xoá đói giảm nghèo đối với phát triển kinh tế - xã hội của Thành phố Hà Nội. Chhính
vì vậy em đã chọn nghiên cứu đề tài Một số giải pháp tài chính Nhà nớc nhằm thực
hiện xoá đói giảm nghèo trên địa bàn Thành phố Hà Nội.
Kết cấu của đề tài gồm 3 chơng nh sau:
Chơng 1: Những vấn đề chung về xoá đói giảm nghèo trong nền kinh tế thị
trờng và vai trò của tài chính Nhà nớc trong việc thực hiện xoá đói giảm nghèo.
Chơng 2: Thực trạng cơ chế, chính sách tài chính Nhà nớc trong việc thực
hiện xoá đói giảm nghèo của Thành phố Hà Nội.
Chơng 3: Một số giải pháp tài chính Nhà nớc nhằm xoá đói giảm nghèo
trên địa bàn Thành phố Hà Nội.
Luận văn tốt nghiệp đợc hoàn thiện do sự chỉ bảo tận tình của thầy giáo Phạm
Văn Khoan cùng sự nhiệt tình giúp đỡ của các cô, các chú trong Sở Tài chính - Vật
giá Hà Nội.
Do năng lực bản thân còn nhiều hạn chế, nên luận văn này không tránh khơi
những thiếu sót, rất mong nhận đợc sự dạy bảo của các thầy cô giáo và ý kiến đóng
góp của các bạn.
Em xin chân thành cảm ơn !
5
Chơng 1
Những vấn đề chung về xoá đói giảm nghèo trong
nền kinh tế thị trờng và vai trò của tài chính Nhà nớc
trong việc thực hiện xoá đói giảm nghèo
1.1. Kinh tế thị trờng và đói nghèo trong nền kinh tế thị tr-
ờng
1.1.1. Khái niệm kinh tế thị trờng.
Kinh tế thị trờng là hình thức thể hiện trình độ phát triển cao của nền kinh tế
hàng hoá. Các quan hệ hàng hoá - tiền tệ mở rộng và bao quát mọi lĩnh vực của đời
sống kinh tế, phạm trù giá trị mang ý nghĩa phổ biến.
Ngày nay, tuy còn nhiều ý kiến khác nhau, nhng những nhà kinh tế đã thống
nhất với nhau rằng kinh tế thị trờng là nền kinh tế vận động theo cơ chế thị trờng.
Đến lợt nó, cơ chế thị trờng là một cơ chế trong đó tổng thể các nhân tố, các quan hệ
cơ bản tự do vận động dới hình thức chi phối của qui luật thị trờng, trong môi trờng
cạnh tranh nhằm mục tiêu lợi nhuận. Nhân tố cốt lõi của cơ chế này là (bộ máy) cung
cầu và gía cả thị trờng.
Thị trờng là một quá trình mà ngời mua và ngời bán tác động qua lại lẫn
nhau, để xây dựng giá cả và số lợng. Hay, thị trờng là nơi gặp gỡ giữa cung và cầu
và ngời ta phân chia thị trờng thành 2 loai: Thị trờng các yếu tố sản xuất nh: lao động,
đất đai, vốn. Vì đây là nhân tố đầu vào của quá trình sản xuất nên gọi là thị trờng
đầu vào. Bên cạnh thị trờng đầu vào là thị trờng mua bán những kết quả do quá trình
sản xuất tạo ra. Đây là thị trờng hàng hoá tiêu dùng và dịch vụ hay gọi là Thị trờng
đầu ra.
6
Hai thị trờng này, tách rời nhau, nhng chúng lại nối liền nhau thông qua hộ
kinh doanh và hộ gia đình. Hộ doanh nghiệp là hộ sản xuất hàng hoá để bán ra trên
thị trờng đầu ra. Vì vậy trên thị trờng này hộ sản xuất là sức cung để có các yếu tố để
sản xuất hàng hoá đầu ra, hộ doanh nghiệp mua chúng trên thị trờng yếu tố sản xuất.
Vì vậy trên thị trờng này hộ doanh nghiệp là sức cầu.
Ngợc lại hộ gia đình là ngời mua hàng hoá tiêu dùngvà dịch vụ. Vì vậy trên thị
trờng này hộ tiêu dùng là sức cầu. Nhng để có tiền để mua hàng hóa dịch vụ, hộ tiêu
dùng phải bán hoặc lao động (nếu anh ta là ngời công nhân), đất đai (nếu là chủ đất),
vốn (nếu là chủ sở hữu vốn). Vì vậy thị trờng yếu tố sản xuất, hộ gia đình là biểu hiện
sức cung.
Hiện nay, Việt Nam đã và đang phát triển nền kinh tế thị trờng theo định hớng
xã hội chủ nghĩa với mục tiêu dân giàu, nớc mạnh, xã hội công bằng văn minh, nên
chính sách xã hội có vị trí hết sức quan trọng. Hơn nữa do trình độ kinh tế còn kém
phát triển và không đồng đều, hậu quả chiến tranh nặng nề và dai dẳng nên nhiều
vùng, nhiều gia đình còn khó khăn, trong khi một số vùng và dân c giàu lên nhanh
chóng. Vì vậy phải quan tâm đến việc thiết lập công bằng xã hội trong từng bớc phát
triển, khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với xoá đói giảm nghèo. Thực hiện
chính sách xã hội trong nền kinh tế thị trờng không phải là bao cấp, ban ơn hoặc cào
bằng, bình quân, mà trớc hết phải thực hiện chính sách hợp lý, lấy phân phối theo lao
động và hiệu quả kinh tế làm nguyên tắc chủ yếu, đi đôi với việc phân phối t liệu sản
xuất, tạo công ăn việc làm, chăm lo y tế, giáo dục, chăm sóc giúp đỡ ngời gặp hoàn
cảnh khó khăn, bài trừ triệt đề và có kết quả tệ tham nhũng, buôn lâu, kinh doanh trái
pháp luật .
1 1.2 Khái niệm nghèo đói
1.1.1.2. khái niệm về nghèo.
7
Nghèo là tình trạng của một bộ phận dân c thiếu ăn nhng không đứt bữa; mặc
thì không lành và không đủ ấm; ở nhà rách nát và không có đủ khả năng sản xuất.
Một cách hiểu khác: Nghèo là tình trạng của một bộ phận dân c có mức sống
dới ngỡng quy định của sự nghèo. Nhng ngỡng quy định còn tuỳ thuộc vào đặc điểm
của từng địa phơng, từng thời kỳ tức là tuỳ thuộc vào từng giai đoạn phát triển kinh tế
- xã hội của từng địa phơng và của cả quốc gia.
Tuỳ nhiên nghèo còn đợc phân chia thành các mức khác nhau. Cụ thể là nghèo
tuyệt đối và nghèo tơng đối.
- Nghèo tuyệt đối:
Nghèo tuyệt đối là tình trạng của một bộ phận dân c thuộc diện nghèo không
dủ khả năng thoả mãn nhu cầu tối thiểu của cuộc sống: ăn, mặc, ở.
- Nghèo tơng đối:
Nghèo tơng đối là tình trạng của một bộ phận dân c thuộc diện nghèo có mức
sống dới mức trung bình của cộng đồng và từng địa phơng đang sinh sống.
1.1.2.2. khái niệm về đói.
Đói là tình trạng của một bộ phận dân c có mức sống cực thấp, dới mức tối
thiểu của nhu cầu: cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc, thậm chí không có nhà ở,
không hàm lợng Calo cung cấp cho hàng ngày (khoảng 1500 - 2000 Calo/ngời/ngày).
Ngoài ra còn mức đói dới mức bình thờng tức là đói gay gắt, đó là tình trạng
của một bộ phận dân c có mức sống dới mức tối thiểu của nhu cầu, không đủ ăn đủ
mặc, chịu đứt bữa và hàm lợng Calo cung cấp cho một ngời trong một ngày là rất thấp
(dới mức 1500 Calo).
1.1 3. Các tiêu thức đánh giá về đói nghèo.
8
1.1.3.1. Nghèo đói theo đánh giá của Bộ Lao động Thơng
binh - Xã hội và Tổng cục thống kê.
Bộ Lao động Thơng binh - Xã hội và Tổng cục thống kê căn c vào nhu cầu tối
thiểu về lơng thực, thực phẩm và quy đổi ra thu nhập đã đa ra cách phân loại giàu
nghèo nh sau:
- Hộ đói: 45.000 đồng / ngời / tháng.
- Hộ nghèo:
+ Vùng miền núi, hải đảo: là hộ có mức thu nhập bình quân dới 55.000
đồng/ngời/tháng.
+ Vùng nông thôn đông bằng: là hộ có thu nhập bình quân dới 70.000
đồng/ngời/tháng.
+ Vùng thành thị: là hộ có thu nhập bình quân dới 90.000 đồng/ng-
ời/tháng.
1.1.3.2. Tiêu thức đánh giá nghèo đói của Thành phố Hà Nội.
Căn cứ vào chuẩn mực hộ đói nghèo đã đợc thống nhất áp dụng trong phạm vi
toàn quốc do Bộ Lao động Thơng binh - Xã hội. Nhng Thành phố Hà Nội đã xác định
chuẩn mực hộ đói nghèo dựa vào mức thu nhập đầu ngời trên tháng, cụ thể có nh sau:
- Chuẩn nghèo của Thành phố Hà Nội trong giai đoạn 1994-2000 nh sau:
+ Hộ nghèo khu vực Nội thành: là hộ có thu nhập bình quân dới:
100.000 đồng/ngời/tháng.
+ Hộ nghèo khu vực Ngoại thành: là hộ có thu nhập bình quân d-
ới: 80.000 đồng/ngơi/tháng.
- Chuẩn nghèo của Thành phố Hà Nội giai đoạn 2001-2005 nhu sau:
9
+ Hộ nghèo khu vực Thành thị (xã,phờng,thị trấn) là hộ có thu
nhập bình quân dới: 170.000 đồng/ngời/tháng.
+ Hộ nghèo khu vực nông thôn (xã) là hộ có thu nhập bình quân
dới: 130.000 đồng/ngời/tháng.
Bảng số 1: Phân loại hộ đói nghèo theo tiêu chuẩn
của Sở Lao động Thơng binh- Xã hội Hà Nội.
Nhóm Nội thành Ngoại thành
Nhóm 1
Nhóm 2
Nhóm 3
Dới 100.000 đồng/ngời/tháng
Dới 130.000 đồng/ngơi/tháng
Dới 170.000 đồng/ngời/tháng
Dới 80.000 đồng/ngời/tháng
Dới 80.000-100.000đ/ngời/tháng
Dới 100.000-130.000đ/ngời/tháng
(Nguồn Sở Lao động Thơng binh-Xã hội Hà Nội)
1.2. Sự cần thiết của công tác xoá đói giảm nghèo ở Việt
Nam trong giai đoạn hiện này.
1.2.1. Sự cần thiết của công tác xoá đói giảm nghèovà quan
điểm của Đảng và Nhà nớc về vấn đề xoá đói giai nghèo.
1.2.1.1. Sự cần thiết phải xoá đói giai nghèo đối với Việt Nam.
Đói nghèo là vấn đề mang tính toàn cầu chứ không chỉ riêng Việt Nam. Bất kỳ
quốc gia nào trên thế giới dù giàu hay nghèo, dù phát triển hay không phát triển thì
cũng luôn luôn tồn tại một số bộ phận dân c nghèo đói, do đó họ luôn cố gắng giải
quyết vấn đề nghèo đói để phát triển kinh tế. Đối với Liên Hiệp Quốc thì một trong
những mục tiêu quan trọng nhất trong lĩnh vực phát triển kinh tế - xã hội này là vấn
đề xoá đói giảm nghèo và Liên Hiệp Quốc đã lấy năm 1996 là năm nghèo đói để làm
mốc thực hiện chơng trình xoá đói giảm nghèo trên phạm vi toàn cầu.
10
Còn đối với Việt Nam, ngay từ khi thành lập nớc (1945) Việt Nam đã coi
nghèo đói là một trong ba thứ giặc (giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm), đòi hỏi phải
tìm mọi cách để hạn chế và tiêu diệt chúng. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ Thắng
nghèo nàn lạc hậu còn khó khăn hơn thắng giặc ngoại xâm
Nh trên đã đề cập, xoá đói giảm nghèo là một bộ phận trong chiến lợc phát
triển kinh tế - xã hội. Nó có tác động đến nhiều mặt của đời sống kinh tế - xã hội nh
tăng trởng kinh tế, giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội, giữ vững an ninh trật tự, ổn
định chính trị và có tác động tích cực đến một số chính sách khác. Mặt khác, xoá đói
giảm nghèo là để thực hiện công bằng xã hội mà là mục tiêu lớn nhất của Đảng và
Nhà nớc Việt Nam là: Dân giàu, nớc mạnh, xã hội công bằng văn minh. Vì vậy xoá
đói giảm nghèo là cực kỳ cần thiết với Việt Nam, muốn đi lên chủ nghĩa xã hội thì b-
ớc đầu phải xoá đói giảm nghèo.
Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng cũng đã xác định
Xoá đói giảm nghèo là một trong 11 chơng trình phát triển kinh tế của Việt Nam.
Văn kiện của Đại hội Đảng chỉ rõ: Khuyến khích làm giàu một cách hợp lý đi đôi
với tích cực xoá đói giảm nghèo để thu hẹp dần khoảng cách phát triển về trình độ, về
mức sống giữa các vùng, các dân tộc, các tầng lớp dân c và Thực hiện công tác
xoá đói giảm nghèo phải có cơ chế chính sách cho hộ nghèo, xã nghèo, vùng nghèo
Để thực hiện mục tiêu cao cả đó, Nhà nớc đã ban hành một hệ thống các văn
bản chính sách tập trung hỗ trợ những ngời đang bị đoí nghèo vơn lên bằng sức lực và
trí tuệ của chính mình để thoát khởi cảnh nghèo khổ, hoà nhập vào với cộng đồng.
Mỗi vấn đề xã hội bao giờ cũng chứa đựng trong đó nội dung kinh tế, nguồn gốc và
nguyên nhân kinh tế. Nếu tách rời kinh tế và xã hội thì cả vấn đề kinh tế lẫn xã hội
đều kkhông thể giải quyết đợc hoặc không thể triệt đề vững chắc. Mặt khác trong nền
kinh tế thị trờng, phân hoá giàu nghèo không chỉ là phân hoá về thu nhập, tài sản và
11
mức sống còn kém theo phân hoá xã hội nh học vấn, lỗi sống, quan hệ xã hội, tệ nạn
xã hội.
Đảng và Nhà nớc Việt Nam chủ trờng lấy việc phát triển con ngời là nhân tố cơ
bản cho sự phát triển bền vững về kinh tế - xã hội, đặt con ngời vào vị trí trung tâm,
khơi dậy mọi tiềm năng cá nhân và cả cộng đồng dân tộc kết hợp giữa phát triển kinh
tế với phát triển văn hoá xã hội, coi phát triển kinh tế là cơ sở, là tiền đề thc hiện
chính sách xã hội, thực hiện tốt chính sách xã hội vừa là động lực vừa tạo đợc sự ổn
định về chính trị xã hội, là cơ sở cho việc tăng trởng kinh tế bền vững. Ngoài ra Đại
hội còn nhấn mạnh Tăng trởng kinh tế phải gắn liên với tiến bộ và công bằng xã hội
ngay trong từng bớc và trong suốt quá trình phát triển kinh tế.
Vì vậy xóa đói giảm nghèo tuy nổi trội trớc hết ở trong lĩnh vực kinh tế, ở lĩnh
vực chỉ đạo việc làm, tăng thu nhập, ổn định đời sống xã hội, song còn liên quan tới
tất cả các giải pháp xã hội nhằm điều chỉnh khắp phúc sự bất bình đẳng xã hội, sự suy
giảm ở các lĩnh vực: Giáo dục, văn hoá, ngăn chặn xu hớng bần cùng hoá ngời nghèo,
tạo sự ổn định xã hội. Nếu chỉ thấy kinh tế và các giải pháp kinh tế nh cứu cánh mà
xem nhẹ hoặc bỏ quên vấn đề xã hội, các chính sách xã hội thì việc xoá đói giảm
nghèo sẽ rơi vào tình trạng phiến diện hoặc rơi vào chủ quan duy ý chí, giải quyết các
vấn đề xã hội thoát lý hiện thực kinh tế.
Từ những đặc điểm trên có thể kết luận rằng xoá đói giảm nghèo là mục tiêu
quan trọng chiến lợc phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam trớc mắt và lâu dài.
Ngoại việc áp dụng chính sách kinh tế cần phải chú trọng đến chính sách xã hội đặc
biệt là chính sách về giáo dục, y tế, việc làm đối với ngời nghèo. Việc thực hiện xoá
đói giảm nghèo phải lồng ghép các chơng trình quốc gia và các chơng trình dự án có
nội dung gắn với xoá đói giảm nghèo trong đó lấy chơng trình quốc gia về giải quyết
việc làm, chơng 327 và đầu t cơ sở hạ tầng, vay vốn tín dụng là nòng cốt cho việc
12
xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội nói chung, ở các cấp, các ngành cần
phải đóng góp một phần tích cực và phong trào giúp đỡ, hỗ trợ ngời nghèo.
1.2.1.2. Quan điểm của Đảng và Nhà nớc Việt Nam về xoá đói
giảm nghèo.
Nghị quyết TW 5 (khoá VIII) của Đảng chỉ rõ: Tăng diện giàu và có đủ ăn,
xoá đói, giảm nghèo, nhất là ở các vùng cao, vùng đồng bao dân tộc thiểu số,vùng
sâu, vùng xa, vùng trớc đây là căn cứ cách mạng; Đó chính là chủ trơng, quan điểm
của Đảng và Nhà nớc Việt Nam về xoá đói giảm nghèo. Thực hiện quan điểm, chủ tr-
ơng đó của Đảng và Nhà nớc, phong trào, xoá đói giảm nghèo đã và đang trở thành
cuộc vận động lớn, giảm dần đáng kể số hộ nghèo đói, giúp các hộ giảm bớt đợc khó
khăn và tự vơn lên.
Xoá đói giảm nghèo là nhiệm vụ của mọi thành viên trong xã hội: Nhà nớc, các
ngành, các cấp, các đoàn thể xã hội và tất cả mọi ngời dân cùng làm theo phơng châm
Ngời nghèo, xã nghèo tự vơn lên là chính, bên cạnh đó có sự hỗ trợ một phần của
Nhà nớc, một phần đóng góp của dân, của các doanh nghiệp, các tổ chức đoàn thể
Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VIII cũng đã đề ra mục tiêu Giảm tỷ lệ hội
đói nghèo trong số hộ cả nớc từ 250.000 đến 300.000 hộ tức là giảm trung bình 2%
mỗi năm.
Để thực hiện thắng lợi mục tiêu này, Bộ chính trị yêu cầu các Tỉnh uỷ, Thành
uỷ, các ban, ban cán sự Đảng, Đảng uỷ trực thuộc TW chỉ đạo tốt 2 nội dung:
- Chỉ đạo giải quyết một vấn đề về chính sách có liên quan đến chơng trình xoá
đói giảm nghèo.
- Tăng cờng sự lãnh đạo của Đảng và triển khai thực hiện của Nhà nớc.
13
Thực hiện xoá đói giảm nghèo để thực hiện mục tiêu dân giàu, nớc mạnh, xã
hội công bằng văn minh.
Nh vậy, thực hiện xoá đói giảm nghèo với mục tiêu xoá bỏ hộ đói, giảm hộ
nghèo và dẫn tới xoá bỏ hẳn hộ nghèo, xây dựng xã hội công bằng, văn minh. Để
thực hiện mục đó, Đảng và Nhà nớc đã phối hợp với các ngành đa ra các giải pháp,
biện pháp cụ thể để thực hiện, từ đó thúc đẩy nền kinh tế phát triển với tiến tới giảm
bớt hộ nghèo đói. Qua thực tế thực hiện cho thấy xoá đói giảm nghèo là chủ trơng
đúng đắn của Đảng và Nhà nớc hợp với lòng dân nên đã nhanh chống đợc các ngành,
các cấp, mọi tầng lớp nhân dân, các tổ chức đoàn thể nhiệt tình hởng ứng và đợc triển
khai tổ chức thực hiện rộng khắp trên cả nớc.
1.2.1.3. Sự cần thiết phải xoá đói giảm nghèo đối với Thành
phố Hà Nội.
Hà Nội là trung tâm đầu não về chính trị,văn hoá khoa học kỹ thuật đồng thời
là trung tâm lớn về giao dịch quốc tế của cả nớc, tỷ lệ tăng trởng kinh tế - xã hội là
9,14 % (năm 2000 so với năm 1999). Nhng đời sống của một bộ phận dân c còn phải
chịu cảnh đói nghèo, số hộ đói nghèo của toàn Thành phố là 8719 hộ trong đó có
33.315 nhân khẩu.
Mặc dù mấy năm qua Đảng bộ, Thành uỷ, Uỷ ban nhân dân và các chính
quyền các cấp đã cố gắng chỉ đạo tập trung nguồn lực cho mục tiêu xoá đói giảm
nghèo nhng mức chuyển biến còn chậm.
Trớc tình trạng đói nghèo của Thành phố hiện nay, có thể nói đó là một thử
thách rất lớn đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội của Thành phố. Để đạt đợc
tốc độ tăng trởng kinh tế cao xứng đáng với trung tâm đầu não chính trị, kinh tế xã
hội, rút ngắn khoảng cách về kinh tế với Thành phố của các nớc trong khu vực nói
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét