Thứ Ba, 11 tháng 2, 2014

Giải pháp nhằm thúc đẩy XK hàng nông sản tại C.ty XNK Tổng hợp 1

c. Tạo hình sản phẩm:
Trong công nghệ sản xuất gốm sứ, tạo hình là khâu rất quan trọng. Nó không
những ảnh hởng đến chất lợng sản phẩm mà còn quyết định tới các thông số hình
học của sản phẩm. Tỷ lệ phế phẩm ở khâu tạo thành khá cao, do đó phải đặc biết
chú trọng. Phơng pháp đổ rót và phơng pháp dẻo là hai phơng pháp tạo hình chủ
yếu trong sản xuất gốm sứ dân dụng và mỹ nghệ.
Phơng pháp đổ rót dùng để tạo hình những sản phẩm có hình dáng phức tạp
hay có độ dày mỏng khác nhau mà các phơng pháp khác không đáp ứng đợc. Có
loại sản phẩm do hình dáng phức tạp, khuôn phải chia ra thành nhiều mảng để
tháo khuôn dễ dàng. Có loại sản phẩm phải tạo hình các chi tiết riêng biệt rồi gắn
chắp lại thành sản phẩm hoàn chỉnh nh các loại ấm trà, các loại tợng phức tạp.
Phơng pháp tạo hình dẻo chính là phơng pháp vuốt tay trên bàn xoay( bình,
lọ hoa ) hoặc gắn ráp trong khuôn thạch cao( chum, vại ) hay ép dẻo trên máy
nén cơ khí hoặc thuỷ lực( gạch, ngói ).
d. Sấy
Nhằm đảm bảo sản phẩm có cờng độ cao, tránh đợc nứt vỡ khi tráng men,
vẽ trang trí và khi nung, ngời ta tiến hành sấy sản phẩm. Phơng pháp sấy tự nhiên
là phơng pháp phơi nắng, chi phí thấp và không đòi hỏi kỹ thuật cao nhng lại phụ
thuộc vào thời tiết và tốn diện tích. Phơng pháp sấy trong phòng, buồng đốt ở phía
ngoài cho năng suất cao nhng tiêu tốn nhiều năng lợng và chi phí.
Kinh nghiệm thực tế cho thấy chi phí cho quá trình sấy chiếm tỷ lệ khá cao
trong giá thành sản phẩm. Đối với sản phẩm có kích thớc lớn, hình dạng phức tạp,
khâu sấy có vai trò rất quan trọng, nếu xảy ra sai sót ở khâu này có thể dẫn đến h
hỏng toàn bộ sản phẩm ở khâu nung.
e. Vẽ trang trí:
Sau khi sản phẩm đợc tạo hình và sấy khô thì chuyển sang công đoạn vẽ
trang trí. Khâu này đòi hỏi sự khéo léo, tỉ mỉ trong thao tác và sự chính xác trong
pha màu.
f. Tráng men:
5
Việc tráng men nhằm đảm bảo về mặt thẩm mĩ, vệ sinh và tăng độ bền cho
sản phẩm.
Các phơng pháp chủ yếu bao gồm: nhúng men, dội men, phun men, quét
men.
g. Nung
Các loại nhiên liệu nung gốm có : ánh sáng tự nhiên, củi, than đá, than
cám, nhiên liệu lỏng( dầu hoả ) nhiên liệu khí( khí thiên nhiên: mêtan, khí nhân
tạo, khí gaz hoá lỏng )
Lò nung chủ yếu thờng dùng là nung tuy nen. Sản phẩm đợc xếp trên xe
goòng bằng bao nung hoặc tấm nung có các trụ đỡ và đợc đẩy vào lò bằng máy
đẩy thuỷ lực.
h. Đóng gói:
Việc lựa chọn bao bì đóng gói sản phẩm là khâu quan trọng. Xuất phát từ
tính chất hàng hoá, chúng ta cần lựa chọn bao bì vận chuyển thích hợp nhằm
phòng chống va đập và bao bì bán lẻ ấn tợng hấp dẫn ngời tiêu dùng.
Đối với hàng hoá xuất khẩu thì bao bì không chỉ có tác dụng bảo vệ mà còn
có tác dụng quảng cáo cho sản phẩm. Nhất là trong điều kiện cạnh tranh gay gắt
nh hiện nay, hàng hoá không chỉ cạnh tranh về chất lợng mà còn cả hình thức bao
gói bên ngoài. Thực tế cho thấy ngời tiêu dùng khi lựa chọn hàng hoá thì trớc tiên
đều lựa chọn hàng hoá có bao bi đẹp, hấp dẫn ngay cả khi chất lợng không đợc
tốt cho lắm.
Trong thời kỳ trớc, chúng ta hầu nh không chú trọng đến vấn đề bao bì bán
lẻ cho hàng sành sứ thuỷ tinh. Nguyên nhân là do nhà sản xuất thiếu ý thức cạnh
tranh về bao bì và không muốn tốn nhiều chi phí cho bao bì. Nhiều bạn hàng quốc
tế rất a chuộng đồ sứ Việt Nam nhng khi nhìn thấy những đồ sứ cao cấp đợc bao
gói trong những hộp bìa các tông thô sơ thì không muốn đặt hàng nữa.
Hiện nay, bao bì cho hàng sành sứ thuỷ tinh đã có những cải tiến rõ rệt.
Nhũng mặt hàng sứ cao cấp nh ấm, chén, bát, đĩa đợc đóng gói trong hộp có
xốp cứng đệm lót, bên ngoài gia cố bằng nilông trong suốt để tiện cho khách hàng
6
vừa có thể nhìn thấy hàng hoá bên trong, vừa đợc hấp dẫn bởi hình thức bên
ngoài.
Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là làm sao để hàng hoá có chất lợng tốt, bao bì đẹp
mà không đẩy giá thành lên cao. Chúng ta nên thiết kế bao bì nhỏ gọn, ít tốn diện
tích để tiết kiệm chi phí bao bì đồng thời phù hợp với việc xếp dỡ vận chuyển.
II. Lịch sử phát triển hàng sành sứ thuỷ tinh
Sản xuất gốm sứ là một trong những ngành cổ truyền đợc phát triển rất
sớm. Những di vật bằng gốm sứ đợc phát hiện qua khảo cổ cho thấy rằng Ai Cập
cách đây 4000 năm đã làm gốm sứ. ở Trung Quốc cách đây hàng ngàn năm cũng
đã sản xuất gốm sứ, gốm sứ đời Khang Hy rất nổi tiếng là trắng trong, màu sắc
đẹp.
ở Việt Nam, thời thợng cổ ông cha ta cũng đã sản xuất đợc đồ gốm. Các di
vật lịch sử bằng gốm của nền văn hoá thời Hùng Vơng đợc phát hiện ở nhiều địa
điểm khảo cổ trên cả nớc. Điều đó chứng minh thời kỳ này tổ tiên ta đã có nền
văn minh khá rực rỡ. Đặc biệt các sản phẩm gốm thời Lý Trần với các hoạ tiết
trang trí kiểu hoa văn và nhiều màu sắc, mang tính dân tộc rất độc đáo, men ngọc
và men Lý đẹp và quý, đợc nhiều ngời a thích. Thời kỳ này hàng gốm Việt Nam
đợc xuất sang Nhật Bản và các nớc Đông Nam á.
Các cơ sở gốm sứ lâu đời và rất nổi tiếng ở nớc ta là Hơng Canh, Bát Tràng,
Móng Cái, Lái Thiêu, Biên Hoà là các cơ sở sản xuất gạch ngói, sành sứ dân
dụng và mỹ nghệ.
Hiện nay, ở trong nớc đã có nhiều nhà máy, xí nghiệp sản xuất gốm sứ có
dây chuyền sản xuất tơng đối hoàn chỉnh, hiện đại nh công ty sứ Hải Dơng, công
ty sứ kỹ thuật Hoàng Liên Sơn, công ty sứ Thanh Trì, công ty sứ Minh Long
III/ Vai trò của xuất khẩu các mặt hàng sành sứ thuỷ
tinh đối với nền kinh tế Việt Nam.
1.Vai trò:
7
Đã từ lâu, sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam nói chung và hàng
sành sứ thuỷ tinh nói riêng đã đợc thị trờng quốc tế biết đến. So với các ngành
xuất khẩu chủ lực hiện nay là xuất khẩu da giày, dầu thô, thuỷ sản, may mặc
thì xuất khẩu thủ công mỹ nghệ có bề dày lịch sử tơng đối lớn.
Đã có thời kỳ, xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ chiếm 40%-50% tổng
kim ngạch xuất khẩu của cả nớc( trớc 1985). Sau này, mặt hàng không đợc quan
tâm chú ý đúng mức nên tụt hậu nhanh chóng về kim ngạch xuất khẩu. Một phần
nguyên nhân xuất phát từ việc mất đi thị trờng rộng lớn khi Liên Xô( cũ) và các n-
ớc xã hội chủ nghĩa Đông Âu sụp đổ.
Nói đến tác dụng của xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ nói chung và sành
sứ thuỷ tinh nói riêng, chúng ta không chỉ thấy nguồn ngoại tệ lớn nhờ xuất khẩu
mang lại mà còn thấy đợc tác dụng cân bằng cán cân thơng mại( hàng thủ công
mỹ nghệ đã có lúc là phơng tiện để trả nợ). Không ai có thể phủ nhận vai trò của
xuất khẩu sành sứ thuỷ tinh từ trớc tới nay. Trong tơng lai, sành sứ thuỷ tinh sẽ
tìm hớng đi mới, trong môi trờng mới nhng luôn giữ vai trò quan trọng trong nền
kinh tế quốc dân.
Hiện Bộ thơng mại đã đề ra kế hoạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ
nghệ( trong đó bao gồm cả hàng sành sứ thuỷ tinh) đạt kim ngạch từ 900 triệu
đến 1 tỷ USD vào năm 2005. Điều đó càng khẳng định vai trò của sành sứ thuỷ
tinh Việt Nam ngày một lớn mạnh, vị thế không kém phần quan trọng so với bất
cứ ngành hàng xuất khẩu nào.
2. Lợi thế so sánh của sản xuất hàng sành sứ thuỷ tinh
Thế mạnh của sản xuất hàng sành sứ thuỷ tinh Việt Nam là dễ dàng hạ giá
thành bởi nguồn nguyên liệu sẵn có, chi phí lao động rẻ, giá trị trực thu ngoại tệ
cao(95% - 97%), chi phí đầu t thấp. Do đó, tiềm năng và lợi ích từ sản xuất hàng
thủ công mỹ nghệ Việt Nam nói chung và hàng sành sứ thuỷ tinh nói riêng là rất
lớn.
Thế mạnh của sản xuất hàng sành sứ thuỷ tinh ngày một phát huy trong bối
cảnh quốc tế hoá, toàn cầu hoá. Dòng vốn đổ về các nớc có nguồn nguyên liệu rẻ,
8
giá lao động thấp và lợng nhân công dồi dào. Vì vậy, chúng ta hoàn toàn có thể
khẳng định sản xuất hàng sành sứ thuỷ tinh có nhiều lợi thế.
Chơng II:
Thực trạng xuất khẩu các mặt hàng sành sứ thuỷ tinh
của Việt Nam giai đoạn 1990 - 2002 tại công ty xuất nhập
khẩu sành sứ thuỷ tinh Việt Nam - chi nhánh Hà Nội.
1. Giới thiệu về VINACEGLASS
Tên đầy đủ : Tổng công ty sành sứ thuỷ tinh Việt Nam
Tên giao dịch tiếng Anh: The VietNam Ceramic & Glass Corp.
Tên viết tắt : VINACEGLASS
Trụ sở chính : 20-24 Nguyễn Công Trứ, Quận 1, TP Hồ Chí Minh
Năm thành lập : 1975 và thành lập lại năm 1990
9
Công ty xuất nhập khẩu sành sứ thuỷ tinh
Trung tâm đào tạo và chuyển giao công
nghệ
Công ty xuất nhập khẩu sành sứ thuỷ tinh Việt Nam ( VINACEGLASS
IMP EXP COMPANY) là doanh nghiệp nhà nớc trực thuộc tổng công ty sành
sứ thuỷ tinh Việt Nam.
Chi nhánh Hà Nội: 18C Phạm Đình Hồ Hai bà Trng Hà Nội
Chi nhánh Hng Yên:
Chi nhánh Chí Linh: Đại Bồ, Hoàng Tân, Chí Linh, Hải Dơng
Chi nhánh Đồng An: Đờng số 2, Khu công nghiệp Đồng An
Chức năng, nhiệm vụ của chi nhánh Hà Nội: đại diện Tổng công ty thực
hiện các hoạt động:
Xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ bao gồm: đồ gốm, đồ sứ, chậu hoa cây
cảnh, cốc chén thuỷ tinh, đồ s trang trí nội ngoại thất
Nhập khẩu nguyên vật liệu, máy móc thiết bị phục vụ sản xuất gốm sứ thuỷ
tinh, gạch lát, sứ vệ sinh
Ngoài ra, công ty hiện đang là đại lý, nhà phân phối các loại nguyên vật
liệu cho các công ty nớc ngoài nh Johnson Mathey Ceramic Anh, Zshimmer &
10
Tổng công ty
VINACEGLASS
Công ty đèn điện quang
Công ty bóng đèn phích nớc Rạng Đông
Công ty thuỷ tinh Phả Lại
Công ty thuỷ tinh Hng Phú
Công ty sứ Hải Dơng
Công ty mỏ cao lanh Chí Linh
Schwars - Đức, Commercial Mineral Limited australia, Lafrarge Prestia
Co.,Ltd, Mineral resource development co. Ltd,
Tóm lại, các sản phẩm kinh doanh chủ yếu của công ty gồm có: gốm sứ
dân dụng và mỹ nghệ gốm các sản phẩm gốm sứ sử dụng trong gia đình( ấm,
chén, bát, đĩa ), gốm sứ trang trí( chậu hoa, lọ hoa, gốm trang trí ). Đây là
những sản phẩm xuất khẩu chủ yếu của công ty. Gốm sứ xây dựng gồm các sản
phẩm gạch gói dùng trong xây dựng, gach ceramic lát nền, ốp tờng, gạch granit,
ngói tráng men, sứ vệ sinh chủ yếu cung cấp cho thị trờng nội địa. Các loại
nguyên vật liệu phục vụ sản xuất gốm sứ xây dựng cũng là mặt hàng kinh doanh
chủ yếu cuả công ty.
Trong phạm vị nghiên cứu của đề tài này, em xin đi sâu phân tích về thực
trạng xuất khẩu để thấy đợc đóng góp của xuất khẩu đối với toàn bộ hoạt động
sản xuất kinh doanh của công ty, đồng thời nhận thức đợc vai trò ngày một lớn
mạnh của mặt hàng này đối với toàn ngành cũng nh đối với nền kinh tế quốc dân.
2. Thực trạng
1. Tỷ trọng và cơ cấu kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng sành sứ thuỷ tinh 6
tháng đầu năm 2002.
STT Mặt hàng M sốã Số lợng ( cái/ bộ) Giá trị( USD)
1 Đồ gốm VN 812/ 004 7133 4648,20
2 - VN 813/ 004 10818 12833,86
3 - VN 814/004 4960 12878,20
4 - VN 827/ 004 4716 9813,6
5 - VN 828/004 14146 14244,18
6 Chậu cảnh ( có men ) VN 637/012 6024 12778,02
7 - VN 219/012 11112 11587,62
8 - VN 792/ 002 6396 12402,44
9 - VN 790/ 002 736 4294,10
10 - VN 222/ 012 11638 13089,92
11 - VN 801/ 012 1827 9441,59
12 Chậu hoa VN 509/ 012 1324 11842,5
13 - VN 423/ 018 1387 12125,68
14 - VN 785/ 005 4640 14215,68
15 - VN 787/ 005 4278 14697,78
11
16 - VN 514/ 012 43888 27716,80
17 Đồ trang trí để bàn VN 614/001 4252 14438,20
18 - VN 613/ 001 5128 14129,20
19 - VN 609/ 020 8403 13002,63
20 - VN 608/ 020 7204 11956,67
21 - VN 607/ 020 5679 14684,34
22 Cốc chén thuỷ tinh VNG 114/ 028 5554 11602,66
23 - VNG 115/ 028 5088 14922,84
24 - VNG 116/ 028 4308 11136,40
25 - VNG 117/ 028 6058 11898,16
26 Hàng TCMN khác VN 773/ 002 7141 11288,92
27 - VN 775/ 002 2822 763,58
28 - VN 805/ 002 1819 6241,05
29 - VN 743/ 025 1420 7909,5
30 - VN 794/ 002 13640 25000,0
31 - VN 771/ 002 1445 5886,29
32 - VN 770/ 002 1510 10748,05
2. Cơ cấu thị trờng xuất khẩu các mặt hàng sành sứ thuỷ tinh trong vòng 10
năm trở lại đây

Nớc
Năm 1999 Năm 2000 Năm 2001
G.trị
(USD)
Tỷ
trọng
(%)
G.trị
(USD)
Tỷ
trọng
(%)
G.trị
(USD)
Tỷ
trọng
(%)
Pháp 1.297.413 68 539.321 35,9 172.958 20,9
Hồng Kông 66.008 3,6 205.877 13,7 114.695 13,9
Nhật Bản 42.908 2,4 283.124 18,8 114.139 13,8
Đức 115.292 6 96.930 6,5 120.523 14,6
Nớc khác 381.453 20 377.124 25,1 305.026 36,9
I. Đánh giá chung về tình hình xuất khẩu sành sứ
thuỷ tinh
1. Những thành tựu đạt đợc
12
Nhìn chung, tình hình xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ nói chung và hàng
sành sứ thuỷ tinh nói riêng và hàng sành sứ thuỷ tinh nói riêng đã đạt đợc những
thành tựu đáng khích lệ. Những thành tựu này đạt đợc trong một bối cảnh có rất
nhiều khó khăn: Giá cả nhiều mặt hàng xuất khẩu giảm nghiêm trọng, đối thủ
cạnh tranh lớn nhất là Trung Quốc đã gia nhập WTO
Theo thống kê từ Bộ thơng mại, kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ
nghệ năm 2001 đạt 235 triệu USD, tăng gấp 3 lần so với năm 2002, mặc dù tình
hình xuất khẩu chung suy giảm nhng xuất khẩu thủ công mỹ nghệ vẫn đạt mức
tăng trởng cao. 7 tháng qua, kim ngạch xuất khẩu đạt 191 triệu USD.
Nhờ tận dụng làng nghề truyền thống, công nhân lành nghề, giá nhân công
rẻ mạt, một số nguyên liệu trong nớc chất lợng ổn định, giá thành hợp lý có thể
dùng thay thế nguyên liệu nhập khẩu, sành sứ thuỷ tinh Việt Nam đã từng bớc
xây dựng đợc lòng tin với khách hàng trong và ngoài nớc về chất lợng. Hơn nữa,
chúng ta đã không ngừng mở rộng thị trờng: bên cạnh các khách hàng thờng
xuyên( Hà Lan, Bỉ ) công ty còn chú trọng xây dựng quan hệ với khách hàng
mới( tập đoàn ATR- Thuỵ Điển).
2. Những tồn tại và nguyên nhân
Mặc dù hàng sành sứ thuỷ tinh Việt Nam đã thâm nhập thị trờng thế giới
nhng số lợng còn khiêm tốn, mẫu mã cha phong phú, đa dạng, giá cả cao hơn so
với các nớc trong khu vực, đặc biệt là Trung Quốc.
Trớc năm 1985, xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ nớc ta chiếm 40% -
50% tổng kim ngạch xuất khẩu. Hiện nay, mặc dù về mặt giá trị đã tăng nhiều nh-
ng tỷ trọng hàng thủ công mỹ nghệ trong tổng kim ngạch xuất khẩu chỉ đạt cha
đầy 1%. Nguyên nhân dẫn đến sự giảm sút nghiêm trọng về tỷ trọng trên xuất
phát từ nhiều phía:
a.Về vốn:
Đối với mỗi một doanh nghiệp thì vấn đề vốn luôn luôn là vấn đề bức xúc.
Tình trạng chung thờng thấy là thiếu vốn cho nhập khẩu nguyên liệu đầu vào. Các
nguyên liệu đầu vào chủ yếu nh cao lanh, men màu đòi hỏi chất lợng tốt thì hầu
13
hết phải nhập khẩu từ bên ngoài. Hiện nay chúng ta đang tận dụng nguồn nguyên
liệu trong nớc thay thế, để tìm cách hạ giá thành mà chất lợng không đổi, từ đó
giảm dần sự phụ thuộc vào bên ngoài.
Một nguyên nhân khác khiến vấn đề thiếu vốn càng trở nên trầm trọng là
yêu cầu nhập khẩu máy móc thiết bị và chi đầu t nghiên cứu khoa học. Để giao
hàng với số lợng lớn thì không thể dựa trên làng nghề. Trình độ sản xuất thủ công,
năng lực lao động thấp mà không đồng đều về chất lợng. Nhu cầu trang bị dây
chuyền máy móc kỹ thuật tiên tiến là cần thiết nhng đồng thời cũng đặt ra cho
công ty nhiều khó khăn đáng kể.
b.Về cơ chế quản lý xuất khẩu:
Cơ chế quản lý xuất khẩu là vấn đề thời sự có ảnh hởng trực tiếp tới lợi ích
của doanh nghiệp xuất nhập khẩu. Mỗi một thời kỳ, Nhà nớc đều có những điều
chỉnh cụ thể nhằm phù hợp hoá với thực tiễn, đồng thời bảo đảm quyền lợi cho
các doanh nghiệp xuất nhập khẩu.
Trớc kia, chúng ta áp dụng chế độ cơ quan chủ quản trong hoạt động xuất
nhập khẩu. Các doanh nghiệp không đợc tự do xuất khẩu hàng hoá của mình ra
thị trờng nớc ngoài. Hơn nữa, những cản trở từ chính sách, thể chế, thủ tục làm
cho việc xuất khẩu tiến hành chậm chạp và gặp rất nhiều khó khăn.
Việt Nam tiến hành cải cách mở cửa tơng đối muộn so với các nớc trong
khu vực(1986) nên hàng hoá Việt Nam còn ít đợc thị trờng quốc tế biết đến, nhãn
hiệu sản phẩm của Việt Nam cha thực sự gây đợc sự chú ý cho khách hàng quốc
tế.
Để khắc phục tình trạng này, Nhà nớc cần phải tự do hoá xuất khẩu tất cả
những loại hàng hoá không phải là hàng quốc cấm, đơn giản hoá thủ tục xuất
khẩu, cho phép các doanh nghiệp đợc tự do xuất khẩu hàng hoá mà không cần
thông qua cơ quan chủ quản.
Trong thời gian gần đây, chúng ta đã từng bớc thi hành giải pháp tự do hoá
xuất khẩu nhng cha hoàn thiện. Trong những năm tới, giải pháp này vẫn đợc coi
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét