?
Hiện nay mất cân bằng giới tính khi sinh ở Trung Quốc vẫn đang ở mức
khá cao, mặc dù đã triển khai nhiều giải pháp tổng thể mạnh mẽ về chính trị,
pháp luật, KT-XH, nhưng vẫn chưa có kết quả rõ ràng. Sự thay đổi chậm chạp,
thậm chí rất khó khăn do các định kiến về con trai, con gái đã ăn sâu, bám rễ
hàng nghìn năm trong phong tục, tập quán của cộng đồng dân cư và người dân.
Suốt từ những năm 1990 cho đến nay, TSGTKS ở Trung Quốc luôn ở
mức cao và rất cao: năm 1990 là 111,3/100, năm 1995 là 116,8/100, năm 2000
là 119,9/100, năm 2005 là 120,5/100 và giai đoạn 2009-2011 vẫn ở mức
118,1/100.
13


Biểu đồ số 10. Tỷ lệ MCBGTKS ở Trung Quốc qua các năm

Câu hỏi 11: Vì sao xảy ra MCBGTKS ở một số nước trên thế giới?
- Tư tưởng ưa thích con trai là nguyên nhân cơ bản và gốc rễ.
- Do tác động của khoa học, công nghệ xác định giới tính thai nhi như: hệ
thống y và dịch vụ y tế phát triển nhanh, trang thiết bị y tế hiện đại, có thể phát
hiện giới tính thai nhi từ rất sớm tạo cơ hội để lựa chọn giới tính thai nhi.
- Do một phần ảnh hưởng của chính sách quy mô gia đình nhỏ (1 đến 2
con), buộc người có tư tưởng ưa thích con trai tìm mọi cách để có được con trai.
Câu hỏi 12: Nguyên nhân MCBGTKS ở Việt Nam có giống các nước khác?
Về cơ bản, nguyên nhân MCBGTKS ở Việt Nam cũng tương tự như ở
một số nước và có thêm một số yếu tố đặc trưng hơn.
a) Nguyên nhân gốc rễ:
Tâm lý ưa thích con trai ăn sâu trong tâm thức nhiều người. Người dân
Việt Nam bị ảnh hưởng nặng nề bởi tư tưởng lạc hậu từ chế độ phong kiến và
nho giáo đã bám rễ sâu ở người dân cũng như cộng đồng, đó là:
- Coi con trai là người nối dõi tông đường, gia phả dòng họ ở nhiều nơi
chỉ có tên con trai, tập quán con trai thờ cúng tổ tiên, cha mẹ.
- Coi đàn ông là trụ cột gia đình, con mang họ cha, con trai là người kế
thừa tài sản của gia đình.
- Coi con trai làm chỗ dựa cho bố mẹ khi về già, “nhất nam viết hữu, thập
nữ viết vô”, coi con gái sau khi kết hôn về nhà chồng là "con người ta"…
14


Biểu đồ 11: Đánh giá vai trò con trai, con gái với các vấn đề gia đình











Nguồn: Kết quả nghiên cứu năm 2011 của Viện phát triển xã hội
b) Nguyên nhân trực tiếp:
- Do lạm dụng tiến bộ khoa học, công nghệ y học để lựa chọn giới tính
thai nhi. Trước khi có thai, áp dụng chế độ ăn, chọn ngày phóng noãn…; trong
lúc thụ thai, chọn thời điểm phóng noãn, phương pháp thụ tinh, lọc rửa tinh
trùng để chon tinh trùng mang nhiễm sắc thể Y ; sau khi có thai, siêu âm, chọc
hút dịch ối để xét nghiệm phát hiện giới tính thai nhi từ sớm, nạo phá thai bé
gái
Kết quả điều tra biến động dân số năm 2010 cho thấy, 75,2% phụ nữ 15-
49 tuổi sinh con trong vòng 24 tháng trước thời điểm điều tra biết giới tính thai
nhi trước khi sinh, trong đó 99% biết qua kết quả siêu âm.
- Chính sách, pháp luật chưa đồng bộ, thiếu chính sách an sinh xã hội, hỗ
trợ đối với bé gái, gia đình sinh con một bề là gái, chăm sóc sức khỏe người cao
tuổi…
- Công tác truyền thông giáo dục thay đổi nhận thức, hành vi của người
dân, của cộng đồng về việc ưa thích con trai còn hạn chế.
- Công tác thanh tra, kiểm tra các sai phạm còn nhièu bất cập; khó phát
hiện và khi phát hiện thì chế tài chưa đủ mạnh để xử lý với trường hợp lựa chọn
giới tính thai nhi; yếu kém trong việc triển khai thực hiện quy định của pháp luật
về cấm lựa chọn giới tính thai nhi nên chưa đủ sức răn đe.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét