Thứ Năm, 13 tháng 2, 2014
Xây dựng nội dung bồi dưỡng giáo viên hóa trung học phổ thông
giá rằng bộ SGK hiện hành rất hay, nhưng khó dạy (vì còn có học sinh không tiếp thu được). Nếu
giáo viên cảm thấy khó dạy thì Bộ và Sở, phòng GD – ĐT, trường và Tổ bộ môn phải có trách
nhiệm bồi dưỡng cho họ (kể cả việc yêu cầu họ phải tự bồi dưỡng để nâng cao kiến thức). Không kể
đến việc phải dạy một bộ SGK mà đa số giáo viên cho là khó dạy như hiện nay, việ
c rơi rớt kiến
thức sau nhiều năm giảng dạy tính từ thời điểm giáo viên tốt nghiệp trường đại học cho đến thời
điểm hiện tại, kể cả nội dung kiến thức, phương pháp giảng dạy (PPGD) mà giáo viên học được ở
trường Đại học chưa đáp ứng được thực tế giảng dạy tại trường phổ thông cũng
đặt ra vấn đề phải
bồi dưỡng cho giáo viên. Việc bồi dưỡng nhằm mục đích trang bị cho giáo viên kiến thức chuyên
môn và kiến thức về PPGD mới, hiện đại, nhằm giảng dạy đạt hiệu quả cao. Nếu công tác BDGV
không mang lại lợi ích thiết thực thì tình trạng chất lượng giảng dạy kém khó được khắc phục. Chất
lượng giảng dạy kém sẽ kéo theo kết quả chất lượ
ng học tập kém. Nếu không khắc phục được tình
trạng chất lượng học sinh yếu kém, ngành GD – ĐT không thực hiện được tốt việc chuẩn bị cho học
sinh phổ thông học tiếp ở các bậc học cao hơn.
Như vậy bồi dưỡng giáo viên là một việc làm hết sức quan trọng. Tuy nhiên vấn đề này hiện
nay chưa được nhiều người quan tâm nghiên cứu.
1.2. Một số vấ
n đề về đội ngũ giáo viên THPT hiện nay
Báo cáo kết quả giám sát về đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục trong lĩnh vực giáo
dục, đào tạo và dạy nghề do Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa Giáo dục Thanh thiếu niên Nhi đồng của
Quốc hội Trần Thị Tâm Đan trình bày ngày 07-11-2006 [17].
Nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục là lực lượng nòng cốt trong việc phát triển và nâng cao
chất lượng giáo dục qua các thời kỳ lị
ch sử ở nước ta. Đảng, Nhà nước và nhân dân ta luôn coi trọng
việc xây dựng đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục và đã có chính sách chăm lo cho thầy, cô
giáo. Bước vào thời kỳ đổi mới, đội ngũ nhà giáo nước ta, với gần một triệu thầy, cô giáo và hơn
90.000 cán bộ quản lý giáo dục, từ thành phố đến nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, hải đảo,
vẫn phát huy được truyền thống tốt đẹp của nhà giáo, lao động sáng tạo, kh
ắc phục khó khăn, tâm
huyết với sự nghiệp “trồng người”, đã có những đóng góp to lớn vào sự nghiệp phát triển giáo dục
nước ta với quy mô trên 22 triệu người đi học.
Tuy nhiên, trước yêu cầu tăng quy mô, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực
theo yêu cầu đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế, việc xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý
giáo dục
đạt chuẩn về đạo đức, trình độ, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu đang là vấn đề bức bách,
cần sự quan tâm đầu tư của Nhà nước, xã hội và của ngành Giáo dục.
1.2.1. Tình hình đội ngũ nhà giáo
Qua nhiều năm phát triển, nước ta đã xây dựng được một đội ngũ nhà giáo và đội ngũ này
đang tích cực lao động thực hiện nhiệm vụ của giáo dục là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi
dưỡng nhân tài phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, góp phần quan trọng vào sự nghiệp
đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta.
– Tỷ lệ giáo viên m
ầm non, phổ thông đạt trình độ chuẩn theo quy định khá cao, ở giáo dục
mầm non đạt 77,5%, tiểu học 96,5%, THCS 95%, THPT 97%. Cơ cấu đội ngũ giáo viên phổ thông
không đồng bộ, vừa thừa, vừa thiếu. Hầu hết các địa phương đều thiếu giáo viên âm nhạc, mỹ thuật,
công nghệ, thể dục thể thao và tình trạng này đã kéo dài nhiều năm nên ảnh hưởng đến mục tiêu
giáo dục toàn diện về trí, đức, thể
, mỹ cho học sinh.
– Giáo viên ở các trường trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề, nhìn chung có trình độ đại
học và một số là công nhân lành nghề dạy thực hành. Đội ngũ giảng viên đại học đang thiếu trầm
trọng, thể hiện ở tỷ lệ sinh viên/giảng viên trung bình là 28 sinh viên/giảng viên, ở một số lĩnh vực
như kinh tế, dịch vụ thì tỷ lệ là gần 40 sinh viên/giảng viên. Trong khi đó ở nhi
ều nước, tỷ lệ này
trung bình là 15-20 sinh viên/giảng viên. Đặc biệt là sự hụt hẫng đội ngũ giảng viên đầu ngành.
Những Giáo sư, Phó giáo sư, Tiến sĩ được đào tạo một cách hệ thống ở nước ngoài, có kinh nghiệm
sư phạm, đang là những người chủ trì các chương trình nghiên cứu khoa học cấp Bộ, cấp Nhà nước
thì nay hầu hết đã ở độ tuổi 70 và đã nghỉ
hưu, trong khi đó đội ngũ kế cận thì chưa được chuẩn bị
ngang tầm để thay thế. Những năm gần đây, tốc độ phát triển quy mô giáo dục đại học tăng nhanh,
từ năm học 2001-2002 đến năm học 2005-2006, số sinh viên được đào tạo đại học chính quy trung
bình mỗi năm tăng 7,36% và đại học thường xuyên tăng 7,49%; số sinh viên được đào tạo cao đẳng
chính quy t
ăng 9,47% và cao đẳng thường xuyên tăng 25,12%. Các trường đại học, cùng với việc
mở rộng quy mô đào tạo hệ chính quy, còn mở các lớp đại học, cao đẳng tại chức; đồng thời lại tổ
chức liên kết với các trung tâm giáo dục thường xuyên của nhiều tỉnh, với các cơ quan, ban, ngành,
tổ chức để mở các lớp tại chức ngoài nhà trường. Do đó, dẫn đến tình trạng số giờ gi
ảng dạy của
một giảng viên đại học ở nước ta khá cao, có trường hợp lên tới 800-1.000 giờ/năm (ở nước ngoài
khoảng 300-400 giờ/năm). Như vậy, nhiều giảng viên không còn thời gian tham gia nghiên cứu
khoa học để nâng cao trình độ chuyên môn của mình.
– Trường đại học có hai nhiệm vụ cơ bản là giảng dạy và nghiên cứu khoa học (NCKH). Tỷ
lệ thời gian giữa hai nhiệm vụ này của gi
ảng viên ở nhiều trường đại học nước ngoài thường là
50/50, trong khi ở nước ta, tại các trường đại học có truyền thống NCKH, tỷ lệ này ở một số giảng
viên chủ chốt là 70/30 (giảng dạy là 70%, NCKH là 30%). Nhìn chung, công tác NCKH của đại đa
số giảng viên ở đại học rất hạn chế. Đây là mặt yếu khá cơ bản, rất đáng quan tâm đối với đội ngũ
giảng viên đại học cũng như các trường đại học nước ta. Điều này có ảnh hưởng trực tiếp đến nâng
cao chất lượng giáo dục.
– Về cơ bản, đại bộ phận nhà giáo nước ta có phẩm chất đạo đức tốt, tận tuỵ với nghề
nghiệp, có ý thức vươn lên, có tinh thần trách nhiệm trong thực hiện nhiệm vụ giáo dục, đào tạo.
Nh
ững thành tựu của giáo dục đạt được trong những năm qua đã góp phần quan trọng trong sự
nghiệp Đổi mới đất nước, trong đó có sự đóng góp to lớn của đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý
giáo dục.
– Trong những năm gần đây, đội ngũ nhà giáo nước ta đã được tăng về số lượng thuộc một
số chuyên ngành đã góp phần giảm bớt sự
bất hợp lý về cơ cấu. Việc bồi dưỡng năng lực sư phạm,
ứng dụng công nghệ thông tin để đổi mới phương pháp dạy học, các phương tiện, thiết bị hiện đại
đã được chú trọng đầu tư ở một số trường đại học trọng điểm. Đội ngũ nhà giáo đã vươn lên, tiếp
cận và ứng dụng công nghệ thông tin, học thêm ngoại ngữ, đồng thời phấn đấu đạt trình độ chuẩn
theo quy định.
– Đội ngũ giáo viên mầm non và phổ thông
đạt trình độ chuẩn khá cao và, về cơ bản, đã đáp
ứng được yêu cầu thực hiện nhiệm vụ. Tuy nhiên, mặt yếu của đội ngũ này là rất hạn chế trong việc
cập nhật kiến thức và phương pháp giáo dục nên không phát huy được tính chủ động, sáng tạo và
năng lực tự học của học sinh, chưa tạo được sự hứng thú cho học sinh đến trường, nhất là ở tiểu
học và THCS.
– Đội ngũ giảng viên đại học vừa thiếu về số lượng, hạn chế về năng lực, trình độ, đặc biệt
là đội ngũ giảng viên đầu đàn đang bị hẫng hụt; nhiều giảng viên không triển khai được nhiệm vụ
NCKH.
– Nhìn chung, đội ngũ nhà giáo nước ta ở các cấp học, do nhiều nguyên nhân, đều có hạn
chế trong việc đổi mới phương pháp giáo dục. Cách tổ chức quá trình học tập cho người học ở nhà
trường vẫn còn tình trạng nhà giáo chưa hướng dẫn được cho học sinh biết tự học, biết cách chủ
động, sáng tạo để tiếp nhận kiến thức một cách tự giác. Nhà trường chưa chăm lo được đến sự phát
triển của từng học sinh. Sự quan tâm của nhà giáo đến việc chăm lo cho học sinh, sinh viên phát
triển phẩm chất đạo đức, biết tôn trọng giá trị thẩm mỹ, có thái độ thân thiện trong quan hệ xã hội,
xây dựng niềm tin, hoài bão, ý chí vươn lên, hướng dẫn kỹ năng sống, ý thức trách nhiệm công
dân… trong những năm qua còn rất hạn chế.
– Thu nhập củ
a nhà giáo không đồng đều, có sự phân hoá, một số ít có thu nhập khá, một bộ
phận còn khó khăn. ở đô thị, nhìn chung việc giải quyết nhà ở cho giáo viên còn hạn chế. Giáo viên
ở miền xuôi lên miền núi dạy học, đời sống văn hoá nghèo nàn, nhất là ở vùng cao, nhiều nơi không
có nhà ở nội trú.
– Một bộ phận nhà giáo không vượt qua được những tác động tiêu cực của cơ chế thị trường
đối với giáo dục, có biểu hiện suy thoái về đạo đức nghề nghiệp, không đấu tranh với những gian
dối trong giáo dục, thỏa hiệp, thậm chí còn bị lôi cuốn tham gia vào các tiêu cực trong thi cử, đánh
giá luận văn, luận án tốt nghiệp, cá biệt có những nhà giáo coi giáo dục như là phương tiện để tr
ục
lợi, làm tổn hại đến uy tín, danh dự của đội ngũ nhà giáo.
1.2.2. Tình hình đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục (CBQLGD)
Cán bộ quản lý giáo dục thường được lựa chọn từ các nhà giáo có trình độ chuyên môn phù
hợp với các bậc học, có kinh nghiệm trong công tác giáo dục nên am hiểu khá sâu về giáo dục. Về
cơ bản, CBQLGD nắm được đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về giáo dục,
tậ
n tuỵ, có ý thức giữ gìn phẩm chất đạo đức, tích cực và có năng lực triển khai các nhiệm vụ trong
công tác quản lý, vì vậy đã có những đóng góp quan trọng đối với sự phát triển giáo dục trong
những năm đổi mới. Tuy nhiên, đa số CBQLGD không được cập nhật về nghiệp vụ quản lý giáo
dục hiện đại, chủ yếu dựa vào kinh nghiệm, thiếu các kiến thức về pháp luậ
t, quản trị nhân sự, tài
chính, hạn chế về trình độ ngoại ngữ, kỹ năng tin học nên công tác quản lý giáo dục hiện đại còn
hạn chế.
Quản lý giáo dục là một lĩnh vực khoa học, đòi hỏi tính chuyên môn cao, là công cụ giữ vai
trò quan trọng để giữ gìn kỷ cương trong việc tổ chức, triển khai các hoạt động giáo dục, nhất là
trong dạy và học, bảo đảm điều kiệ
n cần thiết cho việc nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục.
Quản lý giáo dục thiếu chặt chẽ sẽ tạo điều kiện cho những tiêu cực phát triển.
Trong xã hội hiện đại, việc học ở nhà trường trở thành một nhu cầu của mọi người vì nhờ học
tập mà giá trị con người cũng như giá trị sức lao động được tăng lên và con người có khả nă
ng tồn
tại, phát triển tốt hơn. Bản chất của việc học ở nhà trường, dù ở cấp, bậc học nào, thì vẫn là sự tự
học của trò dưới sự tổ chức việc học và hướng dẫn cách học của thầy, cô giáo. Nhà giáo phải có
năng lực tổ chức, hướng dẫn và kiểm soát được việc học. Người học phải là chủ thể trong việ
c học,
nghĩa là phải chủ động, tự giác lao động để tích luỹ tri thức, vì việc học giữ vai trò quyết định chất
lượng giáo dục. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, điều rất đáng lưu ý là, ở một bộ phận người
học đã xuất hiện xu hướng không quan tâm đúng mức đến việc lao động để tích luỹ tri thức mà
thiên về việc để có m
ột tấm bằng nên đã có những việc làm sai trái, biểu hiện sự suy thoái đạo đức
trong việc học. Những hiện tượng tiêu cực trong giáo dục phát triển rất đa dạng, đó là sự gian dối
trong học tập, trong thi cử, tuyển sinh, bảo vệ luận văn, luận án, cấp phát văn bằng, chứng chỉ…
Những hiện tượng này tuy chỉ xảy ra ở một bộ phận người h
ọc, CBQLGD, nhà giáo nhưng đã kéo
dài nhiều năm, cho đến nay vẫn chưa được giải quyết cơ bản đã gây ra sự bức xúc trong dư luận xã
hội. Tiêu cực trong giáo dục có thể phát sinh từ người học, từ CBQLGD họăc nhà giáo, nhưng
chấm dứt được những gian dối đó thì vai trò quyết định thuộc về đội ngũ CBQLGD và ý thức trách
nhiệm của nhà giáo. Tuy nhiên, cũng không thể xem nhẹ trách nhiệm của người học, của cha mẹ
học sinh. Những năm qua, một bộ phận đội ngũ CBQLGD có biểu hiện hữu khuynh, buông lỏng
quản lý, không kiên quyết ho
ặc không xử lý nghiêm minh những vi phạm trong giáo dục, do phẩm
chất đạo đức suy thoái còn tham gia vào những vụ việc tiêu cực trong giáo dục. Những tiêu cực
trong giáo dục đã làm phương hại đến truyền thống văn hoá, đến lối sống lành mạnh và chuẩn mực
đạo đức xã hội trong việc dạy và học, trong giữ gìn và phát huy truyền thống hiếu học của dân tộc ta
trải qua hàng nghìn năm lịch sử.
1.2.3. Nguyên nhân của nhữ
ng kết quả đạt được và những yếu kém trong xây dựng đội ngũ
nhà giáo và CBQLGD
Có thể nói rằng, những kết quả đạt được trong việc xây dựng đội ngũ nhà giáo và CBQLGD
trong những năm đổi mới được xuất phát từ ba nguyên nhân chính, như sau:
– Thứ nhất là, ở nước ta, khoa học và công nghệ cùng với giáo dục được Nhà nước xác định
là quốc sách hàng đầu nên, trong những năm qua, Nhà nước đã có những ch
ủ trương rất quan trọng
để nâng cao dân trí, như thực hiện việc xoá mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học và THCS; đổi mới
nội dung chương trình, phương pháp giáo dục ở các bậc học để nâng cao chất lượng giáo dục, đồng
thời mở rộng quy mô đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và nhu cầu
học tập của nhân dân; hằng năm đều t
ăng ngân sách đầu tư cho giáo dục và đến năm 2007 đã đạt
20% tổng chi ngân sách. Bên cạnh đó, Chính phủ đã phát hành trái phiếu giáo dục phục vụ cho mục
tiêu xây dựng trường sở; dành vốn vay ODA cho những dự án đổi mới giáo dục ở các bậc học cùng
với chủ trương xã hội hoá giáo dục, sự đóng góp của cha mẹ học sinh, của cộng đồng dân cư cho
giáo dục đã giúp cho nhà trường có thêm kinh phí để tổ
chức các hoạt động giáo dục. Những chủ
trương đổi mới cơ chế xây dựng kế hoạch đào tạo ngoài chỉ tiêu ngân sách Nhà nước cấp, các
trường thuộc giáo dục đại học được chủ động xây dựng kế hoạch đào tạo đáp ứng nhu cầu của xã
hội, từ đó đã tăng được quy mô và phát huy tiềm năng lao động của nhà giáo và nhà trường có thêm
phần thu
để tăng cường cơ sở vật chất và đời sống nhà giáo ở một số trường đại học đã được cải
thiện bằng lao động của mình. Mặt khác, Chính phủ cũng đã ban hành những chính sách cụ thể, như
chế độ phụ cấp đứng lớp cho nhà giáo; quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của cơ sở giáo dục về thực
hiện nhi
ệm vụ, về tài chính, lao động và mức thu nhập; chính sách phát triển giáo dục mầm non; Chỉ
thị của Ban Bí thư Trung ương Đảng và Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về xây dựng, nâng
cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và CBQLGD.
– Thứ hai là, hệ thống các trường sư phạm, trường bồi dưỡng CBQLGD đã được đầu tư xây
dựng ở cấp trung ương và cấp tỉnh, bảo đảm yêu cầu đào tạo nhà giáo cho các cấp học.
– Thứ ba là, đội ngũ nhà giáo và CBQLGD đã có tinh thần trách nhiệm, ý thức vươn lên
khắc phục khó khăn, giữ gìn phẩm chất đạo đức, tâm huyết với nghề nghiệp để
thực hiện nhiệm vụ,
bảo đảm cho việc học tập của người học ở khắp các vùng, miền, đáp ứng nhu cầu đào tạo nhân lực
phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của đất nước.
Những tồn tại, yếu kém của đội ngũ nhà giáo và CBQLGD có nhiều nguyên nhân, có thể đề cập
đến một số nguyên nhân cụ thể, như sau:
– Một là, tư duy giáo dục chậm đổi mới, chưa coi trọng việc xây dựng đội ngũ nhà giáo và
CBQLGD khi đất nước chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập
kinh tế quốc tế. Công tác đào tạo, bồi dưỡng nhà giáo chưa được đặt ra phải đi trước một bước
trong tiến trình đổi mới giáo dục. Thiếu chủ động trong quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng
nhà giáo và CBQLGD. Chương trình đào tạo, bồi dưỡng nhà giáo và CBQLGD chưa tiếp cận với
cách quản lý giáo dục hiện đại và cập nhật những thành tựu mới của khoa học giáo dục. Chậm đổi
mới chương trình đào tạo giáo viên ở các trường sư phạm.
– Hai là, sự yếu kém của đội ngũ giáo viên mầm non, phổ thông, giáo dục nghề nghiệp về
phương pháp giáo dục là do giáo viên chưa tiếp cận được sự phát triển của lý luận giáo dục hiện đại
có nguyên nhân từ việc chế độ bồi dưỡng định kỳ hầu như không thực hiện được, việc tự học của
giáo viên để cập nhật kiến thức rất hạn chế. Ngay như việc bồi dưỡng giáo viên trước năm học để
triển khai thay sách giáo khoa nhìn chung cũng chưa đạt yêu cầu cả về lý luận và kỹ năng để thay
đổi phương pháp giáo dục, do việc bồi dưỡng giáo viên, chuẩn bị nâng cấp trường, lớp, thiết bị dạy
học theo yêu cầu đổi mới chương trình đã không quan tâm giải quyết đồng bộ với việc chuẩn bị
sách giáo khoa. Điề
u này giải thích được tại sao giáo viên còn lúng túng và một số không nhỏ giáo
viên chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới chương trình, thay sách giáo khoa.
– Ba là, giữa các môn học có tình trạng vừa thừa, vừa thiếu giáo viên, đặc biệt là thừa số
giáo viên không có khả năng đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ và thiếu giáo viên âm nhạc, mỹ thuật, công
nghệ, thể dục thể thao trong các trường phổ thông. Tình trạng này đã kéo dài trong nhiều năm, chủ
yếu là do Bộ Giáo dục và Đào tạo và Bộ Nội vụ chưa tham mưu để Chính phủ đưa ra được nh
ững
quyết định cụ thể nhằm giải quyết số giáo viên dư và bổ sung những giáo viên âm nhạc, mỹ thuật,
công nghệ, thể dục thể thao, nhân viên thí nghiệm, thư viện để nhà trường có điều kiện thực hiện
mục tiêu giáo dục toàn diện về trí, đức, thể, mỹ.
– Bốn là, vào những năm đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX, nguồn cán bộ khoa họ
c và công
nghệ được đào tạo ở Liên Xô (cũ) và các nước Đông Âu hàng năm bổ sung cho đội ngũ giảng viên
ở các trường đại học không còn, nên công tác đào tạo, bồi dưỡng giảng viên đại học chủ yếu được
thực hiện ở trong nước. Việc bồi dưỡng, đào tạo cán bộ giảng dạy chủ yếu là tự học, thông qua công
tác nghiên cứu khoa học nhưng phương tiện nghiên cứu thiếu và ngân sách đầu tư cho công tác
nghiên cứu khoa học ở các trường đại học cũng như chi cho việc đi th
ực tế sản xuất, thực tập
chuyên môn nghiệp vụ tại các nước có nền giáo dục phát triển rất hạn chế. Nhìn chung, đại bộ phận
nhà giáo ít có điều kiện để cập nhật kiến thức và phương pháp giáo dục hiện đại. Do đó, công tác
đào tạo, bồi dưỡng giảng viên đại học và xây dựng đội ngũ giảng viên đầu ngành rất hạn chế về số
lượng và chất lượng, dẫn đến tình trạng hẫng hụt về đội ngũ giảng viên đầu ngành ở các trường đại
học, kể cả các trường sư phạm. Chủ trương của Nhà nước giao quyền tự chủ cho các trường đại học
xây dựng kế hoạch tuyển sinh phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội và nhu cầu của xã hội là
một chủ trương
đúng. Nhưng trong tổ chức thực hiện có tình trạng mở rộng quy mô mà không quan
tâm đúng mức đến việc phát triển đội ngũ giảng viên. Nhiều trường đại học không những chỉ tăng
chỉ tiêu đào tạo chính quy, mở ra hệ cao đẳng, hệ tại chức tại trường mà còn ký hợp đồng với nhiều
tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, các cơ quan, tổ chức mở các lớp t
ại chức. Tình trạng này là
nguyên nhân dẫn đến tỷ lệ sinh viên/giảng viên quá cao, nhất là ở khối kinh tế, dịch vụ; giảng viên
bị thu hút vào giảng dạy mà không tham gia nghiên cứu khoa học nên cũng không nâng cao được
năng lực, trình độ. Do đó đội ngũ giảng viên của giáo dục đại học thiếu trầm trọng và nhìn chung
hạn chế về trình độ và phương pháp.
– Năm là, công tác quản lý giáo dục, trong đó có quản lý đội ng
ũ nhà giáo và CBQLGD còn
nhiều yếu kém. Công tác thanh tra, kiểm tra chưa kịp thời và xử lý không nghiêm minh. Công tác
giáo dục chính trị, tư tưởng, giữ gìn phẩm chất đạo đức trong đội ngũ nhà giáo và CBQLGD bị coi
nhẹ, thiếu kỷ cương và buông lỏng quản lý, để tiêu cực nảy sinh và kéo dài. Hệ thống chế độ, chính
sách cho đội ngũ nhà giáo chậm được sửa đổi, bổ sung, chưa tạo động lực để nhà giáo, CBQLGD
chuyên tâm với nghề nghiệp.
Công tác thanh tra, kiểm tra chưa được xem trọng. Đội ngũ thanh tra chuyên ngành về giáo dục
chưa đủ mạnh để thanh tra quá trình dạy và học, thi cử, cấp phát văn bằng, chứng chỉ… nên cũng
còn rất hạn chế trong việc đề xuất những giải pháp cho việc xây dựng đội ngũ nhà giáo và
CBQLGD.
1.3. Vấn đề bồi dưỡng giáo viên nói chung và giáo viên hóa học nói riêng
1.3.1. Ðề án "Xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dụ
c giai
đoạn 2005 - 2010" được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định 09 ngày 11-1-2005, nhằm
xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục theo hướng chuẩn hoá, nâng cao chất lượng,
bảo đảm đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, nâng cao trình độ chuyên môn đáp ứng đòi hỏi ngày
càng cao của sự nghiệp giáo dục trong công cuộc CNH, HÐH đất nước.
(Nguồn: Báo Nhân Dân, số 19663, ngày 27-6-2009)
Tuy nhiên, sau ba năm thực hiện, phần lớn các chỉ tiêu về số lượng, chất lượng và cơ cấu nhà
giáo đều không đạt.
Theo tính toán của Bộ Giáo dục và Ðào tạo, đến năm họ
c 2007- 2008, cả nước có hơn một triệu
55 nghìn nhà giáo, tăng 79.800 nhà giáo (7,56%) so với năm học 2004 - 2005. Trong đó, giáo dục
mầm non 172 nghìn 978 người, giáo dục phổ thông 791 nghìn 858 người, giáo dục thường xuyên
hơn 15 nghìn người, trung cấp chuyên nghiệp 14 nghìn 658 người, lĩnh vực dạy nghề 20 nghìn 190
người, giáo dục đại học, cao đẳng 56 nghìn 120 người. So với năm học 2004 - 2005, số nhà giáo
trong lĩnh vực giáo dục tiểu học giảm bình quân 1,5%/năm, giáo dục thường xuyên giảm 1 nghìn
716 giáo viên. Còn l
ại số giáo viên của các cấp học đều có mức tăng đáng kể. Bên cạnh đó, trình độ
giáo viên đạt chuẩn và trên chuẩn cũng có xu hướng tăng. Tuy nhiên, so với các mục tiêu đề ra về số
lượng, chất lượng và cơ cấu giáo viên đều không đạt hoặc rất khó đạt được.
Số lượng giáo viên còn
thiếu ở mọi cấp, bậc học và phân bố chưa đồng đều giữa các vùng, miền; tình trạng vừa thừa vừa
thiếu giáo viên cục bộ vẫn tồn tại. Nhiều địa phương có tỷ lệ giáo viên đạt chuẩn đào tạo cao nhưng
chưa tương xứng yêu cầu chất lượng giáo dục, đào tạo.
Ở cấp học mầm non, một bộ
phận giáo viên còn hạn chế về năng lực (kiến thức, kỹ năng và thái
độ) trong việc nuôi dạy trẻ. Số lượng giáo viên mầm non vẫn thiếu so với định mức quy định (ở Nhà
trẻ là xấp xỉ 11 trẻ em/giáo viên - quy định tám trẻ em/giáo viên). Trong khi đó, cấp tiểu học so với
yêu cầu dạy học hai buổi/ngày (định mức là 1,50) thì số lượng giáo viên hiện nay mới chỉ đáp ứng
được 86% nhu c
ầu, đặc biệt còn thiếu giáo viên các môn Âm nhạc, Mỹ thuật, Tin học, Thể dục,
Ngoại ngữ. Mặt khác, trong hai năm tới phải tập trung đào tạo, chuẩn hóa cho hơn 4.600 giáo viên
tiểu học trong toàn quốc thì mới đạt mục tiêu của Quyết định 09 (100% số giáo viên tiểu học đạt
chuẩn). Với cấp THCS có khả quan hơn nhưng do cơ cấu không đồng bộ, nên vẫn thiếu giáo viên
các môn: Tin học, hóa học, sinh họ
c, âm nhạc, mỹ thuật, công nghệ,
Ðáng chú ý, một số chỉ tiêu đề ra cho chất lượng của lực lượng giáo viên THPT cũng khó thành
hiện thực. Tỷ lệ 1,98 giáo viên/lớp hiện nay vẫn thấp so với định mức quy định là 2,25 giáo
viên/lớp. Mục tiêu đề án đề ra đến năm 2010 phải có 10% số giáo viên THPT có trình độ thạc sĩ trở
lên khó trở thành hiện thực vì trong hai năm tới không kịp đào tạo tám nghìn thạc sĩ cho các tr
ường
THPT (ba năm vừa qua tăng thêm một nghìn 841 thạc sĩ). Ở bậc đại học và cao đẳng, tình trạng
thiếu giảng viên vẫn chưa khắc phục, nhất là những chuyên ngành đào tạo mới, môn học mới.
Phương pháp giảng dạy, khả năng nghiên cứu khoa học vẫn là những điểm yếu của đội ngũ giảng
viên. Ðội ngũ giảng viên giỏi kế cận chư
a được chuẩn bị kịp thời để thay thế đội ngũ giảng viên đầu
ngành là giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ đến tuổi nghỉ hưu. Với bậc đại học, tỷ lệ bình quân hiện nay là
30,89 sinh viên/giảng viên, thậm chí có một số trường tỷ lệ lên tới gần 100 sinh viên/giảng viên. Ở
bậc cao đẳng tỷ lệ bình quân là 23,32 sinh viên/giảng viên hiện vẫn còn ở mức cao. So với chỉ tiêu
đề ra tại Ðề án 09 là 20 sinh viên/giảng viên ở bậc cao đẳng thì với quy mô sinh viên như hiện nay
cần phả
i tuyển thêm 21 nghìn 783 giảng viên nữa là rất khó thực hiện được trong vài năm tới. Như
vậy, so với chỉ tiêu đặt ra trong Ðề án 09, đến năm 2010 phải có 40% số giảng viên đại học, cao
đẳng có trình độ thạc sĩ chỉ có thể đạt được ở các trường ÐH nhưng khó có thể đạt được đối với các
trường CÐ. Riêng chỉ tiêu 25% số giảng viên ÐH, CÐ đạt trình độ tiến sĩ vào năm 2010 vẫn còn là
khoả
ng cách xa. Mạng lưới các trường, khoa sư phạm tuy phủ rộng các vùng miền nhưng còn thiếu
sự liên kết và thiếu các trung tâm sư phạm mạnh ở từng khu vực để hỗ trợ các cơ sở sư phạm khác
thuộc tỉnh vùng sâu, vùng xa. Ðội ngũ giảng viên sư phạm vẫn còn thiếu về số lượng, hạn chế về
trình độ, tính tỷ lệ tiến sĩ trong các trường cao đẳng, đạ
i học khối sư phạm vẫn thấp hơn so với tỷ lệ
chung của giáo dục đại học, chất lượng đào tạo giữa các trường đồng cấp còn có độ chênh lệch lớn.
Cần một lộ trình gắn với thực tiễn
Một trong những nguyên nhân khiến tình trạng giáo viên hiện nay còn nhiều bất cập do công tác
dự báo và quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡ
ng và sử dụng nhà giáo chưa được chú trọng đúng
mức và chưa có những biện pháp có hiệu quả để đáp ứng nhu cầu sử dụng và yêu cầu đổi mới giáo
dục. Công tác đào tạo, bồi dưỡng nhà giáo đạt chuẩn, trên chuẩn còn nặng về số lượng chưa được
quan tâm nhiều đến chất lượng. Chương trình, nội dung, phương pháp đào tạo, bồi dưỡng còn nặng
về lý thuyết, chưa sát thực tế, chưa trang bị đủ cho người học những kỹ năng cần thiết; hình thức
đào tạo, bồi dưỡng không đa dạng, hiệu quả hạn chế
Theo GS.TS Bùi Văn Ga, Giám đốc Ðại học Ðà Nẵng, thực trạng chất lượng giáo viên hiện nay
không thể giải quyết một sớm, một chiều, như Ðại học Ðà Nẵng hiện có tỷ lệ 31,6 sinh viên/giảng
viên. Nếu thực hiện ngay theo tiêu chuẩn 20 sinh viên/giảng viên thì Ðại học Ðà Nẵng có thêm 800
giảng viên với tổng kinh phí chi trả cho mỗi năm khoảng 35 tỷ đồng. Vì vậy, cần có sự phối hợp
chặ
t chẽ giữa các bộ ngành, đồng thời rà soát lại tổng thể năng lực giáo dục đào tạo trên cả nước để
có cơ sở điều chỉnh, phân bố kinh phí cho phù hợp thực tế đào tạo từ cơ sở. Theo ông Huỳnh Công
Minh, Giám đốc Sở Giáo dục và Ðào tạo TP Hồ Chí Minh, vấn đề là cần có một lộ trình giảm tỷ lệ
học sinh, sinh viên/nhà giáo, tránh đào tạo theo số đ
ông. Mặt khác, trong yêu cầu đặt ra về trình độ
chuyên môn cao của giáo viên tiếp cận hội nhập cũng cần xét đến những cơ chế, điều kiện giúp giáo
viên có thể hội nhập được.
Bộ trưởng Giáo dục và Ðào tạo Nguyễn Thiện Nhân khẳng định: Lực lượng nhà giáo nước ta
hiện đang gặp khó khăn và bất cập ở tất cả các bậc học. Thời gian tới, các trường s
ư phạm phải là
đầu tàu về đổi mới nội dung, phương pháp giảng dạy để kéo cả hệ thống giáo dục quốc dân đi lên.
Cần thành lập Hội đồng Hiệu trưởng các trường sư phạm, tạo sức mạnh tổng hợp nhằm xây dựng bộ
giáo trình dùng chung tiên tiến, hiện đại của khối sư phạm. Ngành sẽ tiến hành rà soát, đánh giá lại
tổng thể chất lượng giáo viên, sinh viên, quy trình quản lý, đào tạo, khối sư phạm, tiến tới xây
dựng Quy chế quản lý giáo viên trong hệ thống sư phạm. Cuối nă
m 2009 đầu năm 2010, rà soát để
có đánh giá, định hướng chính xác các trường sư phạm và trường có đào tạo sư phạm. Với các
trường đại học, cao đẳng nói chung, nếu không đạt được chỉ tiêu về trình độ giảng viên phải có lộ
trình khắc phục, không cần phải xem xét lại. Các trường và các cơ sở giáo dục cần nghiêm túc xác
định được số giáo viên yếu kém Với các địa phương, trong chương trình công tác hằng năm cầ
n
có lộ trình giải quyết vấn đề mất cân đối giáo viên, tuyển chọn giáo viên phải dựa trên năng lực thực
tế, tránh dựa quá nhiều vào điểm số. Sắp tới, Bộ trưởng Giáo dục Ðào tạo sẽ ban hành Chỉ thị về
phát triển đội ngũ nhà giáo. Bên cạnh đó, cần rà soát lại các cơ chế chính sách đối với nhà giáo và
quản lý giáo dục; đồng thời đổi mới cơ ch
ế quản lý của ngành giáo dục nhằm nâng cao chất lượng
đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục nói riêng, chất lượng giáo dục và đào tạo nói chung.
1.3.2. Cơ chế đào tạo – bồi dưỡng giáo viên hiện nay
(Nguồn : Báo Tuổi trẻ, ngày 19-12-2004)
Chất lượng của giáo dục được quyết định phần lớn bởi chất lượng của đội ngũ giáo viên. Do
vậy, xã hội luôn đòi hỏi người th
ầy phải tâm huyết, phải tận tụy với nghề, phải có chuyên môn vững
vàng, có trách nhiệm với các thế hệ mà mình đào tạo.
Quá trình phát triển trình độ và phẩm chất của mỗi người thầy chịu ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố
khách quan và chủ quan khác nhau. Ở đây, chỉ xin đề cập đến những bất cập mang tính khách quan
liên quan đến cơ chế đào tạo - bồi dưỡng và sử dụ
ng người thầy hiện nay.
1. Khuynh hướng “phân lập” giữa đào tạo và sử dụng
Có thể thấy một số biểu hiện cơ bản của khuynh hướng này như sau:
– Mối liên kết lỏng lẻo và sự hợp tác chỉ có tính sự vụ giữa các trường đại học và cao đẳng
sư phạm với các trường phổ thông.
– Những ý tưởng mới về phương pháp dạy học và giáo dục của đội ngũ đào tạo giáo viên ở
các trường sư phạm, viện nghiên cứu thường ít được tiến cử và vận dụng một cách chính thống và
hệ thống vào trường phổ thông. Hoặc ngược lại, đại học và cao đẳng sư phạm đi sau trường phổ
thông trong việc đổi mới phương pháp giáo dục.
– Đội ngũ giảng viên sư phạm ít tham gia nghiên cứu khoa học sư phạm nhằm góp phần cải
tiến và phát triển trình độ nghiệp vụ cho đội ngũ giáo viên đương nhiệm. Ngược lại, nếu có tham
gia nghiên cứu thì đội ngũ giảng viên cũng ít nhận được sự ủng hộ và hợp tác một cách có kế hoạch
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét