Chuyên đề tốt nghiệp
Chơng 1
Những vấn đề chung về cơ chế lãi suất thị trờng
1.1. Khái niệm lãi suất
Trong nền kinh tế thị trờng, nhu cầu tiết kiệm và đầu t tồn tại nh một tất
yếu vì nó xuất phát từ đặc điểm tuần hoàn vốn tiền tệ trong nền kinh tế - tuần
hoàn vốn tiền tệ, thể hiện cùng một lúc có những chủ thể trong nền kinh tế tạm
thời có vốn cha sử dụng gọi là thừa vốn tạm thời, ngợc lại có những chủ thể ở
tình trạng thiếu vốn tạm thời. Hiện tợng này tạo mâu thuẫn trong xã hội cần đợc
giải quyết nếu không sẽ dẫn đến tình trạng lãng phí về vốn và căng thẳng về
vốn. Tín dụng là phơng pháp điều hoà vốn nhằm giải quyết mâu thuẫn trên và đ-
a vốn sử dụng có hiệu quả trong nền kinh tế.
Khi sử dụng bất kì khoản tín dụng nào, ngời đi vay cũng phải trả thêm 1
phần giá trị ngoài phần vốn gốc vay ban đầu cho ngời cho vay phần tăng thêm
này gọi là lợi tức mà theo Mác thì đây chính là giá cả về quyền sử dụng vốn
vay. Tỷ lệ phần trăm của lợi tức so với vốn vay ban đầu đợc gọi là lãi suất.
Vậy lãi suất là giá cả của quyền sử dụng vốn vay trong thời gian nhất
định mà ngời sử dụng vốn vay trả cho ngời sở hữu vốn.
Trong nền kinh tế thị trờng, ngời đi vay cũng nh ngời cho vay có thể là
chính phủ, doanh nghiệp, cá nhân, hộ gia đình hoặc cá nhân nớc ngoài. Lãi suất
tác động đến cả hai chủ thể ngời đi vay và ngời cho vay. Đối với ngời đi vay, lãi
suất tạo nên một khoản chi phí, làm giảm lợi nhuận còn đối với ngời cho vay,
lãi suất là một nguồn tạo ra thu nhập. Vì vậy, sự biến động của lãi suất ảnh h-
ởng trực tiếp đến đời sống hàng ngày của mọi chủ thể kinh tế cụ thể nh, lãi suất
tác động đến những quyết định của các cá nhân, các doanh nghiệp nh chi tiêu
hay để dành, mua nhà hay mua trái phiếu hay gửi tiền tiết kiệm v.v. Do những
ảnh hởng đó của lãi suất đến nền kinh tế cho nên ngân hàng Nhà Nớc với t cách
là ngời quản lí vĩ mô nền kinh tế, luôn phải xác định cơ chế điều hành lãi suất
Đồng Thị Mai Nhung
5
Chuyên đề tốt nghiệp
sao cho phù hợp với từng thời kì của nền kinh tế từ đó thoả mãn đợc nhu cầu
của cả ngời tiết kiệm và ngời đầu t.
1.2. Vai trò của lãi suất trong nền kinh tế.
- Lãi suất là công cụ khuyến khích tiết kiệm và đầu t: Lãi suất là một công cụ
kích thích lợi ích vật chất để thu hút các khoản tiền tiết kiệm của các chủ thể
kinh tế tạo nên quỹ cho vay đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế.
- Lãi suất ảnh hởng đến kết quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp vì
doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì phải có những sản phẩm tốt, muốn
vậy doanh nghiệp phải luôn cải tiến công nghệ sản xuất, nhng điều này đòi hỏi
doanh nghiệp phải đầu t một lợng vốn lớn mà bản thân doanh nghiệp không thể
bỏ ra ngay đợc. Vì vậy, doanh nghiệp phải vay vốn từ các ngân hàng, lãi suất
phải trả cho các khoản vay là khoản chi phí của doanh nghiệp. Do vậy, lãi suất
thấp sẽ khuyến khích doanh nghiệp vay vốn đầu t, phát triển sản xuất kinh
doanh. Mặt khác, lãi suất là công cụ buộc doanh nghiệp phải sử dụng vốn có
hiệu quả do nếu không sử dụng hiệu quả vốn vay thì doanh nghiệp rất dễ dẫn
đến phá sản.
- Lãi suất là công cụ khuyến khích cạnh tranh giữa các ngân hàng thơng mại:
điều này đợc thể hiện rõ ràng trong cơ chế lãi suất thị trờng, vì các ngân hàng
thơng mại muốn tăng khối lợng vốn huy động, đồng thời mở rộng quan hệ tín
dụng với khách hàng thì các ngân hàng thơng mại phải hạ lãi suất cho vay đồng
thời tăng lãi suất huy động ở mức cho phù hợp với ngân hàng mình điều này là
có lợi cho các chủ thể trong nền kinh tế. Đồng thời đòi hỏi các ngân hàng
không ngừng nâng cao chất lợng dịch vụ và ngày càng hoàn thiện để có chỗ
đứng trên thị trờng.
- Lãi suất là công cụ điều tiết kinh tế vĩ mô.
- Lãi suất là công cụ đo lờng tình trạng sức khoẻ của nền kinh tế: nhìn vào tình
hình biến động lãi suất trên thị trờng trong một thời gian, ngời ta có thể thấy đ-
ợc tình hình kinh tế của một quốc gia. Trong giai đoạn đang phát triển của nền
Đồng Thị Mai Nhung
6
Chuyên đề tốt nghiệp
kinh tế lãi suất có xu hớng tăng do cung cầu quỹ cho vay đều tăng, trong đó
tốc độ tăng của cầu quỹ cho vay nhanh hơn tốc độ tăng của cung quỹ cho vay.
Ngợc lại trong giai đoạn suy thoái của nền kinh tế lãi suất có xu hớng giảm
xuống. Lãi suất, mức lạm phát tính có mối quan hệ chặt với nhau cho nên căn
cứ vào tình hình biến động của lãi suất có thể dự đoán đợc các yếu tố kinh tế
khác.
1.3. Cơ chế điều hành lãi suất của ngân hàng Nhà Nớc qua các thời kì.
Lãi suất là một công cụ đặc biệt quan trọng trong tay NHNN để hoạch định
và điều hành chính sách tiền tệ. Lãi suất là vấn đề hết sức nhạy cảm trong nền
kinh tế, nó tác động đến mọi khâu của quá trình sản xuất, kinh doanh, tích luỹ,
tiêu dùng, tiết kiệm và đầu t Kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn n ớc ta trong
nhiều năm đổi mới cho thấy vai trò quan trọng của cơ chế điều hành lãi suất đối
với mục tiêu ổn định và phát triển thị trờng tài chính tiền tệ, thúc đẩy sản xuất
kinh doanh và tăng trởng kinh tế. Trong quá trình chuyển từ nền kinh tế tập
chung sang nền kinh tế thị trờng, cùng với việc đổi mới cơ chế điều hành chính
sách tiền tệ, tín dụng và hoạt động ngân hàng, cơ chế điều hành lãi suất đã đợc
NHNN cải cách từng bớc theo hớng lãi suất thị trờng và thu đợc những thành
quả cơ bản, sử lí dần dần các bất hợp lí trong cơ chế lãi suất, chế độ kiểm soát
lãi suất cứng nhắc dần dần đợc nới lỏng theo hớng đi tự do hoá với những bớc đi
thận trọng, cụ thể nh sau:
- Thời kì từ năm 1992 trở về trớc: Cơ chế lãi suất tín dụng thời kì này thể hiện
sự bao cấp về vốn của Nhà nớc đối với nền kinh tế, lãi suất âm (lãi suất cho vay
thấp hơn lãi suất tiền gửi), ngân hàng quy định cụ thể từng mức lãi suất tiền gửi
và lãi suất cho vay với từng loại hình doanh nghiệp, từng ngành nghề và lãi suất
phân biệt theo từng thành phần kinh tế.
- Thời kì từ 6/1992 đến 1995: Giai đoạn thực hiện cơ chế lãi suất thực dơng, lãi
suất cho vay bình quân cao hơn lãi suất tiền gửi bình quân, lãi suất tiền gửi bình
quân cao hơn tỷ lệ lạm phát. Các mức lãi suất tiền gửi và cho vay cụ thể thời kì
Đồng Thị Mai Nhung
7
Chuyên đề tốt nghiệp
trớc đợc thay thế bằng khung lãi suất (lãi suất cho vay tối đa và lãi suất tiền gửi
tối thiểu), trong phạm vi khung lãi suất của NHNN, các TCTD đợc phép ấn định
các mức lãi suất tiền gửi và cho vay cụ thể phù hợp với đặc thù hoạt động kinh
doanh và cung cầu vốn từng thời điểm. Cơ chế lãi suất thời kì này thực sự phát
huy vai trò tự nhiên vốn có của nó là đòn bẩy kinh tế, góp phần kiềm chế lạm
phát, duy trì tăng trởng kinh tế và đảm bảo lợi ích cho cả ngời gửi tiền, ngời vay
và NHTM kinh doanh có lãi.
- Thời kì từ năm 1996 đến tháng 7/ 2000: Thời kì tiếp tục chính sách lãi suất
thực dơng nhng đợc nới lỏng hơn thời kì trớc đó, bằng việc thực hiện cơ chế trần
lãi suất cho vay, có áp dụng một số mức trần khác nhau cho khu vực thành thị,
nông thôn hoặc các loại hình TCTD trong thời hạn nhất định. Lãi suất tiền gửi
bắt đầu đợc tự do hoá. Cùng với cơ chế tín dụng thơng mại, các TCTD còn thực
hiện cơ chế tín dụng u đãi thông qua chính sách lãi suất, đối với các đối tợng
chính sách xã hội theo chỉ đạo của chính phủ.
- Thời kì từ tháng 8/2000 đến 30/5/2002: NHNN đã chuyển từ cơ chế điều hành
lãi suất theo trần sang cơ chế điều hành lãi suất cơ bản đối với cho vay bằng
đồng Việt Nam và cơ chế lãi suất thị trờng có quản lí đối với lãi suất cho vay
ngoại tệ, phù hợp với luật NHNN và luật các TCTD. Đặc biệt từ tháng 6/2001,
cơ chế điều hành lãi suất ngoại tệ đợc tiếp tục đổi mới một bớc quan trọng, với
việc bỏ quy định về biên độ lãi suất cho vay bằng đô la Mỹ, lãi suất cho vay đô
la Mỹ nói riêng và cho vay ngoại tệ nói chung đã hoàn toàn đợc tự do hoá. Các
TCTD ấn định lãi suất cho vay bằng đô la Mỹ theo thoả thuận với khách hàng,
dựa trên cơ sở lãi suất thị trờng quốc tế và cung cầu vốn tín dụng bằng ngoại tệ
ở trong nớc. Cơ chế lãi suất tín dụng thời kì này là bớc tiến quan trọng trong
quá trình tự do hoá lãi suất, đáp ứng đòi hỏi của nền kinh tế đang trong quá
trình hội nhập quốc tế. Cơ chế lãi suất tái chiết khấu của NHNN đối với các
TCTD cũng dần đợc đổi mới từ cho vay trực tiếp nhằm bổ xung nguồn vốn lu
động cho TCTD sang cho vay tái cấp vốn, thực hiện vai trò NHNN là ngời cho
Đồng Thị Mai Nhung
8
Chuyên đề tốt nghiệp
vay cuối cùng. Lãi suất cho vay tái cấp vốn đợc điều chỉnh tăng hay giảm phù
hợp với nội dung và mục tiêu của chính sách tiền tệ từng thời kì có tác động
một cách gián tiếp lên lãi suất thị trờng tiền tệ.
Tổng quan nhận xét rằng, trong 15 năm đổi mới vừa qua, cơ chế lãi suất của
NHNN đã đợc hoạch định và điều hành theo định hớng tích cực, nới lỏng từng
bớc hớng tới tự do hoá, phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội trong nớc, mức độ
hội nhập của nền kinh tế nớc ta với thị trờng tài chính khu vực và thế giới. Cơ
chế điều hành lãi suất ngày càng trở nên linh hoạt hơn, bám theo cung cầu vốn
thị trờng, dần dần mở rộng quyền chủ động xác định lãi suất kinh doanh cho
các TCTD để tăng khả năng cạnh tranh nhng vẫn đảm bảo sự kiểm soát và điều
hành của NHNN đối với lãi suất trên thị trờng tiền tệ. Đi sâu vào cơ chế điều
hành lãi suất cơ bản, NHNN bỏ việc quy định trần lãi suất cho vay của các
TCTD đối với khách hàng, chuyển sang xác định và công bố lãi suất cơ bản
dựa trên việc tham khảo lãi suất cho vay ngắn hạn thông thờng của các NHTM
áp dụng đối với khách hàng có uy tín và một số các tiêu thức kinh tế vĩ mô
khác. Mức lãi suất cơ bản đợc cộng thêm một biên độ bằng số phần trăm tuyệt
đối sẽ là giới hạn lãi suất tối đa cho các TCTD đợc phép cho vay. Điểm khác
biệt về nội dung đổi mới của cơ chế điều hành lãi suất cơ bản khác với cơ chế
điều hành lãi suất trớc đó, kể cả cơ chế điều hành lãi suất trần là, việc xác
định một mức lãi suất dựa vào quan hệ cung cầu vốn tín dụng trên thị trờng,
thông qua việc tính toán bình quân các mức lãi suất huy động và cho vay của
một số NHTM đợc chọn làm đại diện cụ thể là 15 ngân hàng, đồng thời tham
khảo cân nhắc thêm lãi suất trên thị trờng liên ngân hàng, lãi suất thị trờng
mở, lãi suất đấu thầu tín phiếu kho bạc và một số tiêu thức tăng trởng kinh tế,
lạm phát, tỷ giá Mức lãi suất này làm cơ sở cho các tổ chức tín dụng thực hiện
cho vay. Rõ ràng là, nếu nh cơ chế lãi suất trớc đó chủ yếu đợc điều hành theo
ý thức chủ quan áp đặt, hành chính thì cơ chế lãi suất này đã thể hiện một bớc
đổi mới cơ bản là NHNN đã điều hành lãi suất theo tín hiệu thị trờng, chú trọng
Đồng Thị Mai Nhung
9
Chuyên đề tốt nghiệp
đến cung cầu vốn tín dụng và mục tiêu của chính sách tiền tệ. Lãi suất cơ bản
cộng với một biên độ xác định trong từng thời kì, mặc dù biện pháp này còn
mang tính hành chính, nhng sự can thiệp chỉ mang tính chất quy định về nguyên
tắc chung của NHNN và không quy định trực tiếp, cụ thể mức lãi suất cho vay
của các TCTD. Việc điều chỉnh mức lãi suất cơ bản hàng tháng một cách linh
hoạt đã tạo điều kiện bám sát tín hiệu thị trờng, cung cầu vốn tín dụng, đáp ứng
mục tiêu chính sách tiền tệ, đảm bảo sự kiểm soát của NHNN trên thị trờng
tiền tệ. Tuy nhiên, để phù hợp với cơ chế thị trờng ngày càng phát triển và hoàn
thiện ở nớc ta thì cơ chế lãi suất cần phải thay đổi sao cho phù hợp với thị trờng.
- Từ 30/ 5/ 2002 đến nay: Ngày 30/ 5/ 2002, Thống đốc NHNN Việt Nam đã
ban hành quyết định số 546/2002/QĐ-NHNN về việc thực hiện cơ chế lãi suất
thoả thuận trong hoạt động tín dụng thơng mại bằng đồng Việt Nam của TCTD
đối với khách hàng. Rõ ràng đây là một bớc chuyển đổi quan trọng, mạnh mẽ
và cần thiết trong chính sách tín dụng, phù hợp với nguyên tắc thị trờng, nhằm
đảm bảo nguồn tài chính đợc sử dụng và phân bổ một cách hiệu quả hơn. Đến
đây thì lãi suất thực sự đã đợc tự do hoá, đợc hình thành trên cơ sở quan hệ cung
cầu vốn và bộc lộ những vai trò vốn có của nó.
1.4. Sự cần thiết phải chuyển đổi lãi suất theo cơ chế thị trờng
Thực tiễn việc hoạch định và điều hành chính sách tiền tệ thời gian qua
cho thấy chính sách lãi suất là một công cụ quan trọng của chính sách tiền tệ.
Sự vận động, thay đổi chính sách lãi suất có tác động nhanh và mạnh đến thị tr-
ờng tiền tệ, tín dụng tạo hiệu ứng rõ rệt đối với hoạt động của hệ thống ngân
hàng và tác động đối với nền kinh tế. Trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung, lãi
suất cha đợc sử dụng một cách đầy đủ nh một đòn bẩy kinh tế nhằm kích thích
tăng trởng kinh tế, chuyển sang cơ chế thị trờng, lãi suất phát huy mạnh mẽ vai
trò vốn có của nó với t cách là giá cả của vốn và chịu tác động của quan hệ cung
cầu.
1.4.1. Cải cách kinh tế theo hớng thị trờng đòi hỏi phải cải cách lãi suất
Đồng Thị Mai Nhung
10
Chuyên đề tốt nghiệp
Thực hiện đờng lối đổi mới do Đại hội Đảng lần thứ VI (1986) đề ra
chuyển nền kinh tế từ cơ chế tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trờng theo
định hớng xã hội chủ nghĩa, một nội dung đổi mới có tính chất then chốt là
chuyển hệ thống ngân hàng từ 1cấp sang 2 cấp. Quá trình đổi mới bắt đầu từ 3/
1988 theo nghị định 53/ NĐ của chính phủ và chính thức từ pháp lệnh ngân
hàng 5/ 1990. Qua hơn 10 năm thực hiện đổi mới kinh tế toàn diện, các chính
sách về giá cả (giá cả hàng hoá, tỷ giá hối đoái) ở Việt Nam đã đợc cải cách
đáng kể theo định hớng thị trờng, theo định hớng đó cơ chế bao cấp ở khu vực
ngân hàng cũng từng bớc đợc xoá bỏ và thay vào đó là chế độ hoạch toán kinh
doanh theo cơ chế thị trờng. Hệ thống ngân hàng 2 cấp đợc xác lập, NHNN thực
hiện chức năng NHTƯ và quản lí nhà nớc về tiền tệ. Hệ thống ngân hàng thơng
mại thực hiện chức năng NHTM là kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng
theo cơ chế thị trờng, lãi suất ngân hàng với t cách là một loại gía cũng từng bớc
đợc chuyển đổi theo hớng thị trờng. Từ lãi suất thực âm chuyển sang lãi suất
thực dơng với các mức khống chế trần sàn lãi suất cho vay, loại bỏ dần các mức
khống chế và giai đoạn gần đây nhất là cơ chế lãi suất cơ bản. Thực chất cơ chế
này cũng vẫn còn là một hình thức lãi suất trần và trong giai đoạn hiện nay cơ
chế này đã không còn phù hợp nữa do những hạn chế của nó vì vậy cần phải có
cơ chế lãi suất mới phù hợp hơn.
Những hạn chế của cơ chế lãi suất cơ bản trong nền kinh tế thời gian
qua đợc bộc lộ nh:
- Sau gần hai năm áp dụng cơ chế lãi suất cơ bản từ tháng 8/ 2000 đến tháng
6/ 2002 cho thấy, biên độ 0,3% đối với cho vay ngắn hạn và 0,5% đối với cho
vay dài hạn là khá rộng cho các TCTD định đoạt mức lãi suất cho vay, kể cả
việc cộng thêm các khoản chi phí liên quan đến khoản vay mà không vợt quá
biên độ tối đa cho phép. Song thực tế thấy rằng biên độ lãi suất này chỉ phù hợp
với cácTCTD Nhà Nớc và các khoản tín dụng khu vực thành thị. Còn đối với
Đồng Thị Mai Nhung
11
Chuyên đề tốt nghiệp
các TCTD cổ phần và các khoản tín dụng khu vực nông thôn là cha thoả đáng
cụ thể:
Bảng1.1: Lãi suất cơ bản đơn vị:% tháng
Thời gian
Lãi
suất
cơ bản
Trần lãi suất cho
vay
Lãi suất cho
vay bình quân
khu vực thành
thị
Lãi suất cho
vaybìnhquân
khuvực nông
thôn
Cho vay
ngắn hạn
Cho vay
dài hạn
8/ 00 đến 2/ 01 0,75 1,05 1.25 0,775 1,1
3/ 2001 0,725 1,025 1,225 0,75 1,1
4/ 2001 0,70 1,0 1,20 0,75 1,05
5/ 01 đến 9/ 01 0,65 0,95 1,15 0,75 1,05
10/01đến 5/ 02 0,60 0,9 1,10 0,725 0,9
Nguồn số liệu: Tạp chí ngân hàng số 7/2002
Theo bảng số liệu ta thấy lãi suất cho vay bình quân cả ngắn hạn và dài
hạn của khu vực thành thị ngày càng giảm và luôn cách xa lãi suất trần. Còn
khu vực nông thôn lãi suất cũng ngày càng giảm tuy có áp sát với lãi suất trần.
Điều này đã cho thấy vai trò của biên độ nhằm xác định trần lãi suất cho vay
tối đa của các TCTD đã không còn ý nghĩa đối với xu hớng ngày càng giảm lãi
suất cho vay trong nền kinh tế trong giai đoạn này.
- Trong tình hình phát triển kinh tế hiện nay nhu cầu vốn của nền kinh tế để
đầu t vào các phơng án, dự án sản xuất kinh doanh là rất lớn. Điều này đòi hỏi
các TCTD phải đẩy mạnh việc khai thác vốn bằng nhiều cách để đáp ứng nhu
cầu tín dụng để đầu t phát triển kinh tế. Một trong những biện pháp tăng huy
động vốn của các tổ chức tín dụng là tăng lãi suất huy động vốn. Nhng muốn
tăng lãi suất huy động (lãi suất đầu vào) thì cũng phải tăng lãi suất cho vay thì
mới đảm bảo yêu cầu kinh doanh không bị lỗ của các TCTD. Trong khi đó lãi
suất cho vay lại bị ấn định bởi lãi suất trần tối đa, nh vậy cho dù lãi suất huy
động không bị quy định mức trần tối đa nhng các TCTD vẫn không thể tăng lãi
suất vợt mức lên đợc do nh vậy thì chênh lệch lãi suất đầu vào và lãi suất đầu
ra không đảm bảo TCTD kinh doanh có lãi. Lãi suất huy động và lãi suất cho
Đồng Thị Mai Nhung
12
Chuyên đề tốt nghiệp
vay là một vấn đề thống nhất, đã tạo quyền tự do xác định lãi suất huy động, thì
cũng cần tạo quyền tự do xác định lãi suất cho vay cho các TCTD, đó là sự cần
thiết cho quá trình tổ chức kinh doanh của các TCTD, phù hợp với yêu cầu của
nền kinh tế thị trờng.
-Lãi suất cơ bản với bản chất là quy định mức lãi suất trần cho vay chủ yếu
nhằm mục tiêu khống chế các TCTD không đợc cho vay với lãi suất cao vợt quá
mức ảnh hởng đến thị trờng tiền tệ và khả năng vay vốn của doanh nghiệp.
Trong nền kinh tế thị trờng, các TCTD sẽ ngày càng cạnh tranh quyết liệt thông
qua việc hạ lãi suất cho vay đến mức thấp nhất có thể đợc để thu hút khách
hàng. Các TCTD không dễ độc quyền, tự do tăng lãi suất cho vay khi không đợc
thị trờng và khách hàng chấp nhận. Điều này chứng tỏ việc khống chế trần lãi
suất cho vay sẽ không còn là vấn đề quan trọng trong khi nền kinh tế thị trờng
đã đặt các TCTD vào cuộc cạnh tranh để tìm kiếm khách hàng và tăng thị phần
tín dụng trong nền kinh tế.
- Đối với khu vực nông nghiệp, nông thôn ngoài những khoản tín dụng chính
sách u đãi đã đợc chính phủ có quy định cụ thể các mức lãi suất thấp với các
khoản cho vay chỉ định sẽ là những khoản tín dụng thơng mại cần đợc thực hiện
theo lãi suất thị trờng. Cơ chế lãi suất thị trờng này chính là sự thoả thuận giữa
TCTD và ngời vay vốn để đảm bảo yêu cầu kinh doanh của cả hai bên. Trên
thực tế ở nhiều vùng nông thôn ngời vay cần đợc hỗ trợ nhiều hơn về khối lợng,
thời hạn, thủ tục thuận lợi vay vốn hơn là vấn đề lãi suất. Sự chủ động về lãi
suất tín dụng sẽ vừa tạo sự chủ động kinh doanh của các TCTD vừa tạo cơ hội
tiếp cận nhiều hơn các khoản tín dụng trên thị trờng chính thức của các tổ chức
kinh tế và các hộ nghèo vay vốn. Bởi thực tế lãi suất trên thị trờng chính thức
của các TCTD còn thấp hơn nhiều các khoản tín dụng nặng lãi vẫn phổ biến ở
các khu vực nông thôn hiện nay.
- Từ thực tế thực hiện cơ chế tự do hoá lãi suất cho vay bằng ngoại tệ cho thấy
gần hai năm thực hiện cơ chế này, tỷ giá và thị trờng ngoại hối không những
Đồng Thị Mai Nhung
13
Chuyên đề tốt nghiệp
vẫn đảm bảo ổn định mà còn tạo điều kiện cho các TCTD chủ động ấn định lãi
suất huy động và cho vay phù hợp với nhu cầu vốn ngoại tệ, biến động lãi suất
thị trờng quốc tế, tăng khả năng huy động vốn, cho vay bằng ngoại tệ, nhất là
cho vay đầu t trung dài hạn.
Từ những lí do trên cho thấy xu thế khách quan đòi hỏi của thị trờng bỏ cơ
chế điều hành lãi suất cơ bản thay bằng cơ chế lãi suất thoả thuận.
1.4.2. Cải cách khu vực ngân hàng theo định hớng thị trờng đòi hỏi cải
cách lãi suất
Việt Nam đang trong quá trình đổi mới toàn diện hệ thống ngân hàng. Nội
dung chủ yếu trong chơng trình cải cách ở hệ thống ngân hàng theo định hớng
thị trờng là
- Cải cách NHNN về công cụ chính sách, mô hình tổ chức nhằm nâng
cao năng lực điều hành chính sách tiền tệ và kiểm soát thị trờng tài chính của
NHNN trong điều kiện kinh tế thị trờng phát triển và hội nhập quốc tế.
- Cơ cấu lại hệ thống ngân hàng thơng mại nhằm đảm bảo tính an toàn,
lành mạnh và hiệu quả trong hoạt động, góp phần tăng trởng kinh tế nhanh và
bền vững trong những năm tới.
Cải cách NHNN và chính sách tiền tệ:
Từ những năm 90 đến nay NHNN đã từng bớc đa ra các công cụ gián tiếp
thay thế các công cụ trực tiếp trong điều hành chính sách tiền tệ, vai trò quản lí
nhà nớc đã đợc tăng cờng. Nhng nhìn từ góc độ về chính sách tiền tệ trong mục
tiêu trung gian chỉ có thể chọn mục tiêu là M (tổng lợng tiền cung ứng) hoặc i
(mức lãi suất) vì hai mục tiêu này có mâu thuẫn, nếu cố định mức cung tiền thì
phải thả nổi lãi suất, nếu cố định lãi suất thì NHTƯ phải thờng xuyên thay đổi
mức cung tiền tức thả nổi cung tiền mà điều này là không thuận lợi. Nếu cố
định cả mức cung tiền và lãi suất thì nền kinh tế sẽ cứng nhắc, không linh hoạt.
ở Việt Nam trong thời gian qua đã đặt ra cố định bao gồm cả lãi suất và lợng
tiền cung ứng tức là ở mục tiêu trung gian chọn cả hai mục tiêu là lãi suất và l-
Đồng Thị Mai Nhung
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét