Thứ Năm, 13 tháng 2, 2014

Xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

A/MỞĐẦU
Kinh tế thị trường phát triển từ sơ khai đến hiện đại là một công trình sáng
tạo của loài người trong quá trình sản xuất và trao đổi ,đó là trình độ văn
minh mà nhân loại đãđạt được.Kinh tế thị trường bao giờ cũng tồn tại dưới
một thể chế chính trị ,một chếđộ chính trị .Nhờ sử dụng triệt để ,chủ nghĩa tư
bản đãđạt được những thành tựu về kinh tế – xã hội,phát triển lực lượng sản
xuất ,nâng cao năng xuất lao động .Cũng nhờ kinh tế thị trường ,quản lý xã
hội đạt được những thành quả về văn minh hành chính ,văn minh công
cộng ,con người nhạy cảm ,tinh tế với khả năng sáng tạo ,sự thách thức đua
tranh phát triển .Vì vây “Xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam ”là một tất yếu khách quan, phù hợp với
xu thế thời đại và cũng giúp nước ta bước sang giai đoạn mới :giai đoạn độc
lập dân tộc gắn với phát triển kinh tế một cách toàn diện ,cải thiện sâu sắc
đời sống nhân dân.
Ngay trong vă kiện đại hội VIII ,Đảng ta đã khẳng định “Sản xuất
hàng hóa là thành tựu ,văn minh của nhân loại ”,chúng ta không chỉ kiên
định “Không bỏ qua kinh tế hàng hóa ”như văn kiện đại hội VI đã nêu ,mà
còn khẳng định kinh tế thị trường còn tồn tại khách quan cho đến khi chủ
nghỉa xã hội được xây dựng .Trong dự thảo văn kiện đại hội IX lại tiếp tục
khẳng định “Đảng và Nhà nước ta chủ trương thực hiện nhất quán và lâu dài
chính sách phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần ,vận hành theo
cơ chế thị trường ,có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ
nghĩa ”
Vì vậy,làm đềán này tôi muốn đưa ra cách nhìn tổng quát về nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam cùng một số giải
pháp cơ bản nhằm phát triển hoàn thiện hơn nữa nền kinh tế nước nhà.Qua
đây tôi cũng xin chân thành cảm ơn cô giáo PGS.TS Đào Phương Liên cùng
tập thể tác giả của những tài liệu đã giúp tôi hoàn thành đềán này.
1
B/NỘIDUNG
I/LÝLUẬNCHUNG
1. Vài nét về nền kinh tế thị trường :
a. Một số khái niệm
Trong mô hình cũ của chủ nghĩa xã hội, sự vận hành của nền kinh tế chủ yếu
dựa trên mệnh lệnh, kế hoạch của Nhà nước và một số hệ thống bao cấp từ
sản xuất đến tiêu dùng. Cơ chế kinh tế này, tuy có ưu điểm là tránh được sự
phân cực xã hội, nhưng lại bộc lộ nhiều nhược điểm cơ bản. Chẳng những
các quy luật kinh tế khách quan bị coi thường, mà tính tự chủ, năng động,
sáng tạo của người lao động cũng không được phát huy một cách đầy đủ. Sự
nghiệp đổi mới được tiến hành hơn 10 năm qua ở nước ta gắn liền với việc
phát triển kinh tế nhiều thành phần vận hành theocơ chế thị trường, nền kinh
tế mà chúng ta đang xây dựng là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa.
Trước hết ta tìm hiểu một số khái niệm: Khái niệm kinh tế hàng hoá, thị
trường, cơ chế thị trường.
* Kinh tế hàng hoá: Là kiểu tổ chức kinh tế - xã hội mà trong đó hình thái
kinh tế phổ biến của sản xuất là sản xuất ra sản phẩm để bán, để trao đổi trên
thị trường.
* Thị trường: Trong nền sản xuất, mọi sản phẩm hàng hoá và dịch vụ đều
được mua bán trên thị trường. Thị trường là một tập hợp tất yếu và hữu cơ
của toàn bộ quá trình sản xuất và lưu thông hàng hoá.
Từ đó ta có khái niệm: “KTTT là trình dộ phát triển cao của kinh tế hàng
hóa màởđó tất cả các yếu tốđầu vào vàđầu ra cho sản xuất kinh doanh đều
được mua bán thông qua và do thị trường quyết định .” .
Trong hội thảo “Phấn đấu đưa nghị quyết của Đảng vào cuộc sống” có
hai loại ý kiến khác nhau.
Một là, xem kinh tế thị trường là phương thức vận hành kinh tế lấy thị
trường hình thành do trao đổi và lưu thông hàng hoá làm người phân phối
các nguồn lực chủ yếu, lấy lợi ích vật chất, cung cầu, thị trường mua và bán
giữa hai bên làm cơ chế khuyến khích hoạt động kinh tế. Nó là một phương
thức tổ chức vận hành kinh tế - xã hội. Tự nó không mang tính kinh tế - xã
hội, không tốt mà cũng không xấu. Tốt hay xấu là do người sử dụng nó.
Theo quan điểm này, kinh tế thị trường là vật “trung tính”,là “công nghệ sản
xuất” ai sử dụng cũng được.
2
Hai là, xem kinh tế thị trường là một loại quan hệ kinh tế - chính trị - xã
hội, nó in đậm dấu của lực lượng xã hội làm chủ thị trường. Kinh tế thị
trường là một phạm trù kinh tế hoạt động có chủ thể của quá trình hoạt động
đó, có sự tác động lẫn nhau của các chủ thể hoạt động. Trong xã hội có giai
cấp, chủ thể hoạt động trong kinh tế thị trường không phải chỉ là cái riêng lẻ
đó còn là những tập đoàn xã hội, những giai cấp. Sự hoạt động qua lại của
các chủ thể hành động đó có thể có lợi cho người này tầng lớp hay giai cấp
này, có hại cho tầng lớp hay giai cấp khác cho nên kinh tế thị trường có mặt
tích cực, có mặt tiêu cực nhất định không thể nhấn mạnh chỉ một mặt trong
hai mặt đó.
Hiện nay không có một nước nào trên thế giới có nền kinh tế thị trường
vận động theo cơ chế thị trường “hoàn hảo”, hoàn toàn do sự chi phối của
“bàn tay vô hình” theo cách nói của Adam Smith, nhà kinh tế chính trị học
tư sản cổ điển Anh ở thế kỉ XVIII mà trái lại chúng đều vận động theo cơ
chế thị trường có sự điều tiết của nhà nước ở những mức độ và phạm vi khác
nhau. Và ở nước ta kinh tế thị trường mà Đảng và Nhà nước ta chủ trương
xây dựng và phát triển trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội, là “nền
kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vận động theo
cơ chế thị trường có sự quản lí của nhà nước.”
b. Đặc điểm của nền kinh tế
Có thể nói, kinh tế thị trường là kinh tế hàng hoá phát triển ở giai đoạn cao.
Kinh tế thị trường là loại hình mà trong đó, các mối quan hệ kinh tế giữa con
người với con người được biểu hiện thông qua thị trường, tức là thông qua
việc mua – bán, trao đổi hàng hoá - tiền tệ. Trong kinh tế thị trường các quan
hệ hàng hoá - tiền tệ phát triển, mở rộng, bao quát nhiều lĩnh vực, có ý nghĩa
phổ biến đối với người sản xuất và người tiêu dùng. Do nảy sinh và hoạt
động một cách khách quan trong những điều kiện lịch sử nhất định, kinh tế
thị trường phản ánh trình độ văn minh và sự phát triển của xã hội, là nhân tố
phát triển sức sản xuất, tăng trưởng kinh tế, thúc đẩy xã hội tiến lên. Tuy
nhiên, kinh tế thị trường cũng có những khuyết tật tự thân, đặc biệt là tính tự
phát mù quáng, sự cạnh tranh lạnh lùng, dẫn đến sự phá sản, thất nghiệp,
khủng hoảng chu kỳ
Kinh tế thị trường trước hết là kinh tế hàng hoá, với đặc trưng phổ biến
của nó là người sản xuất làm ra sản phẩm với mục đích để bán, để trao đổi
chứ không phải để tự tiêu dùng, hay sản phẩm dư thừa ngẫu nhiên như
trước.
Kinh tế thị trường là nền kinh tế có sự đa dạng về hình thức sở hữu, về
thành phần kinh tế, về hình thức phân phối.
Kinh tế thị trường được sử dụng như một công cụ, một phương tiện để
phát triển lực lượng sản xuất, phát triển kinh tế phục vụ lợi ích của đa số
3
nhân dân lao động nhằm mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng
văn minh.
Kinh tế thị trường là nguồn lực tổng hợp to lớn về nhiều mặt có khả năng
đưa nền kinh tế vượt qua khỏi thực trạng thấp kém, đưa nền kinh tế hàng hoá
phát triển kể cả trong điều kiện vốn, ngân sách Nhà nước còn hạn hẹp.
Kinh tế thị trường luôn vận động, phát triển tái sinh, do đó để nâng cao
hiệu lực quản lý của Nhà nước, các chính sách kinh tế vĩ mô phải thường
xuyên được bổ sung hoàn thiện.
Kinh tế thị trường gắn liền với Nhà nước pháp quyền và Nhà nước sẽ
quản lý chủ yếu bằng pháp luật.
2. Kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
a.Sự cần thiết khách quan phải phát triển kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa ở nước ta
Lịch sử nhân loại đã chứng kiến nhiều mô hình kinh tế khác nhau. Mỗi mô
hình đó là sản phẩm của trình độ nhận thức nhất định trong những điều kiện
lịch sử cụ thể. Có thể khái quát rằng, lịch sử phát triển của sản xuất và đời
sống của nhân loại đã và đang trải qua hai kiểu tổ chức kinh tế thích ứng với
trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội, hai
thời đại kinh tế khác hẳn nhau về chất. Đó là thời đại kinh tế tự nhiên, tự
cung- tự cấp; và thời đại kinh tế hàng hoá mà giai đoạn cao của nó được gọi
là kinh tế thị trường.
Kinh tế tự nhiên là kiểu tổ chức kinh tế - xã hội đầu tiên của nhân loại. .
Nó được bó hẹp trong quan hệ tuần hoàn khép kín giữa con người và tự
nhiên, mà tiêu biểu là giữa lao động và đất đai làm nền tảng. Hoạt động kinh
tế gắn liền với xã hội sinh tồn, với kinh tế nông nghiệp tự cung tự cấp. Nó đã
tồn tại và thống trị trong các xã hội Cộng sản nguyên thuỷ, chiếm hữu nô lệ,
phong kiến và tuy không còn giữ địa vị thống trị nhưng vẫn còn tồn tại trong
xã hội tư bản cho đến ngày nay. Kinh tế tự nhiên, hiện vật, sinh tồn, tự cung
- tự cấp gắn liền với quan niệm truyền thống về kinh tế xã hội chủ nghĩa tuy
đã có tác dụng trong điều kiện chiến tranh, góp phần mang lại chiến thắng vẻ
vang của dân tộc ta, song khi chuyển sang xây dựng và phát triể kinh tế,
chính mô hình đó đã tạo ra nhiều khuyết tật, nền kinh tế không có động lực,
không có sức đua tranh, không phát huy được tính chủ động sáng tạo của
người lao động, của các chủ thể sản xuất – kinh doanh, sản xuất không gắn
với nhu cầu, ý chí chủ quan đã làm lấn át khách quan và triệt tiêu mọi động
lực- sức mạnh nội sinh của bản thân nền kinh tế, đã làm cho nền kinh tế suy
thoái thiếu hụt, hiệu quả thấp, nhiều mục tiêu của chủ nghĩa xã hội không
thực hiện được.
Kinh tế hàng hoá, bắt đầu bằng kinh tế hàng hoá đơn giản, ra đời từ khi
chế độ Cộng sản nguyên thuỷ tan rã, dựa trên hai tiền đề cơ bản là có sự
4
phân công lao động xã hội và có sự tách biệt về kinh tế do chế độ sở hữu
khác nhau về tư liệu sản xuất. Chuyển từ kinh tế tự nhiên, tự cung - tự cấp
sang kinh tế hàng hoá là đánh dấu bước chuyển sang thời đại kinh tế của sự
phát triển, thời đại văn minh của nhân loại. Trong lịch sử của mình, vì thế
của kinh tế hàng hoá cũng dần được đổi thay: từ chỗ như là kiểu tổ chức
kinh tế - xã hôi không phổ biến, không hợp thời trong xã hội chiếm hữu nô
lệ của những người thợ thủ công và nhân dân tự do, đến chỗ được thừa nhận
trong xã hội phong kiến và đến chủ nghĩa tư bản thì kinh tế hàng hoá giản
đơn không những được thừa nhận mà còn phát triển lên giai đoạn cao hơn đó
là kinh tế thị trường.
Kinh tế thị trường là giai đoạn phát triển cao của kinh tế hàng hoá, cũng
đã trải qua ba giai đoạn phát triển.
 Giai đoạn thứ nhất, là giai đoạn chuyển từ kinh tế hàng hoá giản đơn
sang kinh tế thị trường.
 Giai đoạn thứ hai là giai đoạn phát triển kinh tế thị trường tự do. Đặc
trưng quan trọng nhất của giai đoạn này là sự phát triển kinh tế diễn ra
theo tinh thần tự do, Nhà nước không can thiệp vào hoạt động kinh tế.
 Giai đoạn thứ ba là giai đoạn kinh tế thị trường hiện đại. Đặc trưng
của giai đoạn này là Nhà nước can thiệp vào kinh tế thị trường và mở
rộng giao lưu kinh tế với nước ngoài.
Kinh tế thị trường có những đặc điểm cơ bản như: phát triển kinh tế
hàng hoá, mở rộng thị trường, tự do kinh doanh, tự do thương mại, tự định
giá cả, đa dạng hoá sở hữu, phân phối do quan hệ cung cầu Đó là cơ chế
hỗn hợp “có sự điều tiết vĩ mô” của Nhà nước để khắc phục những khuyết
tật của nó.
Mặc dù sự hình thành và phát triển của kinh tế hàng hóa tự phát sẽ
“hàng ngày hàng giờ đẻ ra chủ nghĩa tư bản” và sự phát triển của kinh tế thị
trường trong lịch sử diễn ra đồng thời với sự hình thành và phát triển của
chủ nghĩa tư bản, nhưng tuyệt nhiên, kinh tế thị trường không phải là chế độ
kinh tế - xã hội. Kinh tế thị trường là hình thức và phương pháp vận hành
kinh tế. Đây là một kiểu tổ chức kinh tế hình thành và phát triển do những
đòi hỏi khách quan của sự phát triển lực lượng sản xuất. Nó là phương thức
sinh hoạt kinh tế của sự phát triển. Quá trình hình thành và phát triển kinh tế
thị trường là quá trình mở rộng phân công lao động xã hội, phát triển khoa
học – công nghệ mới và ứng dụng chúng vào thực tiễn sản xuất kinh doanh.
Sự phát triển của kinh tế thị trường gắn liền với quá trình phát triển của nền
văn minh nhân loại, của khoa học - kỹ thuật, của lực lượng sản xuất.
Cho đến cuối những năm 80, về cơ bản, trong nền kinh tế nước ta,sản
xuất nhỏ vẫn còn là phổ biến, trạng thái kinh tế tự nhiên, hiện vật, tự cung-
tự cấp còn chiêm ưu thế. Xã hội Việt Nam, về cơ bản vẫn dựa trên nền tảng
5
của văn minh nông nghiệp lúa nước, nông dân chiếm đại đa số. Việt Nam
vẫn là một nước nghèo nàn, lạc hậu và kém phát triển. Phát triển trở thành
nhiệm vụ, mục tiêu số một đối với toàn Đảng, toàn dân ta trong bước đường
đi tới. Muốn vậy phải chuyển toàn bộ nền kinh tế quốc dân sang trạng thái
của sự phát triển, là phát triển nền kinh tế thị trường, cùng với nó là thực
hiện công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Sự phát triển kinh tế xã hội nào rút cuộc cũng nhằm mục tiêu xã hội,
nhân văn nhất định, cả sự thay đổi về chất (những biến đổi về mặt xã hội).
Học thuyết về hình thái kinh tế xã hội của C.Mác là một thành tựu khoa học
của loài người. Nó phác họa quy luật vận động tổng quát của nhân loại, và
sự phát triển của xã hội loài người sẽ tiến tới Chủ nghĩa Cộng sản mà giai
đoạn thấp của nó là chủ nghĩa xã hội. Chủ nghĩa xã hội không đối lập với
phát triển, với kinh tế thị trường, mà là một nấc thang phát triển của cả loài
người được đánh dấu bằng tiến bộ xã hội của sự phát triển. Nó là thách thức
giải quyết các quan hệ xã hội, là một sự thiết lập một trật tự xã hội với mục
tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng văn minh. Cuộc đấu tranh cách
mạng trường kỳ gian khổ và quyết liệt của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của
Đảng cộng sản Việt Nam đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh nhằm giải
phóng nhân dân lao động đem lại cuộc sống hạnh phúc và giàu sang cho
nhân dân lao động. Vì vậy, sự phát triển của Việt Nam trong hiện tại và
tương lai phải là sự phát triển vì sự giàu có, phồn vinh, của toàn dân tộc, là
sự phát triển mang tính xã hội chủ nghĩa, là sự phát triển hiện đại. Nghĩa là,
chúng ta phải phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
b. Đặc trưng, bản chất của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa ở Việt Nam
Chuyển nền kinh tế từ họat động theo cơ chế kế hoạch tập trung hành chính,
quan liêu bao cấp sang phát triên nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành
theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội
chủ nghĩa là nội dung, bản chất và đặc điểm khái quát nhất đối với nền kinh
tế nước ta trong hiện nay và tương lai. Đặc biệt, cương lĩnh xây dựng đất
nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, được Đại hội đại biểu toàn
quốc của Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ VII thông qua vào năm 1991 đã
nêu lên những đặc trưng bản chất của nền kinh tế thị trường và phát triển
nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Thứ nhất, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mà nước
ta xây dựng là nền kinh tế thị trường hiện đại với tính chất xã hội hiện đại.
Mặc dù nền kinh té nước ta đang nằm trong tình trạng lạc hậu và kém phát
triển nhưng khi nước ta chuyển sang phát triển kinh tế hoàng hóa, kinh tế thị
trường, thì thế giới đã chuyển sang giai đoạn kinh tế thị trường hiện đại . Bởi
vậy, chúng ta không thể và không nhất thiết phải trải qua giai đoạn kinh tế
6
hàng hóa giản đơn và giai đoạn kinh tế thị trường tự do mà đi thẳng vào phát
triển kinh tế thị trường hiện đại. Mặt khác, thế giới vẫn đang nằm trong thời
đại quá độ tự chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, cho nên sự phát triển
kinh tế xã hội nước ta phải theo định hướng xã hội chủ nghĩa là cần thiết
khách quan và cũng là nội dung yêu cầu của sự phát triên rút ngắn. Sự
nghiệp “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng và văn minh” vừa là mục
tiêu, vừa là nội dung, nhiệm vụ của việc phát triển kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta.
Thứ hai, nền kinh tế của chúng ta là nền kinh tế hỗn hợp nhiều thành
phần với vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước trong một số lĩnh vực, nền
kinh tế thị trường phải là một nền kinh tế đa thành phần, đa hình thức sở
hữu. Thế nhưng, nền kinh tế thị trường mà chúng ta sẽ xây dựng là nền kinh
tế thị trường hiện đại, cho nên cần có sự tham gia bởi “Bàn tay hữu hình”
của nhà nước trong việc điều tiết, quản lý nền kinh tế đó. Đồng thời, chính
nó sẽ bảo đảm sự định hướng phát triển của nền kinh tế thị trường. Việc xây
dựng kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo là sự khác biệt có tính chất bản
chất giữa kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với kinh tế thị
trường tư bản chủ nghĩa. Tính định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế ở
nước ta đã quy định kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo, bởi lẽ, mỗi một
chế độ xã hội đều có một cơ sở tương ứng với nó. Kinh tế nhà nước tạo cơ
sở cho chế độ xã hội mới, chế độ xã hội chủ nghĩa.
Thứ ba, nhà nước quản lý nền kinh tế thị trường theo định hướng xã
hội chủ nghĩa ở nước ta là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, là nhà
nước của dân, do dân và vì dân. Thành tố quan trọng mang tính quyết định
trong nền kinh tế thị trường hiện đại là nhà nước tham gia vào các quá trình
kinh tế. Nhà nước ta là nhà nước “của dân, do dân và vì dân”, nhà nước công
nông, nhà nước của đại đa số nhân dân lao động, đặt dưới sự lãnh đạo của
Đảng cộng sản Việt Nam. Nó có đủ bản lĩnh, khả năng và đang tự đổi mới để
bảo đảm giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong việc phát triển nền
kinh tế thị trường hiện đại ở nước ta.
Thứ tư, cơ chế vân hành của nền kinh tế được thực hiện thông qua cơ
chế thị trường với sự tham gia quản lý, điều tiết của Nhà nước. Mọi hoạt
động sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế được thực hiện thông qua thị
trường. Điều đó có nghĩa là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa ở nước ta vận động theo những quy luật nội tại của nền kinh tế thị
trường nói chung, thị trường có vai trò khắc phục những “thất bại của thị
trường”, thực hiện các mục tiêu xã hội, nhân đạo mà bản thân thị trường
không thể làm được.
Vai trò quản lý của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường hết sức
quan trọng. Sự quản lý của Nhà nước bảo đảm cho nền kinh tế tăng trưởng
7
ổn định, đạt hiệu quả, đặc biệt là bảo đảm sự công băng và tiến bộ xã hội.
Không có ai ngoài nhà nước lại có thể giảm bớt sự chênh lệch giữa giàu và
nghèo, giữa thành thị và nông thôn, giữa công nghiệp và nông nghiệp, giữa
các vùng của đất nước ta. Quá trình phát triển của kinh tế thị trường đi liền
với xã hội hóa nền sản xuất xã hội. Tiến trình xã hội hóa trên cơ sở phát triển
của kinh tế thị trường là không có biên giới quốc gia về phương diện kinh tế.
Một trong những đặc trưng quan trọng của kinh tế thị trường là việc mở rộng
giao lưu kinh tế với ngày càng phát triển và trở thành xu thế tất yếu trong
thời đại của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện nay. Tranh thủ thuận
lợi và cơ hội, tránh nguy cơ tụt hậu xa hơn và vượt qua thách thức là yêu cầu
nhất thiết phải thực hiện. Để phát triển tron gđiều kiện của kinh tế thị trường
hiện đại, Việt Nam không thể đóng cửa, khép kín nền kinh tế trong trạng thái
tự cung tự cấp mà phải mở cửa, hội nhập với nền kinh tế thế giới trên cơ sở
phát huy lợi thế so sánh và không ngừng nâng cao sức cạnh tranh của nền
kinh tế, giữ vững độc lập, tự chủ và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia.
Thứ năm, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đồng thời với việc đảm bảo
công bằng xã hội cũng là một nội dung rất quan trọng trong nền kinh tế thị
trường ở nước ta. Phát triển trong công bằng được hiểu là những chính sách
phát triển phải đảm bảo sự công bằng xã hội, là tạo cho mọi tầng lớp nhân
dân đều có thể tham gia vào quá trình phát triển và được hưởng những thành
quả tương xứng với sức lực, khả năng và trí tuệ họ bỏ ra, là giảm bớt chệnh
lệch giàu nghèo giữa các tầng lớp dân cư giữa cac vùng. Khác với nhiều
nước, chúng ta phát triển kinh tế thị trường nhưng chủ trương bảo đảm công
băng xã hội, thực hiện sự thống nhất giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng
xã hội, trong tất cả các giai đoạn của sự phát triển kinh tế ở nước ta. Mức độ
bảo đảm công bằng xã hội phụ thuộc vào sự phát triển, khả năng và sức
manh kinh tế của quốc gia.
Tóm lại, quá trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa ở nước phải là “Quá trình thực hiện dân giàu nước mạnh, tiến lên
hiện đại trong một xã hội nhân dân làm chủ, nhân ái, có văn hóa, có kỉ
cương, xóa bỏ áp bức bất công tạo điều kiện cho mọi người có cuộc sống ấm
no, tự do hạnh phúc”.
II/THỰCTRẠNG
1.thành tựu
Từ những đặc trưng và sự phát triển đúng hướng của nền kinh tế thị trường ở
nước ta chúng ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn:
* Nền kinh tế Việt Nam chuyển dần từ nền kinh tế kế hoạch hóa
toàn diện, khép kín sang một nền kinh tế thị trường mới.
8
- Năm 1991 Đại hội VII của Đảng nhận định “Công cuộc đổi mới đã
đạt được những thành tựu bước đầu quan trọng nhưng nưốc ta vẫn chưa
thoát khỏi khủng hoảng kinh tế xã hội”.
- Năm 1996 Đại hội đảng VIII nhận định “Nước ta đã ra khỏi cuộc
khủng hoảng kinh tế xã hội, nhưng một số mặt còn chưa được củng cố vững
chắc”. Nền kinh tế Việt Nam đã ra khỏi khủng hoảng với nhịp độ tăng
trưởng kinh tế ngày càng cao tốc độ tăng GDP bình quân thời kỳ 1986-1990
là 3.6%; 1991-1995 là 8.2%; 1996-2000 là 7%.
* Lạm phát được đẩy lùi từ 67.4% năm 1990 xuống 12.7% năm
1995, 0.1% năm 1999 và 0% năm 2000. Phá được thế bao vây cấm vận, mở
rộng quan hệ đối ngoại và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, thu hút vốn
đầu tư nước ngoài cung nhiều công nghệ và kinh nghiệm quản lý tiên tiến.
* Điều kiện vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện rõ
rệt, văn hóa không ngừng tiến bộ. Việt Nam tự một nước thiếu lương thực
đã trở thành một nước đã có những biến đổi to lớn trên mọi lĩnh vực.
Đại hội IX khẳng định: “Đảng và Nhà nước ta chủ trương thực hiện
nhất quán và lâu dài chính sách phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần
vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng
xã hội chủ nghĩa, đó là nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ
nghĩa”
Chủ trương xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa thể hiện tư duy, quan niệm của đảng ta về sự phù hợp giữa
quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ củ lực lượng sản xuất. Đó là mô
hình kinh tế tổng quát của nước ta trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Trong công cuộc đổi mới hiện nay, Đại hội IX đảng ta một lần nữa
khẳng định “Thực tiễn phong phú và những thành tựu thu được qua 15 năm
đổi mới đã chứng minh tính đúng đắn của cương lĩnh được thông qua tại đại
hội VII của Đảng đồng thời giúp đảng ta nhận thức ngày càng rõ hơn về con
đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Chúng ta một lần nữa khẳng định:
Cương lĩnh là ngọn cờ chiến đấu vì thắng lợi của sự nghiệp xây dựng nước
Việt Nam từng bước quá độ lên chủ nghĩa xã hội định hướng cho mọi hoạt
động của Đảng ta hiện nay và trong những thập kỉ tới. Đảng và nhân dân ta
quyết tâm xây dựng đất nước Việt Nam theo con đường xã hội chủ nghĩa
trên nền tảng chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.
2. Thực trạng
* Trình độ phát triển nền kinh tế thị trường ở nước ta còn ở giai đoạn
sơ khai do cơ sở vật chất kĩ thuật còn ở trình độ thấp. Theo UNDP Việt Nam
đang ở trình độ công nghệ lạc hậu 2/7 của thế giới, thiết bị máy móc lạc hậu
2-3 thế hệ (có lĩnh vực 4-5 thế hệ); năng suất lao động của nước ta chỉ bằng
30% mức trung bình của thế giới đứng thứ 77/125
9
Kết cấu hạ tầng còn lạc hậu, nền kinh tế chưa thoát khỏi nền kinh tế
nông nghiệp sản xuất nhỏ:xếp 83/125về kết cấu hạ tầng(2006). Khả năng
cạnh tranh của các doanh nghiệp trên thị trường thị trong nước cũng như thị
trường nước ngoài còn rất yếu.
* Thị trường dân tộc thống nhất đang trong quá trình hình thành
nhưng chưa đồng bộ
Thị trường hàng hóa ,tiêu dùng và dịch vụ cạnh tranh thấp và còn
nhiều hiện tượng tiêu cực :hàng giả,hàng lậu,hàng nhái tràn lan
Thị trường sức lao động hoạt động còn mang tính tự phát ,sức
cung về lao động lành nghề nhỏ hơn rất nhiều,trong khi cung về sức lao
động giản đơn lại vượt quá xa cầu.
Thị trường tài chính, tiền tệ bước đầu hình thành ,giao dịch tiền mặt
chiếm phần lớn .Còn rất nhiều trắc trở như nhiều doanh nghiệp rất thiếu vốn
nhưng không vay dược vì vướng mắc thủ tục trong khi nhiều ngân hàng
thương mại huy động được tiền gửi mà không thể cho vay đểứđọng trong két
dư nợ quá hạn đến mức báo động .
Thị trường bất động sản mới hình thành nhạy cảm cao ,giao dịch
ngầm chiếm 70% và giá cả còn mang tính đầu cơ.
* Nhiều thành phần kinh tế tham gia thị trường trong đó sản xuất
hàng hóa nhỏ phân tán còn phổ biến.
* Sự hình thành thị trường trong nước gắn với mở rộng kinh tế đối
ngoại hội nhập vào thị trường khu vực và thế giới trong hoàn cảnh trình độ
phát triển kinh tế, kỹ thuật của nước ta thấp xã so với hầu hết các nước khác.
* Quản lý nhà nước về kinh tế xã hội còn yếu, một số cơ chế,chính
sách còn thiếu chưa nhất quán, chưa sát với cuộc sống, thiếu tính khả thi.
* Lao động và việc làm đang là vấn đề gay gắt nổi cộm nhất hiện nay
với tỉ lệ thất nghiệp ở thành thị là 74% và tỉ lệ thiếu việc làm ở nông thôn là
30%, tỉ lệ lao động được đào tạo về chuyên môn kĩ thuật còn thấp trong tổng
số lao động: theo kết quả điều tra dân số và nhà ở ngày 1/4/1999 công nhân
kĩ thuật và nghiệp vụ chiếm 30%; lao động có trình độ trung học chuyên
nghiệp 1.3% [ kinh tế và phát triển số 42, tháng 12/2000, trang 19]. Từ năm
2001, khi Việt Nam áp dụng chuẩn hóa đói nghèo mới thì tỉ lệ đói nghèo sẽ
còn khá hơn khoản 17% so với 11% chuẩn cũ. Hiện tại, mức tiêu dùng của
dân cư thấp, tích lũy nội bộ của nên kinh tế mới đạt 25-27% GDP, còn tích
lũy ròng chỉ đạt dưới 20% GDP. Trong khi đó kết cấu hạ tầng còn yếu kém,
sản lượng điện bình quân đầu người mới chỉ đạt trên 340 Kwh, mật độ
đường giao thông tính trên 1000 dân còn thấp xa so với các nước xung
quanh [Thời báo Kinh tế Việt Nam, số 151, 18/12/2000]
10
III/GIẢIPHÁP
1.Thực hiện nhất quán chính sách kinh tế nhiều thành phần
Trên cơ sởđa dạng hóa các hình thức sở hữu lấy việc phát triển sức sản
xuất ,nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội ,cải thiện đời sống nhân dân làm mục
tiêu quan trọng để khuyến khích các thành phần kinh tế và các hình thức tổ
chức sản xuất kinh doanh .Theo tinh thần đó tất cả các thành phần kinh
tếđều bình đẳng trước pháp luật ,đều được khuyến khích phát triển .
Phát huy vai trò chủđạo của kinh tế Nhà nước ,thực hiện tốt chủ trương
cổ phần hóa vàđa dạng hóa sở hữu đối với những doanh nghiệp mà Nhà
nước không cần nắm 100% vốn .Xây dựng củng cố một số tập đoàn kinh tế
mạnh trên cơ sở các tổng công ty Nhà nước ,có sự tham gia của các thành
phần kinh tế .đẩy mạnh đổi mới kĩ thuật ,công nghệ trong các doanh nghiệp
Nhà nước .Thực hiện tốt chếđộ quản lý công đối với tất cả các doanh nghiệp
kinh doanh có vốn của Nhà nước ,doanh nghiệp thực sự cạnh tranh bình
đẳng trên thị trường ,tự chịu trách nhiệm trong sản xuất ,kinh doanh .
Phát triển kinh tế tập thể dưới nhiều hình thức đa dạng ,trong đó hợp tác
xã là nòng cốt .Nhà nước cần giúp đỡ hợp tác xãđào tạo cán bộ,xây dựng
phương án sản xuất kinh doanh ,mở rộng thị trường ,thực hiện tốt việc
chuyển đổi hợp tác xã theo luậ hợp tác xã .bên cạnh dó cần khuyến khích
kinh tế tư nhân phát triển ở cả thành thị ,nông thôn.
Trong những năm vừa qua chúng ta chưa chúýđúng mức đến kinh tế
ngoài quốc doanh nên khu vực kinh tế này phát triển chậm .Tỷ trọng của
kinh tế ngoài quốc doanh trong GDP có xu hướng giảm là vấn đề không phù
hợp với đường lối kinh tếđãđề ra .Giải pháp khắc phục tình trạng này không
chỉ làđề ra chủ trương đường lối mà còn phải tổ chức ,hướng dẫn và giúp đỡ
kinh tế ngoài quốc doanh phát huy tiềm năng to lớn của mình .Phải kiên
quyết chống những biểu hiện tiêu cực trong hoạt động kinh tế ngoài quốc
doanh như:buôn lậu,trốn thuế ,lừa đảo ,làm hàng giả…nhưng đồng thời cũng
phải khuyến khích những người ,những doanh nghiệp làm giàu chính đáng
và hợp pháp .Trong những lĩnh vực chỉ có kinh tế quốc doanh ,cần phải
thành lập một số cơ sởđể tạo ra sự cạnh tranh ,thúc đẩy phát triển ,khắc phục
tình trạng độc quyền vìđộc quyền sẽ dẫn đến cửa quyền và trì trệ.Cần phải
mở rộng hình thức hỗn hợp sở hữu giữa các thành phần kinh tế trong nước
với nhau cũng như trong nước với nước ngoài nhằm tạo ra ngày càng nhiều
doanh nghiệp kiểu “Tư bản Nhà nước”
2 .Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, ứng dụng nhanh tiến bộ khoa
học công nghệ; trên cơ sở đó đẩy mạnh phân công lao động xã hội.
Con đường công nghiệp hóa ,hiện đại hóa của nước ta cần và có thể rút
ngắn thời gian với các nước đi trước ,vừa có những bước tuần tự ,vừa
11
cóbước nhảy vọt ,gắn công nghiệp hóa với hiện đại hóa ,tận dụng mọi khả
năng đểđạt trình độ tiên tiến ,hiện đại về khoa học và công nghệ,ứng dụng
nhanh và phổ biến hơn ở mức độ cao hơn những thành tựu công nghệ hiện
đại và tri thức mới ,từng bước phát triển kinh tế tri thức
Cùng với việc trang bị kĩ thuật và công nghệ hiện đạicho các ngành ,các
lĩnh vực của nền kinh tế trong quá trình công nghiệp hóa ,hiện đại hóa ,tiến
hành phân công lại lao động và phân bố dân cư trong phạm vi cả nước ,cũng
nhưở từng vùng ,từng địa phương,hình thành cơ cấu kinh tế hợp lý cho phép
khai thác tốt nhất các nguồn lực của đất nước ,tạo nên sự tăng trưởng nhanh
và bền vững của toàn bộ nền kinh tế.
3. Hình thành và phát triển đồng bộ các loại thị trường
Trong nền kinh tế thị trường hầu hết các nguồn lực kinh tếđều thông qua thị
trường màđược phân bố vào các ngành ,các lĩnh vực của nền kinh tế một
cách tối ưu .Vì vậy để xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa ,chúng ta cũng phải hình thành và phát triển đồng bộ
các loại thị trường.
a.thị trường hàng hóa ,dịch vụ
Xóa bổ hiện tượng “ngăn sông ,cấm chợ”cục bộở các địa phương.
Thu hẹp lĩnh vực Nhà nước độc quyền kinh doanh .
Thực thi tốt luật cạnh tranh ,khuyến khích cạnh tranh lành mạnh ,nghiêm
trị cạnh tranh không lành mạnh .
Đổi mới quản lý Nhà nước về giá cả.
Tiếp tục thực hiện tự do hóa thương mại trên cơ sở thực hiện cam kết
song phương ,đa phương và theo thông lệ quốc tế.
b.thị trường sức lao động.
Ban hành các văn bản quản lý tạo điều kiện tự do trao đổi sức lao động
trên thị trường ,bảo vệ quyền lợi người lao động và người sử dụng sức lao
động .
Hình thành quỹ bảo hiểm thất nghiệp .
Nâng cao vai trò của các tổ chức công đoàn trong việc thực hiện khung
chính sách về lao động .
Đa dạng hóa loại hình dịch vụ việc làm :hội trợ ,triển lãm việc làm ,sàn giao
dịch việc làm .
c.thị trường tài chính ,tiền tệ.
Xây dựng ,triển khai chiến lược tổng thể về phát triẻn thị trường tài chính
Đẩy mạnh quá trình hoàn thiện môi trường quản lý cho thị trường chứng
khoán theo hướng đồng bộ ,hoàn thiện ,phù hợp thông lệ quốc tế .
Nâng cao năng lực của các trung gian tài chính.
Hoàn thiện các công cụ tiền tệ và thị trường tiền tệ .
12
Hệ thống và chính sách tài chính nước ta phải tạo điều kiện huy động
các nguồn lực trong xã hội đểđầu tư và phát triển làm tăng tích lũy của khu
vực Nhà nước và khu vực dân cư.
Chính sách tài chính phải mở ra các luồng bơm ,hút vốn,điều hòa vốn
đầu tư phù hợp trong từng thời kì .Chính sách tài chính tích cực phải có tác
dụng hướng dẫn sản xuất và tiêu dùng ,điều tiết sản xuất kinh doanh ,điều
tiết và phân phối thu nhập góp phần thực hiện công bằng xã hội ,đồng thời
kích thích sản xuất phát triển .
Chinh sách tiền tệ thực hiện có hiệu quả sẽ góp phần kiềm chế vàđẩy lùi
lạm phát.Sự tăng trưởng kinh tế sẽ không cóý nghĩa ,dẫn đến bùng nổ lạm
phát và trong nền kinh tế lạm phát ở mức cao thì khó có thể tăng trưởng bền
vững do đó sẽ không có cơ sở kinh tế vững chắc để hoàn thành các chính
sách xã hội .
d.thị trường bất động sản.
Xác định rõ quyền vềđất đai của người sử dụng đất,tạo cơ sở thuận lợi
về cho thuếđất và quyền sử dụng đất .
Thực hiện cơ chế mọi doanh nghiệp đều phải mua hoặc thuêđất khi có
nhu cầu sử dụng .
Nâng cao tính công khai, minh bạch trong quy hoạch ,sử dụng đất ,bảo
đảm tính pháp lý của quy hoạch khi được thông qua .
Thống nhất chếđộđăng kí bất động sản và giấy tờ liên quan bất động
sản .
Bãi bỏ những quy định hạn chế khả năng sử dụng bất động sản .
e.thị trường khoa học –công nghệ .
Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho thị trường khoa học –công nghệ :luật
sở hữu trí tuệ
Hoàn thiện các văn bản pháp quy :mua bán ,chuyển giao công nghệ .
Định hướng thúc đẩy cầu cho thị trường khoa học –công nghệ
Đổi mới cơ chế họa động của các cơ quan ,viện nghiên cứu theo cơ chế thị
trường .
Phát triển mạnh hệ thống tổ chức dịch vụ ,thông tin ,môi giới công nghệ .
Vậy:Phải tạo ra sự cân đối ,liên kết giữa các thị trường bộ phận tránh tình
trạng thị trường đầu ra phát triển mạnh ,thị trường đầu vào chưa theo kịp .
4.Mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại
Trong điều kiện ngày nay ,chỉ có mở cửa kinh tế ,hội nhập vào kinh tế
khu vực và thế giới mới thu hút được vốn ,kĩ thuật và công nghệ hiện đại để
khai thác tiềm năng và thế mạnh của đất nước nhằm phát triển kinh tế .
Khi mở rộng quan hệ kinh tếđối ngoại phải quán triệt nguyên tắc bình
đẳng ,cùng có lợi ,không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau .Mở rộng
13
kinh tếđối ngoại theo hướng đa phương hóa vàđa dạng hóa các hình thức
kinh tếđối ngoại.
Hiện nay cần đẩy mạnh xuất khẩu ,coi xuất khẩu là trọng điểm của kinh
tếđối ngoại.Giảm dần nhập siêu ,ưu tiên nhập khẩu tư liệu sản xuất để phục
vụ sản xuất .Tranh thủ mọi khả năng và bằng nhiều hình thức thu hút vốn
đầu tư trực tiếp của nước ngoài ,việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài cần
hướng vào những lĩnh vực ,những sản phẩm có công nghệ tiên tiến ,có tỉ
trọng xuát khẩu cao .Việc sử dụng vốn vay phải có hiệu quảđể trảđược nợ
,cải thiện được cán cân thanh toán .Chủđộng tham gia tổ chức thương mại
quốc tế ,các diễn đàn ,các tổ chức ,các định chế quốc tế một cách có chọn lọc
với bước đi thích hợp .
5.Giữ vững ổn định chính trị, hoàn thiện hệ thống luật pháp.
Đối với nước ta hệ thống pháp luật chưa được hoàn thiện còn nhiều sai sót
cần phải sửa đổi và bổ sung :
Trong việc chuyển nhượng ,cho thuêđất ,thị trường bất động sản ,thị
trường vốn ,thị trường chứng khoán công ty tài chính ,chếđộ kiểm toán ,kế
toán và báo cáo tài chính công khai bắt buộc .
Khuyến khích đầu tư trong nước ,sửa đổi bổ sung bộ luậ công ty và
luật doanh nghiệp tư nhân ,kiểm soát độc quyền và cạnh tranh .
Xây dựng bộ luật thương mại ,luật ngân sách ,luật hành chính Nhà
nước ,các hiệp định song phương vàđa phương .
Bổ sung điều chỉnh bộ luật thức thức tránh chồng chéo phân tán theo
hướng mở rộng .
Nâng cao hiệu lực thi hành pháp luật ,hoàn thiện hệ thống các cơ
quan thi hành pháp lụât,xây dựng Nhà nước pháp quyền và quản lý kinh tế
bằng pháp luật
Xác định rõ thẩm quyền,trách nhiệm cá nhân ,nhất là những người
lãnh đạo chủ chốt .
6.Xóa bỏ triệt để cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp, hoàn thiện cơ chế
quản lý kinh tế của Nhà nước
Nâng cao năng lực quản lý của các cơ quan lập pháp ,hành pháp và tư
pháp ,thực hiện cải cách nền hành chính quốc gia .Nhà nước thực hiện định
hướng sự phát triển kinh tế ,có hệ thống chính sách nhất quán để tạo môi
trường ổn định và thuật lợi cho hoạt động kinh tế ;hạn chế ,khắc phục những
mặt tiêu cực của cơ chế thị trường .Nhà nước thực hiện đúng chức năng
quản lý về kinh tế và chức năng chủ sở hữu tài sản công ,không can thiệp
vào chức năng quản trị kinh doanh để các doanh nghiệp có quyền tự chủ
trong sản xuất ,kinh doanh .Nhà nước sử dụng các biện pháp kinh tế là chính
đểđiều tiết nền kinh tế ,chứ không phải mệnh lệnh .Vì vậy phải tiếp tục đổi
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét