Thứ Ba, 18 tháng 2, 2014

Tài liệu Luận văn : Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh tại cty Điện tử Sao Mai ppt

2. Khái niệm hiệu quả sản xuất kinh
doanh
Có nhiều cách hiểu về khái niệm hiệu quả sản xuất kinh doanh, theo em khái niệm sau:
“Hiệu quả sản xuất kinh doanh là chỉ tiêu tổng hợp, đánh giá sự phát triển kinh tế theo
chiều sâu, phản ánh sự khai thác các nguồn lực một cách tốt nhất phục vụ các mục tiêu
kinh tế của doanh nghiệp”, là hợp lý hơn cả.
3. Phân loại hiệu quả sản xuất kinh
doanh
Tuỳ theo cách tiếp cận có thể nghiên cứu hiệu quả sản xuất kinh doanh theo các cách
phân loại khác nhau, cụ thể:
- Hiệu quả tổng hợp: là hiệu quả chung phản ánh kết quả thực hiện mọi mục tiêu mà chủ
thể đặt ra trong một giai đoạn nhất định. Hiệu quả tổng hợp gồm:
+ Hiệu quả kinh tế: mô tả mối quan hệ giữa lợi ích kinh tế mà chủ thể nhận được và
chi phí bỏ ra để nhận được lợi ích kinh tế đó theo mục tiêu đặt ra.
+ Hiệu quả kinh tế xã hội: là hiệu quả mà chủ thể nhận được trong quá trình thực hiện
các mục tiêu xã hội như giải quyết việc làm, nộp ngân sách nhà nước, vấn đề môi
trường
- Hiệu quả trực tiếp và hiệu quả gián tiếp:
+ Hiệu quả trực tiếp: được xem xét trong phạm vi một dự án, một doanh nghiệp.
+ Hiệu quả gián tiếp: là hiệu quả mà đối tượng nào đó tạo ra cho đối tượng khác.
- Hiệu quả tuyệt đối và hiệu quả tương đối:
+ Hiệu quả tuyệt đối: được đo bằng hiệu số giữa kết quả và chi phí.
+ Hiệu quả tương đối: được đo bằng tỷ số giữa kết quả và chi phí.
- Hiệu quả trước mắt và hiệu quả lâu dài:
+ Hiệu quả trước mắt: là hiệu quả được xem xét trong giai đoạn ngắn, lợi ích trước
mắt, mang tính tạm thời.
5
+ Hiệu quả lâu dài: mang tính chiến lược lâu dài.
Phân loại hiệu quả kinh tế là cơ sở để xác định các chỉ tiêu hiệu quả sản xuất kinh doanh
và giải pháp để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.
II. Một số chỉ tiêu xác định hiệu quả sản xuất kinh doanh
Trong kinh doanh hiệu quả là mối quan tâm lớn nhất của tất cả các doanh nghiệp. Hiệu
quả hoạt động sản xuất kinh doanh phải được thể hiện trên cả hai mặt kinh tế và xã hội.
Trên góc độ kinh tế hiệu quả sản xuất kinh doanh thể hiện qua lợi nhuận thu được từ hoạt
động sản xuất kinh doanh, mức độ tiết kiệm và các nguồn lực của doanh nghiệp.
Trên góc độ xã hội hiệu quả sản xuất kinh doanh thể hiện bởi giá trị gia tăng mà doanh
nghiệp tạo ra trong suốt thời kỳ nhất định cho toàn xã hội, mức độ sử dụng tiết kiệm các
nguồn lực xã hội, công ăn việc làm và thu nhập cho người lao động
Hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp sản xuất kinh doanh được thể hiện qua một hệ thống
tiêu sau:
1. Các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế tổng hợp
Để đánh giá hiệu quả kinh tế thì chỉ tiêu tổng hợp là rất quan trọng và cần thiết, phản ánh
toàn bộ quá trình sử dụng nguồn lực để kinh doanh.
1.1. Chỉ tiêu tương đối
- Sức sản xuất của một đồng chi phí bỏ ra kinh doanh.
H
1
= D/F
Trong đó: H
1
: chỉ tiêu hiệu quả
D = tổng doanh thu trong kỳ.
F = tổng chi phí sử dụng trong kỳ.
Chỉ tiêu này la sự so sánh giữa doanh thu đạt được với toàn bộ chi phí lao động sống và
lao động vật hoá mà doanh nghiệp bỏ ra trong kỳ sản xuất kinh doanh. Doanh nghiệp sử
dụng chi phí một cách có hiệu quả thì chỉ tiêu này sẽ cao.
6
- Sức sinh lợi của 1 đồng chi phí bỏ ra kinh doanh.
H
2
= L/F
Trong đó: H
2
: chỉ tiêu hiệu quả
L : Lợi nhuận đạt được trong kỳ.
Chỉ tiêu này phản ánh khi sử dụng 1 đồng vốn chi phí kinh doanh thì lợi nhuận đạt được
là bao nhiêu. Và kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được phản ánh bằng lợi
nhuận nên chỉ tiêu này phản ánh được thực chất hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
1.2. Chỉ tiêu tuyệt đối
L = D - F
Trong đó: L: lợi nhuận
D: tổng doanh thu đạt được trong kỳ.
F: tổng chi phí sử dụng trong kỳ.
Qua đây ta thấy: để đạt được hiệu quả kinh doanh cao cần mở rộng quy mô sản xuất kinh
doanh, thu hút khách hàng, sử dụng mọi tiềm lực tiết kiệm chi phí để lợi nhuận lớn nhất
mà chi phí bỏ ra thấp nhất. Đồng thời để thấy được thực trạng kinh doanh của toàn doanh
nghiệp.
2. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng các yếu tố tham gia vào quá trình sản xuất
kinh doanh
Trong quá trình đánh giá phải sử dụng một số chỉ tiêu bộ phận sau:
2.1. Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng lao động
- Năng suất lao động tính bằng hiện vật
W = Q
1
/T
Trong đó: W : năng suất lao động
Q
1
: Sản lượng tính theo hiện vật
T: tổng số công nhân (công nhân viên)
7
- Năng suất tính theo thời gian.
Đơn vị để tính (giây, giờ, phút)
W = T/Q
1
Trong đó: T: số lượng thời gian lao động
- Năng suất tính bằng tiền
W = Q
2
/T
Trong đó: Q
2
: giá trị tổng sản lượng (tính theo giá cố định hay giá hiện hành).
T: số lượng công nhân (công nhân viên)
2.2. Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản cố định
Hiệu quả sử dụng tài sản cố định được tính bằng nhiều chỉ tiêu, nhưng phổ biến là các chỉ
tiêu sau:
- Sức sản xuất của tài sản cố định
Chỉ tiêu này phản ánh một đồng TSCĐ bình quân đem lại mấy đồng doanh thu thuần (hay
giá trị sản lượng)
- Sức sinh lời của TSCĐ
Chỉ tiêu này cho biết một đồng TSCĐ bình quân đem lại mấy đồng lợi nhuận (hay lãi
gộp).
- Suất hao phí TSCĐ
8
Tổng doanh thu thuần (hoặc giá trị TS
lượng)
Sức sản xuất của TSCĐ =
Giá trị TSCĐ bình quân



Lợi nhuận thuần (hay lãi gộp)
Sức sinh lời của TSCĐ =
Giá trị TSCĐ bình quân




Giá trị TSCĐ bình quân
Suất hao phí TSCĐ =
Doanh thu thuần hay lợi nhuận thuần (hay giá trị TSL)





Qua chỉ tiêu này ta thấy để có một đồng doanh thu thuần hoặc lợi nhuận thuần, cần bao
nhiêu đồng nguyên giá TSCĐ.
2.3. Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn
Bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng cần vốn, đặc biệt đối với doanh nghiệp sản xuất kinh
doanh. Do vậy, đánh giá hiệu quả kinh tế trong doanh nghiệp sản xuất kinh doanh không
thể bỏ qua hiệu quả sử dụng vốn.
- Mức doanh thu đạt được từ một đồng vốn
Hv
1
= D/V
Trong đó: Hv
1
: chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn
V : Tổng số vốn sử dụng bình quân trong kỳ
D : Tổng doanh thu đạt được trong kỳ
- Mức sinh lời của đồng vốn
Hv
2
= L/V
Trong đó: Hv
2
: chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn
V : tổng số vốn sử dụng bình quân trong kỳ
L : lợi nhuận
Hai chỉ tiêu trên phản ảnh trình độ sử dụng vốn, cho biết bỏ ra một đồng vốn thì thu được
bao nhiều đồng doanh thu và bao nhiêu đồng lợi nhuận.
9
Chương II
Thực trạng hiệu quả sản xuất KINH DOANH của Công ty Điện tử Sao Mai những năm
gần đây
I. Khái quát về Công ty Điện tử Sao Mai
1. Quá trình hình thành và phát triển
Công ty Điện tử Sao Mai thuộc tổng cục Công nghiệp Quốc phòng - Bộ Quốc phòng,
được thành lập và phát triển từ một cơ sở nghiên cưu linh kiện bán dẫn trực thuộc viện Kỹ
thuật Quân sự - Bộ Quốc phòng. Ngày 15/9/1979, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ)
ra quyết định số 329/CP về việc thành lập Xí nghiệp Điện tử với nhiệm vụ sản xuất các
loại linh kiện tích cực như các loại bán dẫn, điốt
Trên cơ sở đó, Bộ Quốc phòng đã ra quyết định số 920/QĐ-QP ngày 15/9/1979 về việc
thành lập nhà máy sản xuất bóng bán dẫn và các linh kiện có ký hiệu là Z181 trực thuộc
Tổng cục Kỹ thuật (nay là Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng). Nhiệm vụ được giao cụ
thể trong giai đoạn này là tham gia trong “Liên hiệp các xí nghiệp điển tử” của Nhà nước.
Khi mới bắt đầu thành lập, Công ty có 305 người với 16 đầu mối, 9 phòng ban, 7 phân
xưởng.
Trong quá trình phát triển từ (1979) Công ty cũng gặp nhiều khó khăn, đặc biệt trong giai
đoạn 1979 - 1989 bởi lúc này ngành Công nghiệp điện tử là một ngành hoàn toàn mới
trong nền kinh tế quốc dân. Sản phẩm do nhà máy sản xuất ra lúc này chủ yếu dành cho
xuất khẩu sang Đông Âu. Nhưng dù trong hoàn cảnh khó khăn như vậy cán bộ công nhân
viên trong Công ty vẫn động viên nhau cố gắng hoàn thành nhiệm vụ.
Từ 1990 trở lại đây, do tình hình Đông Âu biến động thị trường xuất khẩu sang Đông Âu
bị cắt đứt. Vì vậy, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đã ra quyết định số 293/QĐCP ngày
16/10/1989 thành lập Liên Điện tử Sao Mai thuộc Tổng cục Công nghiệp quốc phòng và
kinh tế trên cơ sở sắp xếp lại tổ chức nhà máy Z181, được mở tài khoản tại ngân hàng, kể
cả tài khoản ngoại tệ, được trực tiếp xuất khẩu. Liên hiệp đã phát huy tốt mọi nguồn lực
để trở thành doanh nghiệp sản xuất kinh doanh có hiệu quả cao. Năm 1993, do điều kiện
10
biến đổi cùng với sự thay đổi của chính sách Nhà nước, ngày 19/8/1993 Liên hiệp điện tử
Sao Mai được đổi tên thành Công ty Điện tử Sao Mai.
2. Mô hình sản xuất kinh doanh của Công ty
2.1. Các ngành nghề sản xuất kinh doanh chủ yếu
Công ty có các ngành nghề chủ yếu sau:
- Công nghệ kỹ thuật điện tử, điện tử phục vụ quốc phòng và dân dụng.
- Xuất nhập khẩu trực tiếp và kinh doanh hàng điện, điện dân dụng, điện máy, điện lạnh,
điện tử, lắp ráp xe máy, sản xuất khí công nghiệp.
- Dịch vụ kỹ thuật điện tử.
2.2. Mô hình tổ chức
Tới thời điểm đầu năm 2004, Công ty Điện tử Sao Mai có nguồn lực:
- Tổng số cán bộ, công nhân viên là 301 người. Trong đó
+ Có trình độ đại học và trên đại học là 66 người,
+ Trung cấp là 45 người,
+ Sơ cấp và chưa qua đào tạo là 190 người
Công ty được tổ chức theo mô hình sau:
(Xin xem trang sau)
11
Công ty điện tử Sao Mai - Bộ Quốc Phòng được tổ chức theo kiểu trực tuyến chức năng:
Ban giám đốc lãnh đạo và chỉ đạo trực tiếp đến từng đơn vị sản xuất kinh doanh và các
phòng ban chức năng nghiệp vụ.
Ban giám đốc gồm 3 người: 1 giám đốc phụ trách chung, 1 phó giám đốc phụ trách hành
chính, 1 phó giám đốc phụ trách kỹ thuật và nghiên cứu.
2.3. Các phòng ban chức năng gồm có:
- Văn phòng Công ty: có nhiệm vụ tổ chức thực hiện và quản lý các công tác nghiệp vụ
hành chính, đời sống hậu cần
- Phòng Kế hoạch tổng hợp: có nhiệm vụ tham mưu quản lý các mặt công tác, giá thành,
lao động, nhân sự, chế độ tiền lương
- Phòng Tài chính: có nhiệm vụ tham mưu và đảm bảo tài chính cho các hoạt động của
Công ty, theo dõi, kiểm tra, giám sát hoạt động tài chính kế toán của Công ty. Hỗ trợ công
tác tài chính của các đơn vị thành viên.
- Phòng Thị trường - Hợp tác - Đầu tư: có nhiệm vụ tiếp cận thị trường trong và ngoài
nước. Tham mưu cho giám đốc khả năng sản xuất kinh doanh cũng như giới thiệu và phát
triển sản phẩm mới, giới thiệu quảng cáo sản phẩm, tổ chức liên doanh
- Ban Chính trị: có nhiệm vụ tổ chức thực hiện công tác Đảng, công tác chính trị, dân vận
và công tác quần chúng.
2.4. Các đơn vị hạch toán đôc lập
- Viện nghiên cứu điện tử
- Xí nghiệp khí công nghiệp 81
- Xí nghiệp linh kiện điện tử
- Xí nghiệp thiết bị điện tử
- Xí nghiệp trang thiết bị công trình
- Xí nghiệp nhựa xốp
12
2.5. Các đơn vị trực thuộc
- Phân xưởng cơ khí điện tử
- Phân xưởng hoá chất
- Các tổ cơ khí (T1, T3 )
- Phân xưởng sản xuất quạt điện - đồng hồ (T2)
II. Môi trường kinh doanh của công ty
Công ty Điện tử Sao Mai là một doanh nghiệp nhà nước hoạt động trên địa bàn rất rộng
rãi, nhiều ngành hàng và kết hợp cả sản xuất kinh doanh một cách hiệu quả. Tuy vậy
trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay công ty cũng bị ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố
khác nhau. Nhưng cán bộ công nhân viên trong công ty cũng đã có những biện pháp phù
hợp nhằm cải thiện môi trường kinh doanh của mình. cụ thể:
1. Về khách hàng
Công ty trải qua hơn 20 năm tồn tại và phát triển cùng với thời gian, với sự thay đổi của
nền kinh tế, ưu thế của công ty từ trước đến nay vẫn đứng vững với những mặt hàng sản
xuất kinh doanh phong phú đa dạng. Đến nay các mặt hàng của công ty vẫn có khả năng
thu hút khách hàng khá lớn với quy mô mở rộng khắp và với nhiều tập khách hàng khác
nhau.
2. Về đối thủ cạnh tranh
Ngày nay trong xu thế phát triển của xã hội, có sự tham gia ồ ạt của các thành viên kinh
tế, hàng nhập lậu, trốn thuế, các hàng hoá cùng chủng loại cạnh tranh quyết liệt làm cho
thị trường của công ty bị thu hẹp. Đặc biệt rất nhiều liên doanh tại Việt Nam cũng sản
xuât những mặt hàng trùng với mặt hàng truyền thống của công ty. Trước tình hình thực
trạng các mặt hàng truyền thống của công ty bị ảnh hưởng, lãnh đạo công ty đã nghiên
cứu tìm ra những biện pháp để củng cố, sắp xếp phát triển ngành hàng kinh doanh cho
phù hợp với tình hình thực tế, đồng thời mạnh dạn tìm hướng sản xuất mới, tích cực đầu
tư trang thiết bị, máy móc, nhà xưởng, đào tạo lại đội ngũ cán bộ, công nhân, cũng như
cho ra đời những xí nghiệp những dây chuyền mới nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh.
13
Đây là một hướng phát triển kinh doanh mới của công ty phù hợp với nhu cầu xã hội và
người tiêu dùng. Nó đảm bảo cho công ty đứng vững trên trị trường hướng tới mục tiêu
của doanh nghiệp. Ngoài ra, cùng với lợi thế về bề dày kinh nghiệm của mình công ty
luôn tìm tòi những bạn hàng những nhà cung cấp mới cho chiến lược kinh doanh của
mình trong mỗi thời kỳ, tránh được những tổn thất rủi ro, giúp cho công ty hoàn thành tốt
nhiệm vụ sản xuất kinh doanh.
3. Nhà cung cấp
Thị trường cung ứng vốn, hàng hóa, vật tư, linh kiện, nguyên vật liệu cho công ty rất đa
dạng. Có nhiều công ty có uy tín cả về vốn, chất lượng hàng hóa và công nghệ khoa học
kỹ thuật tham gia cung ứng cho công ty, đặc biệt là các công ty nước ngoài. Mặc dù vậy
công ty đã phải lựa chọn các nhà cung cấp đảm bảo uy tín, tạo mối hàng ổn định, hợp lý
về giá cả, phong phú về chủng loại để đảm bảo uy tín của mình.
Với ưu thế là một doanh nghiệp Quân đội, công ty đã tạo được cho mình sức ảnh hưởng
tích cực trước những nhà cung cấp chính, cho nên khi thị trường biến động mạnh về giá
cả cũng như khả năng cung cấp thì công ty vẫn đủ hàng để đáp ứng nhu cầu của thị
trường, đảm bảo kế hoạch sản xuất kinh doanh của công ty. Uy tín của công ty ngày một
nâng cao thu hút sự hấp dẫn của khách hàng đối với sản phẩm hàng hóa của công ty. Vì
vậy khách hàng của công ty ngày càng tăng và họ rất tin tưởng vào các sản phẩm của
công ty.
II. Tình hình sản xuất KINH DOANH của
Công ty trong thời gian qua
1. Những mặt hàng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Công ty điện tử Sao Mai là đơn vị sản xuất kinh doanh rất đa dạng với những sản phẩm
chính phục vụ nhu cầu tiêu dùng thường xuyên đặc biệt là các loại xe gắn máy 2 bánh,
tivi màu, máy tính, gia công cơ khí, hàng điện gia dụng với tính chất của sản phẩm được
lắp ráp từ các bộ linh kiện CKD, IKD của nước ngoài, đạt chất lượng tốt và ổn định.
Do yêu cầu của kỹ thuật sản xuất, việc lắp ráp bán thành sản phẩm qua mỗi giai đoạn phải
đúng yêu cầu kỹ thuật để chuyển qua các giai đoạn tiếp sau. Bán thành sản phẩm yêu cầu
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét