Chủ Nhật, 16 tháng 2, 2014

nâng cao chất lượng thẩm định dự án đầu tư

4
* Căn cứ vào mục đích hoặc việc sử dụng vốn vay gồm nhiều hình thức
là:
- Cho vay bất động sản là những khoản cho vay nhằm mục đích mua sắm
đất đai, nhà cửa.
- Cho vay thương mại, cơng nghiệp và nơng nghiệp là những khoản cho
vay nhằm mục đích sản xuất, kinh doanh trong ngành thương mại - dịch vụ,
ngành nơng nghiệp và ngành cơng nghiệp.
- Cho vay cá nhân là những khoản cho các cá nhân và hộ gia đình vay mà
chủ yếu họ dùng để mua sắm hàng tiêu dùng cá nhân.
- Cho vay khác và th mua chủ yếu bao gồm những khoản cho vay đối
với các tổ chức tài chính, chính quyền địa phương hay mua và chuyển nhượng
các chứng khốn.
* Căn cứ vào luật thế chấp bao gồm:
- Cho vay có đảm bảo được biểu hiện việc cho vay có cầm giữ các vật thế
chấp nào đó như: Bất động sản, nhà máy và máy móc, các vật đơn có thể chuyển
hố được, các cổ phiếu Cơng ty và các trái khốn. u cầu cơ bản của các tài
sản này là chúng có thể bán được. Lý do chủ yếu đòi hỏi một khoản cho vay
phải được bảo đảm là nhằm tạo điều kiện để người cho vay giảm bớt rủi ro mất
mát trong trường hợp người đi vay khơng muốn hoặc khơng thể trả nợ vay khi
đáo hạn. Bảo đảm khơng có nghĩa là món nợ sẽ được hồn trả vì ngân hàng
trong trường hợp trở thành chủ nợ ưu tiên trong chi trả, và cũng có quyền ưu
tiên so với tất cả các chủ nợ khác trong trường hợp thanh lý các tài sản đã được
thế chấp vào ngân hàng, mà chủ yếu có tác dụng làm giảm bớt rủi ro.
- Cho vay khơng có đảm bảo có biểu hiện ngược lại với cho vay có đảm
bảo. Phương pháp cho vay này dựa trên sự tin tưởng và tình hình tài chính của
người cho vay, lợi tức có thể được trong tương lai và tình hình trả nợ trước đây.
Trái với điều mà người ta vẫn tin, những khoản cho vay lớn nhất được một số
ngân hàng thực hiện lại được dựa trên cơ sở khơng đảm bảo. Một số Cơng ty
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
5
được các ngân hàng xem là người vay chủ yếu, trong nhiều trường hợp họ được
hưởng lãi xuất ưu đãi nhất. Những Cơng ty ấy có cách quản l
ý
ý hiệu quả, có các
sản phẩm, và các dịch vụ được thị trường sẵn sàng chấp nhận, có lợi nhuận
tương đối ổn định và với một tình hình tài chính vững mạnh. Nhiều cá nhân
cũng được hưởng đặc quyền này. Những người có nhà riêng, cơng ăn việc làm
ổn định, trả nợ sòng phẳng thể hiện trên sổ sách theo dõi, thường được vay trên
cơ sở khơng cần bảo đảm.
* Căn cứ vào kỳ hạn nợ được quy định trong hợp đồng tín dụng:
- Cho vay ngắn hạn được thực hiện cho một qng thời gian riêng biệt lên
tới một năm.
- Cho vay theo u cầu là khoản cho vay khơng có kỳ hạn nhất định, và
phải được trả khi có u cầu, vào bất cứ lúc nào. Đối với các doanh nghiệp đây
là những khoản cho vay để bổ xung vốn lưu động và hồn trả sau một cho một
kỳ sản xuất kinh doanh.
- Cho vay trung và dài hạn bao gồm các khoản cho vay trên một năm.
* Căn cứ vào phương pháp hồn trả:
- Các khoản cho vay được hồn trả một lần được quan niệm như những
khảon cho vay theo hợp đồng u cầu hồn trả tồn bộ một lần vào thời gian đáo
hạn cuối cùng.
- Cho vay trả góp hỏi việc hồn trả theo định kỳ có thể là hàng tháng,
hàng qu
ý
, nửa năm hoặc hàng năm, nó được thực hiện theo ngun tắc trả dần
trong suốt kỳ hạn thực hiện hợp đồng. Nhờ vậy, việc hồn trả khơng trở thành
một gánh nặng lớn đối với người vay như trong trường hợp tồn bộ khoản vay
phải được trả một lần.
* Căn cứ vào nguồn gốc:
Khoản mục cho vay của các ngân hàng thương mại bắt nguồn từ bốn
nguồn chủ yếu: trựctiếp từ người vay, qua việc mua các trái phiếu từ những
người tiêu dùng, mua những khoản đóng góp trong những khoản cho vay có
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
6
nguồn từ các ngân hàng khác cho vay có số lượng nhiều nhất được thực hiện
trực tiếp với người xin vay tại trụ sở ngân hàng.
2. Vai trò của thẩm định dự án đầu tư trong cho vay trung và dài hạn.
a. Thẩm định dự án đầu tư.
Bất kỳ một cơng việc kinh doanh nào muốn bắt đầu hay mỏ rộng, nâng
cấp, phát triển đều cần có vốn. Nguồn vốn đầu tiên được đưa ra sử dụng là vốn
tự có được tích luỹ đến thời điểm dự kiến đầu tư. Trường hợp nguồn này khơng
đủ đáp ứng, chủ thể muốn kinh doanh sẽ buộc phải tìm đến các nguồn vốn khác
từ bên ngồi. Đó là nguồn do nhà nước cấp vốn đầu tư từ nước ngồi, vốn huy
động bằng phát hành và vốn vay ngân hàng.
Tuy nhiên, cho dù hình thức nào được lựa chọn thì chủ yếu đầu tư cũgn
chỉ đầu tư khi họ biết chắc rằng số tiền mà họ bỏ ra phải đem lại lợi ích như
mong muốn. Để cơng việc kinh doanh của mình được tài trợ, cá nhân hay tổ
chức thiếu vốn phải chứng minh được tính hiệu quả của cơng việc đầu tư của họ.
Biện pháp thơng thường và hiệu qủa nhất chính là lập dự án đầu tư. Đó là một
văn bản phản ánh trung thực kết quả nghiên cứu cụ thể tồn bộ các vấn đề kinh
tế, kỹ thuật, thị trường, tổ chức… Có ảnh hưởng trực tiếp đến sự vận hành, khai
thác và khả năng sinh lợi của các cơng cuộc đầu tư. Có thể nói dự án đầu tư
(Được soạn thảo tốt) là kim chỉ nam, là cơ sở vững chắc, là tiền đề cho việc thực
hiện các cơng cuộc đầu tư đạt kết quả kinh tế xã hội mong muốn. Hơn nữa, đối
với ngân hàng, đây là căn cứ để tiến hành cơng việc thẩm định.
Thẩm định cho vay vốn cố định (trung và dài hạn) là q trình thu nhập
xử lý các thơng tin về một dự án, phương án, biện pháp đầu tư trên nhiều
phương diện, phục vụ cho việc ra quyết định trong nghiệp vụ cho vay trung hạn
và dài hạn của ngân hàng.
Thẩm định là một giai đoạn quan trọng trong q trình tín dụng, giúp cho
ngân hàng đánh giá chính xác sự cần thiết, tính khả thi và hiệu quả của dự án để
ra quyết định đúng, có biện pháp hữu hiệu và đảm bảo thu nợ tốt, hạn chế rủi ro
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
7
và mang lại hiệu quả cao. Qua thẩm định ngân hàng có thể tư vấn cho khách
hàng về một số mặt như thanh tốn, giá cả sản phẩm, chiến lược kinh doanh,
quản l
ý
ý.
b. Vai trò thẩm định dự án đầu tư.
Tín dụng ngân hàng được chia thành nhiều loại theo những tiêu thức khác
nhau. Về thời hạn của tín dụng thì có hai loại: Tín dụng dưới một năm là ngắn
hạn, tín dụng trung dài hạn là có thời hạn từ một năm trở lên. Do có đặc điểm
thời gian dài và vốn lớn nên tín dụng trung dài hạn phức tạp hơn nhiều. Việc
tiến hành cơng tác thẩm định dự án đầu tư cũng nhằm phục vụ cho các dự án
trung và dài hạn.
- Thứ nhất: Hoạt động đầu tư có tính hai mặt. Điều đó có nghĩa là muốn
phát triển kinh tế buộc phải đầu tư, song đầu tư khơng hiệu quả sẽ dẫn đến tốn
kém, thậm chí mất vốn ảnh hưởng đến kinh tế xã hội.
Hoạt động đầu tư là q trình sử dụng vốn đầu tư nhằm tái sản xuất giản
đơn và tái sản xuất mở rộng các cơ sở vật chất kỹ thuật của nền kinh tế nói
chung, của địa phương, của ngành và các cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ nói
riêng. Khi một dự án được tiến hành, nó liên quan tới nhiều khía cạnh của đời
sống kinh tế xã hội, chẳng hạn như sự phân cơng lao động, phânbổ nguồn lực,
trình độ kỹ thuật cơng nghệ, trình độ quản l
ý
ý, vấn đề mơi sinh, mức sống và
thúc đẩy sự phát triển kinh tế, sự tiến bộ của xã hội.
Mặt khác, nếu có bất trắc xảy ra mà dự án khơng được thực thi như kế
hoạch dự kiến hoặc khơng mang lại hiệu quả như mong muốn thì khơng những
khơng có lợi ích gì mà còn tác động tiêu cực đến nhiều khía cạnh. Một dự án
đang thi cơng mà bị gián đoạn, bỏ dở thì rõ ràng vốn đầu tư trở nên lãng phí vơ
ích. Ngay cả một cơng trình đã hồn thành và được đưa vào sử dụng, cho dù có
đem lại nguồn lợi nhuận lớn thế nào đi chăng nữa nhưng có ảnh hưởng khơng
tốt đến mơi trường, hay đơn giản chỉ là phá vỡ tính thống nhất của cảnh quan thì
cũng khơng thể chấp nhận được, tổn thất lúc này mới lớn chừng nào.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
8
Đầu tư là cần thiết, song đầu tư phải đem lại hiệu quả mới có ý nghĩa.
Cơng tác thẩm định xuất phát từ mục đích này.
Thứ hai: Rủi ro trong hoạt động tín dụng ngân hàng là rủi ro lớn nhất. Đó
là rủi ro khơng thu hồi được các khoản cho vay. Rủi ro tín dụng xảy ra sẽ gây
khó khăn cho ngân hàng do: Phải dánh chịu chi phí đầu vào q lớn, đối mặt với
luồng tiền rút ra lớn hơn mức dự kiến có khả năng đáp ứng, làm giảm lòng tin
của khách hàng đối với ngân hàng… Nếu trường hợp rủi ro lớn và đồng thời có
thể dẫn đến sự phá sản của ngân hàng, thậm chí sự sụp đổ của thị trường tài
chính.
Cho nên, hơn các đối tượng khác ngân hàng đặc biệt quan tâm đến các
biện pháp hạn chế và phòng ngừa rủi ro. Thẩm định dự án đầu tư đã trở nên một
khâu khơng thể thiếu trong q trình xét duyệt cho vay của ngân hàng. Nhờ
cơng tác thẩm định mà các ngân hàng có thể tự mình kiểm sốt mức độ hiệu quả
của cơng việc kinh doanh trong tương lai.
xét trên quan điểm cho vay và thu hồi vốn nói chung, vốn trung và dài hạn
nói riêng thì vấn đề thẩm định dự án đầu tư là một nhiệm vụ quan trọng của mọi
ngân hàng trước khi ra quyết định đầu tư. Để cơng việc được tiến hành chặt chẽ,
cán bộ tín dụng cần nắm vững chủ trương chính sách phát triển kinh tế của nhà
nước, ngành địa phương và các quy chế quản l
ý
ý kinh tế, quản l
ý
ý đầu tư xây
dựng cơ bản. Ngồi ra còn phải nắm vững tình hình kinh tế, chính trị của thế
giới, khu vực và của nước có liên quan đến việc thực hiện dự án đầu tư. Đồng
thời, trong q trình thẩm định, cán bộ tín dụng phải nghiên cứu và kiểm tra một
cách khách quan khoa học và tồn diện về nội dung dự án, tình hình đơn vị vay
vốn khi cần thiết sẽ phối hợp với các cơ quan chun mơn và chun gia để đưa
ra các nhận xét, kết luận kiến nghị chính xác. Với tư cách là bên thẩm định dự
án để cho vay, ngân hàng quan tâm nhất đến mức độ an tồn vốn.
Do đó, kết qủa thẩm định sẽ là những kết luận chính xác về tính khả thi
hiệu quả kinh tế, khả năng trả nợ và những rủi ro có thể xảy ra của dự án để
những quyết định cho vay hoặc từ chối. Trường hợp dự án được chấp nhận, kết
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
9
quả này còn làm cơ sở để xác định số tiền cho vay, thời gian cho vay, mức thu
nợ hợp lý, tạo điều kiện thuận lợi cho Doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả.
Ở đây, chúng ta có thể kể đến một số biện pháp được đánh giá có hiệu quả
trong cơng việc thẩm định dự án đầu tư. Đó là:
Trước tiên, Cán bộ tín dụng cần tham gia, khảo sát hiện trạng hoạt động
của Doanh nghiệp hiện có (nếu dự án là đầu tư mở rộng) hoặc địa điểm để xây
dựng, lắp đặt nhà xưởng mới, các máy móc thiết bị mà dự án sẽ đầu tư.
Sau đó, cán bộ tín dụng sẽ tiến hành thu thập thơng tin, số liệu từ nhiều
nguồn khác nhau để có số liệu so sánh, đối chiếu và xử lý thơng tin. Nếu cần
thiết phải phối hợp với các cơ quan chun mơn, các chun gia để kiểm tra tính
chính xác của các chỉ tiêu kinh tế, kỹ thuật quan trọng của dự án.
Cuối cùng: Cần nhấn mạnh là khi tiến hành thẩm định, cán bộ tín dụng
cần kiểm tra nhiều lần trong suốt cả q trình từ khi có chủ chương đầu tư, xây
dựng dự án tiền khả thi, xây dựng luận chứng kinh tế kỹ thuật cho đến khi luận
chứng kinh tế kỹ thuật được duyệt. Mỗi lần kiểm tra thẩm định như vậy, cán bộ
thẩm định đều phải có văn bản trả lời chủ đầu tư, báo cáo lãnh đạo chi nhánh và
ngân hàng cấp trên (nếu vượt mức phán quyết) để chủ đầu tư biết mà triển khai
các cơng việc cần thiết, bổ sung hồn chỉnh hồ sơ, đồng thời giúp lãnh đạo chi
nhánh, ngân hàng cấp trên biết để còn kịp thời chỉ đạo.
Như vậy, cơng việc thẩm định dự án đầu tư giúp cho ngân hàng ra quyết
định có cho vay hay khơng? Nếu cho vay thì cho vay như thế nào, với mức là
bao nhiêu. Điều này đảm bảo an tồn cho ngân hàng trong sử dụng vốn, giảm
thiểu nợ q hạn khó đòi. Bên cạnh đó, cơng tác thẩm định còn giúp cho chủ đầu
tư lựa chọn những phương án tốt nhất hoặc đưa ra ý kiến xác đang gợi ý cho chủ
đầu tư để dự án có tính khả thi cao hơn. Nó còn giúp các cơ quan quản l
ý
ý nhà
nước đánh giá sự cần thiết và phù hợp của dự án với quy hoạch phát triển chung
của ngành, địa phương và của cả nước trên các mặt: Mục tiêu, quy hoạch, quy
mơ và hiệu quả.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
10
II. TRÌNH TỰ VÀ NỘI DUNG CỦA CƠNG TÁC THẨM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ.
1. Cơ sở và phương pháp thẩm định.
Khi tiến hành thẩm định cần thu thập các tài liệu sau để làm cơ sở cho
cơng tác thẩm định:
- Các tài liệu nói về chủ trương nhiệm vụ phát triển kinh tế của Nhà nước,
địa phương, của ngành kinh tế, xu hướng phát triển ngành kinh tế.
- Các tiêu chuẩn, định mức kinh tế kỹ thuật.
- Thơng báo giá cả hàng hố, thiết bị trên thị trường trong nước, ngồi
nước và diễn biến của thị trường.
- Các văn bản pháp lý có liên quan.
- Các dự án tương tự.
- Các tài liệu về tài chính, hoạt động và uy tín của pháp nhân vay vốn 2
năm trước và các qúy trong năm xin vay.
- Hồ sơ xin vay của chủ đầu tư.
- Ngồi ra còn có các thơng tin về pháp nhân vay vốn thu thập được qua
thăm dò, phỏng vấn từ các đối tác của chủ đầu tư, chủ yếu là người mua sản
phẩm, nhà cạnh tranh cùng loại hình Doanh nghiệp.
Sau khi thu thập đầy đủ các thơng tin, cán bộ tín dụng có thể sử dụng các
phương pháp sau đây để phân tích, đánh giá:
a. Phương pháp so sánh:
Khi sử dụng phương pháp này cần đảm bảo tính so sánh được giữa các chỉ
tiêu, nghĩa là phải thống nhất về khơng gian, thời gian, nội dung, tính chất và
đơn vị thanh tốn… Trong khi so sánh cần chọn một gốc thời gian để so sánh
nội dung so sánh có thể xem xét trên một số điểm.
* So sánh giữa năm này với năm trước để thấy được xu hướng thay đổi
của chỉ tiêu, qua đó đánh giá tốc độ tăng trưởng hay thụt lùi của một hoạt động,
ví dụ như hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
11
* So sánh dự án này với dự án tương tự để đánh giá mức độ khả thi, tính
cạnh tranh.
* So sánh theo chiều dọc để thấy được tỷ trọng của từng chỉ tiêu so với
tổng thể.
Qua so sánh chúng ta có thể phân tích đánh giá về hiệu quả cũng như xu
hướng của hoạt động sản xuất doanh nghiệp.
b. Phương pháp phân tích tài chính qua các chỉ tiêu kinh tế.
Phương pháp này dựa trên ý nghĩa chuẩn mực các tỷ trọng trong quanhệ
tài chính. Phương pháp này chỉ có ý nghĩa nếu ta xác định được các định mức
u cầu đối với các chỉ tiêu tài chính. Chúng ta có thể thực hiện phân tích tài
chính giản đơn qua các chỉ tiêu lợi nhuận, thời gian hồn vốn, điểm hồ vốn, các
chỉ tiêu về khả năng thanh tốn… Hoặc thực hiện phân tích tài chính bằng
phương pháp giá trị hiện tại dòng (NPV), phương pháp tính tỷ xuất hồn vốn nội
bộ (IRR) hay phương pháp tỷ suất hồn vốn nội bộ điều chỉnh (MIRR). Trong
thực tế, chúng ta áp dụng cả 2 phương pháp so sánh và phân tích tỷ lệ để có cách
phân tích, đánh giá tồn diện và hiệu quả.
1. Thẩm định doanh nghiệp vay vốn.
a. Tư cách pháp nhân.
Về thực chất đây là bước cán bộ thẩm định cần thẩm định về cơ sở pháp
lý và tình hình hoạt động kinh doanh của Doanh nghiệp cần vay vốn.
Giấy tờ chứng nhận về tư cách pháp nhân bao gồm: Giấy phép thành lập,
đăng ký kinh doanh, điều lệ hoạt động, quyết định bổ nhiệm giám đốc, kế tốn
trưởng… Các giấy tờ này phải phù hợp với quy định trong luật Doanh nghiệp
nhà nước, luật Doanh nghiệp tư nhân luật cơng ty, luật hợp tác xã, luật đầu tư
nước ngồi… Cán bộ tín dụng phải kiểm tra đối chiếu bản gốc của các nội dung
đã kê khai trong đơn vị xin vay vốn và lưu lại các bản sao. Mục đích của bước
thẩm định này là đưa ra kết luận mức độ tin cậy về tư cách pháp nhân của
Doanh nghiệp cũng như sở trường và uy tín trong kinh doanh.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
12
b. Phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh và tình hình tài chính của
Doanh nghiệp.
Để phântích được tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh và tình hình tài
chính của Doanh nghiệp, cán bộ tín dụng sẽ phải lấy số liệu ít nhất là 3 năm gần
nhất của đơn vị hoạt động sản xuất lỗ lãi của từng đơn vị qua từng thời kỳ. Ở
đây, cán bộ tín dụng sẽ quan tầmn đến mức độ tự chủ về tài chính, khả năng
thanh tốn và chỉ tiêu sinh lời.
- Khả năng tự cân đối tài chính được đánh giá thơng qua 2 chỉ tiêu: Hệ số
tài trợ và năng lực đi vay.
Trong đó:
Hệ số tài trợ =
Nguồn vốn hiện có của Doanh nghiệp

Σ nguồn vốn Doanh nghiệp đang sử dụng

Năng lực đi vay =
Nguồn vốn hiện có của Doanh nghiệp

Vốn thường xun

Nếu các hệ số này: Kỳ sau > kỳ trước > 0,5 là tốt
Tình hình tài chính doanh nghiệp được thể hiện khá rõ nét qua các chỉ tiêu
về khả năng thanh tốn của doanh nghiệp phản ánh khả năng tài chính của
doanh nghiệp trong việc đáp ứng các khoản nợ. Để đánh giá chính xác tình hình
tài chính của doanh nghiệp ở lĩnh vực này, người ta sử dụng các chỉ tiêu sau:
Hệ số thanh
tốn ngắn hạn
=
Tài sản lưu động

Nợ ngắn hạn

Hệ số thanh
tốn nhanh
=
(Vốn bằng Tiền + Các khoản phải thu)

Nợ ngắn hạn

THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
13
Hệ số thanh
tốn tức thời
=
Vốn bằng tiền

Nợ đến hạn

Hệ số
thanh tốn
cuối cùng
=
Tài sản có
lưu động
-
Tài sản thiếu
chờ xử lý
-
Chênh lệch tỷ giá và
chỉ số giá chưa xử lý
Nợ ngắn hạn

Các hệ số trên ≥ 1 là bình thường và càng cao càng tốt. Nếu hệ số < 1 là
khả năng thanh tốn yếu và càng nhỏ càng xấu. Riêng hệ số khả năng thanh tốn
tức thời > 0,5 là tốt. Nếu hệ số khả năng thanh tốn thì xác định tình hình cơng
nợ cũng đòi hỏi đối với cán bộ tín dụng. Cán bộ tín dụng phải xem xét và đánh
giá tình hình quan hệ tín dụng tình hình quan hệ tín dụng. Cán bộ tín dụng phải
xem xét và đánh giá tình hình quan hệ tín dụng tình hình thanh tốn với người
mua và người bán, tình hình thực hiện nghĩa vụ đối với ngân hàng nhà nước.
Nhóm chỉ tiêu về khả năng sinh lợi gồm có:
Hệ số sinh lời
doanh thu
=
Lợi nhuận ròng sau thuế

Doanh thu thuần

Hệ số sinh lời
của tài sản
=
Lợi nhuận trước thuế

Tổng tài sản

Hệ số sinh lời
vốn chủ sở hữu
=
Lợi nhuận dòng sau thuế

Vốn chủ sở hữu
Nhóm chỉ tiêu này càng cao càng hiệu quả.
Từ kết quả đánh giá tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của Doanh
nghiệp, cán bộ tín dụng sẽ đưa sẽ đưa ra được bản kết luận trong đó nêu rõ các
ưu nhược điểm của Doanh nghiệp tập trung trên các mặt: Khả năng tài chính,
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét