Thứ Ba, 18 tháng 2, 2014

Thực trạng thị trường bán lẻ châu Á và những kiến nghị đối với Việt Nam

5
• Tập hợp và cung cấp một chuỗi các loại hàng hóa/dịch vụ khác nhau
Nhà bán lẻ sẽ gom sản phẩm từ các nhà bán buôn và bán lại cho người tiêu
dùng. Sản phẩm mang các nhãn hiệu khác nhau với số lượng, chủng loại, kích cỡ,
màu sắc đa dạng. Tuy vậy, mỗi nhà bán lẻ thường tập trung vào một số lĩnh vực
nhất định.
• Chia nhỏ sản phẩm
Nhà bán buôn phân phối sản phẩm theo từng lô hàng hay kiện hàng với số
lượng lớn. Nhà bán lẻ có nhiệm vụ chia nhỏ những sản phẩm này phục vụ nhu cầu
tiêu dùng cá nhân.
• Lưu trữ hàng tồn kho
Một chức năng quan trọng của nhà bán lẻ là lưu trữ hàng hóa phục vụ nhu
cầu người tiêu dùng. Thông qua chức năng này, nhà bán lẻ giúp người tiêu dùng
giảm thiểu chi phí dự trữ hàng hóa. Khoản đầu tư cho việc dự trữ hàng hóa của
người tiêu dùng do đó có thể chuyển thành các khoản đầu tư khác mà người tiêu
dùng có thể hưởng lãi suất như khoản tiền gửi tiết kiệm.
• Cung cấp dịch vụ hỗ trợ
Bên cạnh chức năng chính là bán hàng hóa, nhà bán lẻ còn cung cấp cho
khách hàng những dịch vụ khiến cho việc mua sắm của họ trở nên dễ dàng và
thuận lợi hơn như việc trưng bày một số mẫu thử sản phẩm mới cho khách hàng
dùng miễn phí hay ở một tầm cao là cho khách hàng vay tiền để mua hàng của họ
Với tất cả chức năng trên của mình, nhà bán lẻ đã thực hiện được nhiệm vụ
quan trọng nhất là làm gia tăng giá trị hàng hóa và dịch vụ mà khách hàng nhận
được.
Từ những khía cạnh đã phân tích ở trên, chúng ta có thể định nghĩa hoạt
động bán lẻ là hoạt động kinh doanh làm gia tăng giá trị đối với hàng hóa hay dịch
vụ bán cho người tiêu dùng vì mục đích sử dụng của cá nhân hay gia đình. Hoạt
5
5
6
động bán lẻ không chỉ diễn ra trong các cửa hàng mà còn bao gồm các hoạt động
bán hàng qua điện thoại, qua mạng Internet, các dịch vụ chăm sóc, làm đẹp, v.v.
2. Những đặc điểm của thị trường bán lẻ
Trên thị trường bán lẻ, hàng hóa được bán đến tay người tiêu dùng cuối
cùng. Người này mua hàng theo nhu cầu và sử dụng cho bản thân hay gia đình mà
không bán lại nhằm mục đích kinh doanh hay bất cứ mục đích sinh lời nào khác.
Đây được coi là đặc điểm cơ bản phân biệt thị trường bán lẻ với các thị trường
giao dịch hàng hóa khác.
Thị trường bán lẻ cung cấp hàng hóa với những chủng loại đa dạng, nhãn
hiệu và có thể phục vụ mọi đối tượng khách hàng sinh sống ở các vùng địa lý khác
nhau. Hàng hóa trên thị trường bán lẻ có thể được phân thành hai loại:
• Nhóm các sản phẩm lương thực, thực phẩm và các loại hàng hóa liên quan
(food sector), bao gồm: lương thực (gạo, ngũ cốc, bột mì,…); thực phẩm (tươi
sống hay đã qua chế biến); đồ uống (rượu, bia, nước giải khát); .v.v.
• Nhóm các sản phẩm phi thực phẩm (non-food sector), bao gồm: đồ điện tử dân
dụng hay gia dụng; hóa mỹ phẩm, sản phẩm chăm sóc sức khỏe hay sắc đẹp;
các sản phẩm thời trang: hàng dệt, may, da giày…; văn phòng phẩm; sách báo;
đồ chơi; máy tính và các phần mềm máy tính; .v.v.
3. Phân loại các loại hình thức bán lẻ trên thị trường
Cách phân chia cơ bản nhất và được sử dụng nhiều nhất khi phân tích hay
nghiên cứu thị trường bán lẻ là phân loại dựa vào mô hình kinh doanh. Theo đó thị
trường bán lẻ bao gồm hai hình thức kinh doanh chính:
3.1 Hệ thống bán lẻ truyền thống
6
6
Hệ thống bán lẻ
truyền thống
Chợ
Các cửa hàng độc lập:
+ tiệm tạp hóa
+ cửa hàng bán sỉ
Đại lý của nhà sản
xuất, phân phối
7
Biểu đồ I.1: Phân loại hệ thống bán lẻ truyền thống
Trong các mô hình bán lẻ truyền thống, chợ là hình thức bán lẻ sơ khai
nhất, tồn tại từ khi loài người bắt đầu thoát khỏi thời kỳ tự cung tự cấp và bắt đầu
biết trao đổi những thứ mình sản xuất thừa, không dùng đến. Trong xã hội hiện đại
ngày nay chợ vẫn tồn tại ở các quốc gia phát triển nhất tới các quốc gia kém phát
triển.
3.2 Hệ thống bán lẻ hiện đại
Theo công ty nghiên cứu thị trường thuộc tập đoàn IBM (Hoa Kỳ) năm 2007,
Euromonitor và Nielsen 2008, hệ thống kinh doanh bán lẻ hiện đại gồm
những mô hình chính sau:
3.2.1 Trung tâm mua sắm (department store)
Trung tâm mua sắm là một tổ hợp thương mại lớn bao gồm các gian hàng
bán lẻ hàng hóa hay cung cấp dịch vụ. Tất cả những gian hàng này được bố trí
dưới cùng một mái vòm, cung cấp đa dạng các chủng loại mặt hàng từ các mặt
hàng tiêu dùng thiết yếu tới các hàng hóa lâu bền, bao gồm: quần áo, sản phẩm dệt
may, giày dép, đồ điện tử, đồ chơi, nội thất, phần mềm máy tính, trang sức, mỹ
phẩm, dụng cụ thể thao, v.v. Trung tâm mua sắm lớn nhất trên thế giới hiện nay là
trung tâm Shinsegae Centum City của tập đoàn Shinsegae (Hàn Quốc) đặt tại
thành phố Busan.
3.2.2 Đại siêu thị (hypermarket)
7
7
8
Đại siêu thị là các mô hình kinh doanh bán lẻ có quy mô lớn nhất với tổng
diện tích sàn vào khoảng 30.000 mét vuông. Số mặt hàng bày bán có thể lên tới
25.000. Các mặt hàng lương thực, thực phẩm chiếm từ một phần ba đến hai phần
ba tổng số sản phẩm bày bán. Tại các đại siêu thị, người tiêu dùng có thể mua sắm
các mặt hàng khác không nằm trong nhóm lương thực, thực phẩm như mỹ phẩm,
các sản phẩm chăm sóc sức khỏe.
3.2.3 Siêu thị (supermarket)
Siêu thị được xây dựng trên mô hình người mua sắm tự phục vụ. Diện tích
sàn của các siêu thị nằm trong khoảng từ 5.000 đến 30.000 mét vuông. Số loại sản
phẩm bày bán vào khoảng 15.000. Khoảng hai phần ba các sản phẩm bày bán
trong siêu thị là lương thực, thực phẩm. Thông thường các siêu thị còn cung cấp
thêm quầy đồ ăn sẵn và hiệu bánh mỳ.
3.2.4 Cửa hàng tiện ích (convenience store)
Các cửa hàng tiện ích là các mô hình cửa hàng bán lẻ quy mô nhỏ. Diện tích
mỗi cửa hàng thường dưới 3000 mét vuông, số các mặt hàng bày bán dưới 5000
loại. Các cửa hàng này thường mở ở những nơi giao thông thuận lợi, tập trung dân
số, giờ hoạt động thường muộn hơn các loại hình khác. Sản phẩm bày bán chủ yếu
là các mặt hàng tiêu dùng hàng ngày và giá cả thường cao hơn so với hàng hóa
trong siêu thị.
3.2.5 Cửa hàng giảm giá (discount store):
Là hệ thống các cửa hàng cho phép khách hàng tiếp cận với những chủng
loại hàng hóa giá rẻ, ở vị trí khá thuận lợi về giao thông. Đặc điểm của mô hình
kinh doanh này là chi phí mặt bằng thấp, số lượng nhân lực giới hạn, tiết kiệm đầu
tư vào marketing. Hàng hóa được trưng bày với số lượng khá đa dạng. Mỗi thời
điểm, cửa hàng sẽ giảm giá một số loại mặt hàng nhất định. Diện tích mỗi cửa
hàng loại này thường từ 300 đến 1000 mét vuông sản. Mô hình kinh doanh này có
thể được tìm thấy ở những khu vực cho thuê diện tích sàn với giá rẻ hay tầng hầm
của các trung tâm mua sắm lớn.
8
8
9
3.2.6 Cửa hàng mỹ phẩm, sản phẩm chăm sóc sức khỏe, sắc đẹp (drugstore)
Là các cửa hàng bán lẻ chuyên bán các loại thuốc (thường là thuốc bán
không cần kèm đơn thuốc) và các sản phẩm chăm sóc sức khỏe như thực phẩm
chức năng, Ngoài ra, ở các cửa hàng loại này, người tiêu dùng có thể tìm thấy các
loại hàng hóa mỹ phẩm như dầu gội, sữa tắm, mỹ phẩm hay các sản phẩm làm
đẹp. Ở một số nơi, bánh kẹo và báo, tạp chí cũng được trưng bày để phục vụ
khách hàng.
• Ngoài ra còn có một số cách phân loại khác, như:
Dựa vào cơ sở bán lẻ thì có hai hình thức bán lẻ là:
- Bán lẻ có cửa hàng (tại các siêu thị, chợ, cửa hàng tiện ích,…)
- Bán lẻ không có cửa hàng (bán hàng qua điện thoại, catalog, internet, qua
máy bán hàng tự động,.v.v)
Dựa vào loại hình sở hữu có ba hình thức bán lẻ (theo Retailing
management – Levy):
- Hình thức bán lẻ do tư nhân làm chủ
- Hình thức bán lẻ do công ty làm chủ
- Hình thức bán lẻ nhượng quyền
II. VAI TRÒ CỦA THỊ TRƯỜNG BÁN LẺ
1. Thị trường bán lẻ đóng vai trò là cầu nối giữa nhà sản xuất và người tiêu
dùng
Hàng hóa sản xuất ra có thể được phân phối trực tiếp đến tay người tiêu
dùng hoặc thông qua các kênh trung gian. Hình thức phân phối qua trung gian còn
gọi là phân phối gián tiếp.
Trong nền sản xuất chuyên môn hóa hiện nay, kênh phân phối trực tiếp
ngày càng trở nên ít phổ biến do doanh nghiệp sản xuất phải dành một khoản đầu
tư tương đối lớn cho hoạt động phân phối. Hình thức này không thể phù hợp với
các doanh nghiệp quy mô vừa hoặc nhỏ. Trong khi đó, phương thức phân phối
hàng hóa gián tiếp lại thể hiện rõ ưu thế của mình. Bằng việc đưa hàng hóa do
9
9
10
doanh nghiệp mình sản xuất đến tay người tiêu dùng cuối cùng thông qua các
trung gian, doanh nghiệp có thể tiết kiệm được chi phí và thời gian. Nhà bán lẻ
đóng vai trò là người trung gian cuối cùng trong khâu phân phối hàng hóa đến tay
người tiêu dùng. Tùy thuộc vào đặc điểm, tính chất của sản phẩm, quy mô của
doanh nghiệp sản xuất, nhà bán lẻ có thể đóng vai trò là trung gian duy nhất hay là
một trong các trung gian trong quá trình phân phối hàng hóa từ khi xuất kho nhà
sản xuất đến khi bán được cho người tiêu dùng cuối cùng.
2. Thị trường bán lẻ giúp cung cấp thông tin từ người tiêu dùng đến nhà sản
xuất và ngược lại
Trên thị trường bán lẻ, người bán và người mua có mối quan hệ trực tiếp.
Họ gặp gỡ và giao dịch với nhau. Nhờ đó, người bán lẻ thu được những thông tin
sơ cấp về khách hàng của mình. Nhà bán lẻ có cơ hội tìm hiểu và nghiên cứu
những nhu cầu của người tiêu dùng qua đó tìm cách đáp ứng được những nhu cầu
đó. Thông qua việc bán hàng đến người tiêu dùng cuối cùng, nhà bán lẻ có thể thu
thập được những phản hồi của khách hàng về chất lượng sản phẩm, mẫu mã, bao
bì đóng gói,… Từ đó họ có thể truyền tải đến người sản xuất
Trong quá trình tiếp cận trực tiếp với người tiêu dùng cuối cùng, nhà bán lẻ
hoàn toàn có khả năng tìm hiểu những nhu cầu có thể xuất hiện trong tương lai và
giúp nhà sản xuất bắt kịp được những xu hướng thị trường để lên chiến lược mở
rộng sản xuất.
Ngược lại, nhà sản xuất cũng có thể thông qua thị trường bán lẻ để nghiên
cứu thái độ của thị trường khi đón nhận một sản phẩm hay kế hoạch sản xuất mới
trong tương lai.
Tóm lại, thông tin chính là chìa khóa dẫn đến thành công cho bất cứ doanh
nghiệp trong bất cứ ngành nào. Và nhờ vào những thông tin trên thị trường bán lẻ,
nhà sản xuất có thể điều chỉnh kế hoạch sản xuất, cải tiến sản phẩm theo hướng
thỏa mãn tối đa thị hiếu người tiêu dùng. Người tiêu dùng, nhờ vào việc nghiên
10
10
11
cứu những biến động trên thị trường cũng có thể điều chỉnh hành vi mua sắm của
mình theo hướng có lợi nhất với chi phí thấp nhất và tiết kiệm được thời gian.
3. Thị trường bán lẻ phản ánh tình hình sản xuất, kinh doanh và mức sống
của người dân trong một quốc gia
Sự tồn tại của thị trường bán lẻ là điều kiện tiên quyết cho sự tồn tại và phát
triển của các ngành sản xuất trong xã hội. Mục đích của bất cứ ngành sản xuất nào
là tạo ra sản phẩm và bán đến tay người tiêu dùng cuối cùng. Do vậy, sự hoạt động
của thị trường bán lẻ tạo điều kiện cho các ngành sản xuất, kinh doanh tồn tại và
hoạt động bình thường.
Thị trường bán lẻ không chỉ giải quyết đầu ra, tiêu thụ sản phẩm cho quá
trình sản xuất mà còn làm gia tăng GDP của quốc gia. Doanh thu bán lẻ trên mỗi
thị trường thể hiện sức khỏe của một nền kinh tế: quy mô, tình hình phát triển hay
những xu hướng trong nền kinh tế đất nước đó. Bên cạnh đó, những chuyển dịch
trên thị trường bán lẻ còn cho thấy sự thay đổi trong mức sống của người dân. Thị
trường bán lẻ tăng trưởng tốt đồng nghĩa với thu nhập trung bình của người dân
quốc gia đó đang tăng lên, sức mua cải thiện, chất lượng đời sống nâng cao. Ngoài
ra, bán lẻ cũng là khu vực thu hút lực lượng lao động lớn, góp phần tạo ra công ăn
việc làm cho một tỷ lệ lớn người lao động trên thế giới.
4. Thị trường bán lẻ đóng vai trò quan trọng trong quá trình tái sản xuất xã
hội
Bốn khâu trong quá trình tái sản xuất xã hội gồm: sản xuất – phân phối –
trao đổi – tiêu dùng. Thị trường bán lẻ là khâu trung gian giữa sản xuất và tiêu
dùng. Do đó nó đảm bảo một khâu quan trọng của quá trình tái sản xuất trên.
Không có các hoạt động của thị trường bán lẻ thì quá trình tái sản xuất không thể
diễn ra được do đó không thể mở rộng phát triển nền kinh tế.
11
11
12
12
12
13
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG BÁN LẺ
CHÂU Á
I. CÁC XU THẾ NỔI BẬT TRÊN THỊ TRƯỜNG BÁN LẺ CHÂU Á HIỆN
NAY
1. Hệ thống bán lẻ hiện đại dần thay thế các cửa hàng truyền thống
1.1 Thay đổi trong hành vi tiêu dùng của người dân châu Á
Sự phát triển của hệ thống bán lẻ hiện đại xuất phát từ những thay đổi sâu
sắc trong xã hội các quốc gia châu Á.
Thứ nhất, thu nhập trung bình của châu lục này đã tăng lên một cách đáng
kể kéo theo sự xuất hiện của tầng lớp trung lưu và thượng lưu với số lượng ngày
càng lớn.
Thứ hai, và cũng là nguyên nhân quan trọng hơn cả chính là sự thay đổi về
vai trò của người phụ nữ trong xã hội. Nếu những năm đầu của thế kỷ 20, tỷ lệ phụ
nữ tham gia vào lực lượng lao động trên cả châu Á chưa đến 20% thì trong thập kỷ
đầu của thế kỷ 21, số lượng phụ nữ làm việc đã xấp xỉ số lượng nam giới. Ở một
số nước Đông Á như Hàn Quốc, Đài Loan, … trung bình tỷ lệ nữ giới trên nam
giới trong lực lượng lao động là khoảng 91-93/100. Chính vì sự thay đổi mang tính
cách mạng đó, xu hướng tiêu dùng trong xã hội châu Á cũng thay đổi mạnh mẽ.
Khi ngày càng nhiều phụ nữ đi làm, họ có khuynh hướng tiết kiệm thời gian mua
sắm và nấu nướng của mình. Do vậy, những thực phẩm đã qua chế biến ngày càng
trở nên phổ biến.
Bên cạnh đó, việc sử dụng rộng rãi của tủ lạnh và các dụng cụ điện tử hiện
đại khác trong gia đình cho phép người dân có thể đi chợ hàng tuần, thay vì hàng
ngày như thời kỳ trước đây. Hơn nữa, do sự phát triển của các phương tiện cá nhân
và hệ thống đường xá, cơ sở hạ tầng được xây dựng và nâng cấp đã tạo điều kiện
cho người tiêu dùng, đặc biệt là phụ nữ có thể lựa chọn mua sắm ở các khu vực xa
trung tâm với số lượng hàng hóa mua sắm lớn hơn nhiều lần.
13
13
14
Theo các bản nghiên cứu thị trường của Nielsen được tiến hành vào năm
2008 và 2009, người dân ở hầu hết các đô thị lớn của các quốc gia châu Á thường
đi mua hàng ở các đại siêu thị trung bình hai đến ba lần/tháng. Mục đích mua sắm
của họ thường phục vụ cho việc dự trữ thực phẩm, mua lương thực sử dụng hàng
ngày hay các đồ dùng, sản phẩm chăm sóc sức khỏe. Theo Nielsen 2009, Hàn
Quốc nơi 96% dân cư thành thị đến siêu thị mua sắm hàng tháng giữ tỷ lệ cao nhất
so với các quốc gia châu Á còn lại.
Một nguyên nhân khác tạo nên sự thay đổi trong thói quen mua sắm của
người châu Á xuất phát từ chính sự điều chỉnh của các mô hình bán lẻ hiện đại.
Người châu Á, khác với người phương Tây, vốn có thói quen sử dụng những thực
phẩm tươi sống nên mô hình bán lẻ truyền thống như chợ từ lâu đã trở thành một
phần không thể thiếu trong cuộc sống của người dân ở đây. Nhận thức được điều
đó, các siêu thị và đại siêu thị đã dần dần giới thiệu và xây dựng các quầy bán
hàng tươi sống như thịt gia súc, gia cầm, rau xanh để đáp ứng thị hiếu tiêu dùng ở
châu lục này. Hiện nay, cũng theo Nielsen, tỷ lệ người dân Trung Quốc mua thực
phẩm tươi sống từ chuỗi các đại siêu thị đang đứng đầu toàn châu Á khi mô hình
bán lẻ này được chọn là địa điểm mua sắm thường xuyên hàng tươi sống cho hơn
60% người dân Trung Quốc hiện đang sinh sống ở các đô thị (Nielsen 2009).
1.2 Sự xuất hiện và phát triển của các mô hình bán lẻ hiện đại
1.2.1 Lịch sử ra đời của các cửa hàng bán lẻ hiện đại
Tuy thói quen tiêu dùng của người châu Á chỉ thay đổi mạnh từ khoảng nửa
sau thế kỷ 20 nhưng trên thực tế, mô hình các cửa hàng mua sắm hiện đại đã xuất
hiện ở Trung Quốc từ đầu thế kỷ 20. Cửa hiệu mua sắm đầu tiên này được xây
dựng theo ý tưởng của một thương nhân Trung Quốc sống ở Australia. Một số cửa
hàng mua sắm hiện đại như Wing On và Sincere ở Thượng Hải mở cửa từ trước
năm 1949 vẫn duy trì hoạt động đến thời điểm này. Các trung tâm mua sắm hiện
đại bắt đầu được xây dựng với số lượng lớn trên khắp châu lục vào khoảng những
năm 1980 và bùng nổ vào khoảng những năm 1990 của thế kỷ trước.
14
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét