Thứ Bảy, 8 tháng 2, 2014

Một số biện pháp nhằm hoàn thiện công tác tổ chức quản lý tiền lương ở công ty 20 - Tổng cục Hậu cần - Bộ quốc phòng

Luận văn tốt nghiệp
a. Chức năng của tiền lương
- Bảo đảm đủ chi phí để tái sản xuất sức lao động
- Bảo đảm vai trò kích thích lao động của tiền lương
- Bảo đảm vai trò điều phối lao động của tiền lương
b. Vai trò của tiền lương
- Về kinh tế: Tiền lương đóng vai trò quyết định trong việc ổn định và
phát triển kinh tế gia đình, góp phần làm giàu đất nước.
- Về chính trị xã hội: Tiền lương không chỉ ảnh hưởng đến tâm tư, tình
cảm, đến tinh thần của người lao động mà còn ảnh hưởng đến tổ chức, xã hội.
Với mức lương thỏa mãn đúng với sự đóng góp của người lao động sẽ ảnh
hưởng tích cực đến mọi mặt. Ngược lại nếu tiền lương không phù hợp, người
lao động sẽ không thiết tha với công việc và với doanh nghiệp làm cho năng
suất lao động giảm, tinh thần chán nản, giảm động lực lao động gây nhiều
bệnh nghề nghiệp, tai nạn lao động.
- Xét ở tầm vĩ mô: tiền lương phản ánh về mặt phân phối của quan hệ
sản xuất hàng hóa, do vậy ở mỗi chế độ xã hội khác nhau có sự phân phối
khác nhau. Quy luật chung nhất để thúc đẩy mọi nền sản xuất phát triển là
quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản
xuất, chính chế độ tiền lương góp phần làm phù hợp quy luật này và tạo động
lực kích thích sản xuất.
1.4. Các nhân tố ảnh hưởng tới tiền lương
a. Yếu tố thuộc môi trường bên ngoài
- Thị trường lao động
- Sự khác biệt về tiền lương theo vùng địa lý mà tổ chức doanh nghiệp
đang cư trú.
- Các mong đợi của xã hội, văn hóa, phong tục, tập quán.
- Các tổ chức công đoàn.
- Luật pháp và các quy định của Chính phủ.
- Tình trạng của nền kinh tế.
5
Luận văn tốt nghiệp
b. Yếu tố thuộc về tổ chức
- Ngành, lĩnh vực sản xuất
- Tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
- Quy mô, cơ cấu, trang thiết bị của doanh nghiệp.
c. Yếu tố thuộc về công việc
- Điều kiện lao động.
- Đòi hỏi về trách nhiệm của công việc.
- Mức độ phức tạp, yêu cầu trình độ, khả năng… của công việc.
d. Yếu tố thuộc về cá nhân người lao động
- Trình độ, thâm niên, kinh nghiệm của người lao động
- Mức độ hoàn thành công việc.
- Sự cố gắng, cống hiến, tiềm năng của người lao động.
2. Quan điểm về tổ chức quản lý tiền lương
Quy định ở nước ta hiện nay với vấn đề tổ chức, quản lý tiền lương là
Nhà nước không trực tiếp quản lý tổng quỹ lương của doanh nghiệp. Các
doanh nghiệp có quyền tự xây dựng quỹ lương nhưng phải do cấp trên quy
định đơn giá lương và xét duyệt quy chế tiền lương ở doanh nghiệp. Thêm
vào đó, doanh nghiệp có quyền tự lựa chọn các hình thức trả lương và hình
thức tiền lương trong doanh nghiệp trên cơ sở quán triệt nguyên tắc phân phối
theo lao động, kích thích không ngừng tăng năng suất lao động. Mức thu nhập
của mỗi người trong doanh nghiệp phụ thuộc vào kết quả giữa sản xuất kinh
doanh của toàn doanh nghiệp và phụ thuộc vào năng suất, chất lượng hiệu
quả công tác của từng người. Giờ đây, Nhà nước không can thiệp vào công
việc kỹ lưỡng của doanh nghiệp, không quản lý kế hoạch hóa tiền lương như
trước đây mà chỉ thực hiện việc giám sát công việc sử dụng quỹ lương. Nhà
nước cũng không cho phép các doanh nghiệp trả lương cho người lao động
thấp hơn mức tối thiểu, nhưng cũng có chính sách điều tiết với những người
có thu nhập cao như chính sách thuế thu thập. Điều quan trọng là doanh
nghiệp cần quan tâm đến các quy định về lương nhằm tăng tổng quỹ lương,
6
Luận văn tốt nghiệp
vừa phân phối tiền lương hợp lý cho mỗi cá nhân đảm bảo mối quan hệ hợp lý
giữa nhịp độ tăng tiền lương với nhịp độ tăng năng suất lao động.
Từ cuối năm 1990 đến nay, quỹ lương của doanh nghiệp được xác định
căn cứ vào đơn giá tiền lương như sau:
- Doanh nghiệp tự xây dựng đơn giá tiền lương trình cấp trên duyệt.
- Nếu là sản phẩm do Nhà nước quy định giá thì đơn giá tiền lương
được tính bằng lượng tiền tuyệt đối trên một đơn vị sản phẩm hoặc tỷ lệ tiền
lương trên tổng doanh thu.
- Quỹ tiền lương của doanh nghiệp phải đăng ký với ngân hàng.
Ngoài khoản tiền lương cơ bản, tiền thưởng cũng được sử dụng nhiều
hình thức khác nhau. Cụ thể là tiền thưởng do tiết kiệm nguyên vật liệu, tăng
năng suất lao động… việc áp dụng có hiệu quả các hình thức tiền thưởng sẽ
khuyến khích người công nhân nâng cao năng suất lao động và thúc đẩy quá
trình sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả kinh tế cao.Tiền lương, tiền thưởng là
một đòn bẩy kinh tế, đồng thời cũng là một bộ phận hữu cơ của hệ thống quản
lý kinh tế, nó là một phần giá trị mới sáng tạo ra cũng chính là nguồn thu nhập
chủ yếu của người lao động.
3. Nguyên tắc cơ bản của tiền lương ở doanh nghiệp
3.1. Tiền lương ngang nhau cho những lao động ngang nhau
Nguyên tắc này chỉ rõ những người có tay nghề và năng suất lao động
như nhau thì phải được trả lương như nhau, không có sự phân biệt về tuổi tác,
giới tính, sắc tộc, màu da việc đưa ra nguyên tắc này nhằm đảm bảo sự công
bằng trong việc trả lương cho người lao động; hơn nữa, cũng góp phần xóa đi sự
lạm dụng những tiêu thức bất hợp lý để hạ thấp tiền lương của người lao động.
3.2. Đảm bảo tăng năng suất lao động nhanh hơn tiền lương bình quân
Một doanh nghiệp nếu tiền lương bình quân tăng nhanh hơn năng suất
lao động thì doanh nghiệp sẽ không có lãi vì chi phí tiền lương cao trong khi
doanh thu do tăng năng suất lao động. Vì thế, đảm bảo năng suất tăng nhanh
hơn tiền lương bình quân là nguyên tắc cơ bản trong tổ chức quản lý tiền
7
Luận văn tốt nghiệp
lương. Chính nguyên tắc này mới tạo cơ sở cho việc giảm giá thành sản
phẩm, hạ giá bán và tăng tích lũy.
3.3. Đảm bảo mối quan hệ hợp lý về tiền lương giữa những người lao động
làm nghề khác nhau trong các đơn vị khác nhau.
Trình độ lành nghề bình quân của người lao động, điều kiện lao động
và ý nghĩa kinh tế của mỗi ngành trong nền kinh tế quốc dân là khác nhau.
Điều này có ảnh hưởng tới tiền lương bình quân của người lao động. Với
những nghề có tính chất phức tạp về kỹ thuật hoặc làm việc trong điều kiện
độc hại, nặng nhọc, hoặc có mũi nhọn trong nền kinh tế thì mức lương trả
cho những người này phải cao hơn so với các ngành khác. Tuy vậy, việc trả
lương cao như thế nào để tránh sự chênh lệch giá mức góp phần vào làm giảm
sự phân hóa giàu nghèo trong xã hội là điều đáng quan tâm chú ý của những
người lãnh đạo và các nhà quản lý. Có vấn đề đặt ra là nếu tiền lương trả đúng
sức lao động sẽ khuyến khích người lao động làm việc; tuy vậy, nếu tiền
lương trả cao hơn sức lao động sẽ làm giảm năng suất lao động. Vậy để giải
quyết vấn đề trên thì khi trả lương cho người lao động cần thực hiện đúng các
nguyên tắc của tiền lương.
4. Những yêu cầu của tổ chức quản lý tiền lương
- Đảm bảo tái sản xuất sức lao động và không ngừng nâng cao đời sống
vật chất và tinh thần cho người lao động.
- Đảm bảo cách tính lương đơn giản, rõ ràng, dễ hiểu, bảo đảm tính
công bằng, kinh tế.
- Đảm bảo năng suất lao động không ngừng tăng lên.
Có đảm bảo các yêu cầu của tổ chức quản lý tiền lương như trên mới
giúp doanh nghiệp tồn tại và ngày càng phát triển. Còn đối với người lao động
thì có đủ chi phí để trang trải cho cuộc sống. Đối với toàn xã hội là nguồn góp
phần tạo ra sự công bằng, và đảm bảo cho sự ổn định và phồn thịnh của xã
hội.
8
Luận văn tốt nghiệp
5. Vai trò ý nghĩa của việc tổ chức quản lý hợp lý tiền lương trong doanh
nghiệp:
Tiền lương hay tiền công là một phạm trù kinh tế vì nó phản ánh mối
quan hệ về kinh tế trong công tác trả lương, trả công cho người lao động. Tiền
công phụ thuộc vào sản xuất và nó do những quan hệ về sản xuất mà trước hết
là quan hệ về tư liệu sản xuất quyết định. Tiền lương là vấn đề quan trọng
trong các quan hệ kinh tế, nó có quan hệ chặt chẽ và ảnh hưởng trực tiếp tới
quá trình tái sản xuất xã hội, đặc biệt là tái sản xuất sức lao động. Đối với
người lao động thì tiền lương là phần cơ bản nhất trong thu nhập của người
lao động, giúp cho họ và gia đình trang trải các chỉ tiêu, sinh hoạt dịch vụ cần
thiết. Ngoài ra, tiền công, tiền lương chiếm được ảnh hưởng đến địa vị của
người lao động trong gia đình, địa vị của họ trong tương quan với các bạn
đồng nghiệp cũng như giá trị tương đối của họ đối với tổ chức và đối với xã
hội. Chính khả năng kiếm được tiền công cao hơn sẽ tạo động lực thúc đẩy
người lao động ra sức học tập để nâng cao giá trị của họ đối với tổ chức thông
qua sự nâng cao trình độ và sự đóng góp cho tổ chức. Đối với doanh nghiệp,
tiền công là một phần quan trọng của chi phí sản xuất. Các nhà quản lý, người
sử dụng lao động dùng tiền lương để khuyến khích người lao động tăng năng
suất và làm ra những sản phẩm có chất lượng cao; đây cũng là công cụ để duy
trì, giữ gìn và thu hút những lao động giỏi có khả năng phù hợp với công việc
của tổ chức. Tiền lương trả đúng sức lao động sẽ kích thích sản xuất.
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, sức lao động đã trở thành hàng
hóa và có sự tách rời giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng tư liệu sản xuất,
người lao động có quyền tự do làm chủ sức lao động của mình. Sức lao động
là một yếu tố quyết định trong các yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất nên
tiền công là vốn đầu tư ứng trước quan trọng nhất, là giá cả của sức lao động
và là một phạm trù của sản xuất cho nên yêu cầu phải tính đúng, tính đủ trước
khi thực hiện quá trình lao động sản xuất sức lao động còn là một yếu tố của
quá trình sản xuất, cần phải phù đắp sau khi đã hao phí nên tiền công phải
9
Luận văn tốt nghiệp
được thông qua quá trình phân phối. Phân phối ở đây chính là phân phối thu
nhập quốc dân dựa trên hao phí lao động, hiệu quả lao động của người lao
động, do đó tiền công là một phạm trù của phân phối, sức lao động cần được
tái sản xuất thông qua việc tiêu dùng các tư liệu sinh hoạt, thông qua các quỹ
tiêu dùng cá nhân. Do đó tiền công là một phạm trù của tiêu dùng.
Vậy tiền lương hay tiền công là một phạm trù kinh tế tổng hợp bao gồm
các chức năng sau:
- Tiền công là công cụ để thực hiện chức năng phân phối thu nhập quốc
dân, chức năng thanh toán giữa người sử dụng sức lao động và người lao
động.
- Tiền lương nhằm tái sản xuất sức lao động thông qua việc sử dụng tiền
lương trao đổi lấy các vật sinh hoạt cần thiết cho cuộc sống của người lao động.
- Kích thích con người tham gia lao động bởi lẽ tiền lương là một bộ
phận quan trọng về thu nhập, chi phối và quyết định mức sống của người lao
động, và đó là một công cụ quan trọng trong quản lý. Người ta sử dụng nó để
thúc đẩy người lao động trong công việc hăng hái lao động và sáng tạo, đây
được coi như là một công cụ tạo động lực trong lao động. Như đã xét ở trên
vai trò của tiền lương là rất quan trọng đối với người lao động, đối với doanh
nghiệp và đối với toàn xã hội .
Tóm lại, công tác tổ chức quản lý tiền lương là một công tác quan trọng
có ý nghĩa sống còn với nhiều doanh nghiệp. Việc đòi hỏi một cơ cấu tổ chức
quản lý tiền lương hợp lý là vấn đề đối với các doanh nghiệp, tổ chức hoạt
động không vì mục tiêu lợi nhuận hay là cả với các doanh nghiệp, tổ chức
hoạt động không vì mục đích lợi nhuận. Vì trong doanh nghiệp, tiền lương
phải đảm bảo sự công bằng và khuyến khích người lao động yêu nghề, tăng
khả năng làm việc…
6. Các hình thức tiền lương
Có hai hình thức trả lương thường được áp dụng là trả lương theo thời
gian và trả lương theo sản phẩm.
10
Luận văn tốt nghiệp
6.1. Trả lương theo thời gian
- Khái niệm: Trả lương theo thời gian là số tiền lương trả cho người lao
động căn cứ vào thời gian lao động và tiền lương trong một đơn vị thời gian.
Tiền lương theo thời gian phụ thuộc vào hai nhân tố ràng buộc là mức
tiền lương trong một đơn vị thời gian và thời gian làm việc.
- Các hình thức của tiền lương theo thời gian: 2 loại
+ Trả lương theo thời gian giản đơn là chế độ trả lương cấp bậc cao,
thấp và thời gian làm việc nhiều hay ít quyết định loại này gồm lương giờ,
lương tháng, lương ngày.
+ Trả lương theo thời gian có thưởng là một sự kết hợp giữa chế độ trả
lương theo thời gian giản đơn với tiền thưởng chỉ đạt được những chỉ tiêu về
số lượng, chất lượng đã quy định.
Tiền lương trả theo thời gian thường được áp dụng cho các công việc
sản xuất nhưng khó định mức cụ thể, hoặc các công việc đòi hỏi chất lượng
cao, các công việc mà năng suất, chất lượng phụ thuộc chủ yếu vào máy móc,
thiết bị hay các hoạt động tạm thời, sản xuất thử.
Ưu điểm : của hệ thống này là dễ hiểu, dễ quản lý, tạo điều kiện cho
người quản lý và công nhân có thể tính toán tiền công một cách dễ dàng. Các
mức thời gian được sử dụng cũng như các ghi chép về số lượng sản phẩm sản
xuất thực tế của các cá nhân chỉ là để nhằm mục đích kiểm tra, chứ không
dùng để tính toán trực tiếp lượng tiền công.
Nhược điểm: chủ yếu của hình thức này là tiền công mà công nhân
được không liên quan trực tiếp đến sự đóng góp lao động của họ trong một
chu kỳ thời gian cụ thể. Vì thế, sự khuyến khích thực hiện công việc dựa trên
những đòi hỏi tối thiểu của công việc cần phải được thực hiện bởi những biện
pháp tạo động lực khác ngoài các khuyến khích tài chính trực tiếp. Các chỉ
tiêu như năng suất lao động, chi phí nguyên vật liệu… không ảnh hưởng gì
đến số lượng tiền lương của công nhân; do đó, nó không có tác dụng kích
thích sản xuất phát triển. Vì thế, hình thức trả lương này ít được áp dụng.
11
Luận văn tốt nghiệp
6.2. Trả lương theo sản phẩm
- Khái niệm: Tiền lương theo sản phẩm là hình thức tiền lương mà số
lượng của nó nhiều hay ít phụ thuộc vào số lượng sản phẩm sản xuất ra hoặc
số lượng công việc đã hoàn thành.
Trong hình thức này, tiền công của người lao động sẽ phụ thuộc trực
tiếp vào số lượng đơn vị sản phẩm được sản xuất ra và đơn giá trả công cho
một đơn vị sản phẩm.
Công thức: TC = ĐG x Q
tt
Trong đó: TC : tiền công
ĐG: đơn giá
Q
tt
: số lượng sản phẩm thực tế.
- Hình thức trả lương theo sản phẩm: 6 loại
+ Chế độ trả công theo sản phẩm trực tiếp công nhân sản xuất chính mà
công việc của họ mang tính chất độc lập tương đối, có thể định mức và kiểm
tra, nghiệm thu sản phẩm một cách cụ thể và riêng biệt.
+ Chế độ trả công theo sản phẩm tập thể: chế độ trả công này thường
được áp dụng với những công việc cần một nhóm công nhân, đòi hỏi sự phối
hợp giữa các công nhân và năng suất lao động chủ yếu phụ thuộc vào sự đóng
góp của cả nhóm như lắp ráp các thiết bị, sản xuất ở các bộ phận làm việc
theo dây chuyền trông nom máy liên hợp.
+ Chế độ trả công theo sản phẩm gián tiếp: chế độ này chỉ áp dụng cho
những công nhân phụ mà công việc của họ có ảnh hưởng nhiều đến kết quả
lao động của công nhân chính hưởng tiền công theo sản phẩm như công nhân
sửa chữa, phục vụ máy sợi, máy dệt trong nhà máy dệt…
+ Chế độ trả công theo sản phẩm có thưởng: theo chế độ này, về thực
chất là các chế độ trả công sản phẩm kể trên kết hợp các hình thức tiền
thưởng.
+ Chế độ trả công khoán: áp dụng cho những công việc nếu giao từng
chi tiết, bộ phận sẽ không có lợi mà phải giao toàn bộ khối lượng cho công
12
Luận văn tốt nghiệp
nhân hoàn thành trong một thời gian nhất định. Chế độ áp dụng chủ yếu trong
xây dựng cơ bản và một số công việc… trong nông nghiệp. Trong công
nghiệp, thường dùng cho các công việc sửa chữa, lắp ráp các sản phẩm, máy
móc, thiết bị…
Ưu điểm: có tác dụng khuyến khích tài chính đối với nguồn lao động,
thúc đẩy họ nâng cao năng suất lao động vì lượng tiền công mà họ nhận được
phụ thuộc trực tiếp vào lượng sản phẩm của họ việc tính toán tiền lương cũng
đơn giản và có thể giải thích dễ dàng đối với người lao động.
Nhược điểm: việc trả lương theo sản phẩm có thể dẫn đến tình trạng
người lao động ít quan tâm đến đảm bảo chất lượng sản phẩm, tiết kiệm
nguyên vật liệu và sử dụng hợp lý máy móc, thiết bị. Nhiều trường hợp người
lao động không muốn làm những công việc đòi hỏi trình độ lành nghề cao vì
khó vượt mức lao động.
Hình thức trả lương theo sản phẩm chỉ phù hợp với những công việc
mà ở đó dây chuyền sản xuất đảm bảo được liên tục, các công việc có thể
định mức được, có tính lặp đi lặp lại và không đòi hỏi trình độ lành nghề cao,
năng suất lao động phụ thuộc vào sự nỗ lực của người lao động và việc tăng
năng suất lao động không ảnh hưởng lớn tới chất lượng của sản phẩm.
II. TÍNH TẤT YẾU CỦA VIỆC HOÀN THIỆN CÔNG TÁC TỔ CHỨC QUẢN LÝ
TIỀN LƯƠNG
1. Tác dụng của trả lương theo sản phẩm
- Trả lương theo sản phẩm căn cứ trực tiếp vào kết quả lao động của
mỗi công nhân nên nó kích thích người lao động chăm lo nên luyện tay nghề,
cải tiến kỹ thuật, không ngừng nâng cao năng suất lao động, khắc phục việc
thiếu trách nhiệm, làm bừa, làm ẩu.
- Nó góp phần thúc đẩy cán bộ quản lý xí nghiệp cải tiến công tác quản
lý, đề cao trách nhiệm sản xuất và tổ chức lao động. Quản lý đạt năng suất,
chất lượng và có hiệu quả cao. Mặt khác, làm tốt công tác tiền lương nói
13
Luận văn tốt nghiệp
chung và tiền lương theo sản phẩm nói riêng không những ảnh hưởng đến bản
thân người lao động mà còn ảnh hưởng tới tổ chức và tới toàn xã hội.
- Trả lương theo sản phẩm cũng phản ánh khách quan sự khác nhau
giữa người là thành thạo nghề nghiệp cùng một cấp bậc như: khác nhau về kỹ
năng sản xuất, kỹ thuật, cách thức làm việc, sức khỏe… Do đó, khuyến khích
được công nhân quan tâm đến công việc hơn, tìm tòi để đạt hiệu quả cho nhất,
sử dụng triệt để mất mát thiết bị, nguyên vật liệu để đem lại lợi ích cho cá
nhân, tập thể và cho toàn xã hội.
- Nó cũng có tác dụng thúc đẩy việc cải tổ tổ chức lao động, tổ chức
sản xuất và củng cố kỹ thuật lao động, hình thành phong cách lao động công
nghiệp, phát huy tinh thần tập thể của người lao động.
2. Các chế độ trả lương theo sản phẩm
2.1. Chế độ trả lương sản phẩm trực tiếp cá nhân.
- Công thức tính đơn giản tiền lương một đơn vị sản phẩm
ĐG = L/Q hoặc ĐG = L x T
Trong đó: ĐG: đơn giá tiền lương một sản phẩm
L: lương theo cấp bậc công việc
Q: mức sản lượng
T: mức thời gian hao phí (h) đơn vị sản phẩm
- Công thức tính tiền lương sản phẩm thực tế
TL
tt
= ĐG x Qtt
Trong đó: TL
tt
: tiền lương sản phẩm thực tế
Qtt: số sản phẩm thực tế đã hoàn thành.
- Ưu điểm: Mối quan hệ giữa tiền công mà công nhân nhận được với
kết quả lao động thể hiện rõ ràng, do đó kích thích công nhân cố gắng nâng
cao năng suất lao động nhằm nâng cao thu nhập việc tính toán tiền lương đơn
giản, dễ dàng.
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét