Thứ Bảy, 8 tháng 2, 2014

Cơ chế quản lý ngân sách nhà nước đối với lĩnh vực y tế

này thể hiện rõ trong các trờng hợp cung cấp dịch vụ khám chặn, chữa bệnh cho cá
nhân. Tính chất này của sản phẩm dịch vụ y tế đòi hỏi ngời sử dụng phải trả chi phí
cho việc đã sử dụng dịch vụ y tế nhằm bù đắp chi phí, tái sản xuất, tái cung cấp sản
phẩm dịch vụ y tế. Nhng do sản phẩm dịch vụ y tế là một loại hàng hoá đặc biệt,
đối tợng phục vụ là sức khoẻ con ngời nên nhà nớc phảI tham gia vào việc định h-
ớng thị trờng và kiểm soát giá cả sản phẩm dịch vụ y tế nhằm đảm bảo đợc sự công
bằng về y tế giữa mọi ngời dân.
1.1.2.2. Tính nhân đạo
Ngành y tế sử dụng các phơng tiện khoa học kỹ thuật để can thiệp vào việc
bảo vệ, cứu chữa con ngời. ở các nớc có nền kinh tế phát triển thì sự can thiệp bằng
các phơng tiện kỹ thuât vào con ngời ngày càng nhiều hơn. nếu ngành y tế không
mang tính nhân đạo, không có tinh thần trách nhiệm coa thì dễ gây tử vong cho
con ngời. hồ Chủ Tịch dã nhắc nhở cán bộ ngành y tế nớc ta là lơng y nh từ mẫu
đối với ngời bệnh. Đây không chỉ là trách nhiệm của ngành y tế đối với ngời bệnh
mà còn là truyền thống, nhân cách của nời thầy thuốc Việt nam .
1.1.2.3.Tính công bằng và hiệu quả
Công bằng trong chăm sóc sức khoẻ không có nghĩa là ngang bằng công
bằng có nghĩa là ai cũng có nhu cầu nhiều hớn, còn ngang bằng có nghĩa là mọi
ngời có nhu cầu ít hay nhiều hơn, có nhu cầu chăm sóc sứckhoẻ nhiều hơn nhng
lại ít khả năng chi trả. Nh vậy, nói đến công bằng trong y tế tức là phải có sự u tiên
cho vùng ngheo, ngời nghèo, ngơig có công với cách mạng, cho các đối tợng thiệt
thòi. Quan điểm công bằng trong chăm sóc sức khoẻ nói lên quyền của ngời
nghèo, ngời có công với nớc phải đợơc chăm sóc, không phải là lòng thơng hại,
không phải là sự ban ơn. Công bằn thờng đi đôi với đạo đức trong y tế, đòi hỏi
trách nhiệm cao của cán bộ y tế đối với ngời bệnh, ứng xử với ngời nghèo cũng nh
với ngời giàu.
Thực hiện công bằng trong chăn sóc sức khoẻ, ngời dân đợc tạo điều iện để
tiếp cận, sử dụng các dịch vụ y tế cơ bản ngay tại cơ sở và coi đó là quyền của ngời
5
dân về chắn sóc sức khoẻ. Ngành y tế và các cơ quan chức năng đa nghiên cứu và
xây dựng các chỉ tiêu trong chắm sóc sức khoẻ cần đạt đợc trên các mặt khám chữa
bênh, vệ sinh phòng bệnh, chă sóc sức khoẻ bà mẹ trẻ em và phấn đấu thực hiện
nhằm đảm bảo sự công bằng và hiệu quả trong việc cung cấp các sản phẩm dịch vụ
y tế.
1.2. NSNN với việc đảm bảo y tế
1.2.1 Khái niệm và bản chất của NSNN
Trong hệ thống tài chính thống nhât, NSNN là khâu tài chính tập trung giữ
vị trí chủ đạo. NSNN cũng là khâu tài chính đợc ình thành sớm nhất, nó ra đòi, tồn
tại và phát triển gắn liền với sự ra đời của hệ thống quản lý nhà nớc và sự phát triển
của kinh tế hàng hoad, tiền tệ. Cho đến nay, thuật ngữ Ngân sách nhà nơc đợc sử
dụng rộng rãi trong đời sống kinh tế, xã hội ở mọi quốc gia. Xong, quan niệm về
NSNN thì lại cha đợc thống nhất. Trên thực tế, ngời ta đã đa nhiều nghĩa thuộc các
trờng phái kinh tế khác nhau hoặc tuỳ theo mục đích nghiên cứu khác nhau.
Theo quan điểm của những nhà nghiên cứu kinh tế cổ điển, NSNN là một
văn kiện tài chính, mô tả các khoản thu và chi của chính hủ đợc thiết lập hàng năm.
Các nhà kinh tế học hiện đại cũng đa ra nhiều định nghĩa khác nhau về
NSNN. Các nhà kionh tế Nga cho ràng: NSNN là bảng iệt kê các khoản thu, chi
bằng tiền trong mọi giai đoạn nhất định của nhà nớc.
Luật NSNN đã đợc quốc hội nớc CHXHCN Việt nam khoa X, kỳ họp thứ 10
thông qua ngày 16- 12 - 2002 cũng có ghi: NSNN là toàn bộ các khoản thu chi của
Nhà nớc trong dự toán đã đợc cơ quan nhà nớc có thẩm quyền quyết định và đợc
thực hiện trong môt năm để đảm bảo thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của nhà
nớc ( điều 1)
Trong một chừng mực nào đó các định nghĩa trên đây có những sự khác biệt
nhất định. Tuy nhiên cungs đều thể hiện bản chất của NSNN là:
6
- Xét về phơng diện pháp lý: NSN là một đạo luật dự trù các khoản thu, chi
băng tiền của nhà nớc trong một thời gian nhất định, thờng là một năm. đạo luật
này đợc cơ quan lập pháp của quốc gia đó ban hành.
- Xét về bản chất kinh tế: mọi hoạt động của NSNN đều là hoạt động phân
phối các nguồn tài nguyên quốc gia ( phân phối lần đầu và tái phân phối ). Và vì
vậy, về nội dung kinh tế, NSNN thể hiện các mối quan hệ kinh tế giữa một bên là
nhà nớc với một bên là các tổ chức kinh tế, xã hội và các tầng lớp dân c.
- Về tính chất xã hội: NSNN luôn luôn là một công cụ kinh tế của nhà nớc,
nhằm phục vụ cho việc thực hiện các chắc năng, nhiệm vụ ủa nhà nớc. Nhờ có
NSNN nên nhà nớc có nguồn tài chính để thực hiện những công việc của mình
trong mọi lĩnh vực nhằm đa đất nớc phát triển đúng định hớng đã lựa chọn.
1.2.2. NSNN với sự phát triển y tế
Chi NSNN cho sự nghiệp y tế có vai trò to lớn đối với quá trình phát triển
kinh tế xã hội. Vai trò này đợc bắt nguồn từ vai trò của hoạt động y tế đối với
con ngời yếu tố quyết định tới quá trình phát triển đất nớc. Chất lợng, hiệu quả
của hoạt động y tế ảnh hởng trực tiếp đến sức khoẻ con ngời. Vai trò của NSNN
đối với sự nghiệ y tế thể hiện:
- Chi NSNN cho sự nghiệp y tế là một trong những công cụ quản lý vĩ mô
nền kinh tế của nhà nớc đối với chiến lợc phát triển kinh tế xã hội.
Thông qua việc xác định cơ cấu ty trọng các khoản chi, Nhà nớc tham gia
điều chỉnh hớng dẫn các hoạt động y tế theo đúng chủ trơng, đờng lối của
nhà nớc đề ra.
- Chi NSNN giúp chúng ta có một nền y tế toàn diện với cơ cấu thích hợp giã các
ngành ( y tế dự phòng và khám cha bệnh, y học cổ truyền và y học hiện đại ) y tế
ngoài công lập với mục đích chính chỉ quan tâm đến những dịch vụ mang lại
nhiều lợi ích mà không đặt vấn đề phát triển các chuyên ngành theo yêu cầu.
- Thông qua chi NSNN cho sự nghiệp y tế có thể tiến hành kiểm tra việc sử dụng
các khoản chi đó cho các hoạt động chăm sóc sức khoẻ nhân dân. Từ đó phát huy
7
hiệu quả của đồng vốn ngân sách và tạo điều kiện cho ngành y tế thực hiện các
mục tiêu của mình.
- Lỹnh vực y tế là lĩnh vực có phạm vi hoạt động, quy mô lớn và ảnh hởng trực
tiếp đến sức khoẻ nhân dân. Các khoản chi từ NSNN sẽ giúp cho việc hoạch định
phơng hơnứg phát triển kỹ thuật y tế. Trong khi đó y tế ngoài công lập chạy theo
lợi nhuân nên dẫn tới hai khuynh hớng hoặc là chỉ chú trọng đến kỹ thuật cao với
giá thành đắt mà ngời nghèo không thể tiếp cận đợc hoặc chỉ dừng lại ở kỹ thuật
cũ để thu tiền trớc mắt mà không phát triển những kỹ thuật hiện đại.
- Chi NSNN cho y tế giúp cho việc tập chung nhân lực và tài lực để giải quyết
những vấn đề cấp bách, cần thiết của những hậu quả do thiên tai, thảm hoạ gây ra.
Những vấn đề nói trên chỉ nhà nớc mới có thể đầu t vào lĩnh vực không sinh lợi
này nhng lại có ảnh hởng sau rộng đến chiến lợc và chính sách quốc gia.
- Bản chất của hoạt động y tế là nhân đạo, chi cho y tế từ NSNN giúp cho việc
quản lý và thúc đẩy tính nhân đạo trong ngành y tế, đặc biệt là việc kiểm soát
những vấn đề lên quan đến y đức.
Việt Nam đang trên đờng chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập chung
sang nền kinh tế thị trờng. Việc chuyển sang thực hiện cơ chế thị trờng về hoat
động y tế không đợc làm giảm vai trò của nhà nớc về cung cấp dịch vụy tế cơ bản,
chăm sóc y tế cho nhân dân. Mà trái lại, thông qua cơ chế này nhà nớc có thể động
viên đợc thêm để bổ sung cho unồn NSNN hạn chế dành cho y tế, nawng cao chất
lợng phục vụ của ngnàh y tế. Thực hiện cơ chế thị trờng về y tế không có nghĩa là
nhà nớc thả nổi cho thị trờng quyết định toàn bộ việc cung cấp dịch vụ y tế mà nhà
nớc cần tiếp tục giữ vai trò chủ đạo về y tê, NSNN cần tiếp tục phát huy vai trò là
nguồn lực cơ bản trong cung cấp dịch vụ y tế cơ bản, trợ cấp cho ngời nghèo và
định hớng thị trờng.
1.3. Cơ chế quản lý NSNN với y tế
1.3.1. Sự cần thiết Nhà nớc tham gia vào lĩnh vực y tế
8
Nhà nớc cần phải tham gia vào hoạt động y tế trong nền kinh tế thị trờng là
do những nguyên nhân sau:
Thứ nhất, Nhà nớc cần phải tham gia vào hoạt động y tế xuất phát từ một
đặc điểm quan trọng của sản xuất dịch vụ y tế là mang tính chất hàng hoá công
cộng. Những sản phẩm y tế mang tính chất hàng hoá công cộng khu đợc cung cấp
sẽ phát huy tác dụng đối với toàn xã hội, nó không hạn chế số lợng ngời đợc hởng
thụ và sự tăng thêm ngời hởng thụ cũng không làm thăng thêm chi phí cung cấp
các dịch vụ này. Nói cách khác, việc tham gia của cá nhân đối với các dịch vụ này
không làm ảnh hởng đến lợi ích thu đợc của các cá nhân khác. Thị trờng t nhân có
xu hớng giảm các sản phẩm hàng hoá công cộng. Còn nhà nớc với vai trò quản lý
toàn diện đối với nền kinh tế xã hội cần thiết phải tham gia vào việc cung cấp
những dịch vụ y tế cơ bản nh dịch vụ phòng bệnh, thực hiện trợ cấp khám chữa
bệnh cho ngời nghèo để đảm bảo quyền đợc chăm sóc sức khoẻ đối với mọi ngời
dân.
Thứ hai, Nhà nớc cần tham gia vào thị trờng y tế là đảm bảo tính chất công
bằng và hiệu quả của các sản phẩm dịch vụ y tế. Trong nền kinh tế thị trờng có sự
phân hoá giàu, nghèo dẫn tới sự phân phối không công bằng giữa các tầng lớp thu
nhập trong xã hội. Ngời giàu có khả năng thanh toán cao nên đợc hởng nhiều dịch
vụ y tế hơn, ngợc lại ngời nghèo không đủ khả năng tài chính chi trả nên nhiều khi
không đợc hởng chăm sóc y tế cần thiết. Điều này khiến ngời ta phải quan tâm đến
vấn đề công bằng. Công bằng trong y tế không phải là sự ngang bằng mà là ai có
nhu cầu nhiều hơn thì đợc chăm sóc nhiều hơn. Đây là sự quan tâm đặc biệt của
ngành y tế về mối tơng quan giữa nghèo khổ và bệnh tật (gây nên bởi nghèo nàn,
bữa ăn thiếu then, giáo dục thấp, môi trờng ô nhiễm và tình trạng có những công
việc nguy hiểm). Công bằng là một lý do quan trọng khiến chính phủ phải tài chính
cho y tế và quản lý các hoạt động của ngành y tế.
9
Thị trờng t nhân với mục tiêu là lợi nhuận sẽ không triệu thể đảm bảo đợc
quyền công bằng về chăm sóc sức khoẻ cho mọi ngời dân, không thể cung cấp cho
ngời nghèo những dịch vụ y tế cần thiết. Để thực hiện đợc yêu cầu này thì cần phải
có sự tham gia của Nhà nớc vào thị trờng cung cấp dịch vụ y tế. Bằng nguồn lực tài
chính công Nhà nớc sẽ cung cấp những dịch vụ y tế cần thiết đảm bảo cho tất cả
mọi ngời đều đợc hởng quyền chăm sóc y tế, đặc biệt là ngời nghèo.
Vì vậy để đảm bảo quyền bình đẳng và công bằng y tế cho mọi ngời dân đòi
hỏi phảI có sự tham gia của nhà nớc với vai trò ngời bảo trợ. Nhà nớc sử dụng
NSNN để trợ cấp y tế, cung cấp dịch vụ y tế miễn phí đối với các đối tợng nghèo,
ngời tàn tật, ngời già yếu cô đơn, đảm bảo cho họ đợc tiếp cận tất cả các dịch vụ y
tế cần thiết.
Đối với nớc ta, Hiến pháp năm 1992, điều 39 về y tế đã quy định rõ: Nhà n-
ớc đầu t, phát triển và thống nhất quản lý sự nghiệp bảo vệ sức khoẻ của nhân dân,
huy động và tổ chức mọi lực lợng xã hội xây dung và phát triển nền y học Việt
Nam theo hớng dự phòng; kết hợp phòng bệnh với chữa bệnh; phát triển và kết hợp
y dợc học cổ truyền với y dợc học hiện đại; kết hợp phát triển y tế nhà nớc với y tế
t nhân; thực hiện bảo hiểm y tế tạo điều kiện cho mọi ngời dân đợc chăm sóc sức
khoẻ, và điều 61 về quyền và nghĩa vụ của công dân ghi rõ: Công dân có quyền
đợc hởng chế độ bảo vệ sức khoẻ, Nhà nớc quy định chế độ viện phí, chế độ miễn
giảm viện phí.
Thứ ba, Nhà nớc cần thiết phải tham gia vào lĩnh vực y tế xuất phát từ vai
trò của Nhà nớc trong nền kinh tế thị trờng là khắc phục những thất bại của nền
kinh tế thị trờng trong việc cung cấp các sản phẩm dịch vụ y tế. Nền kinh tế thị tr-
ờng có khả năng thúc đẩy sản xuất hàng hoá phát triển, sử dụng nguồn lực vào chỗ
có hiệu quả nhất và tối đa hoá phúc lợi xã hội nói chung. Tuy nhiên do đối tợng
của y tế là sức khẻo con ngời làm cho các lực của thị trờng không hoạt động tốt đ-
10
ợc. Vấn đề này đợc hiểu là sự thất bại của thị trờng cung cấp dịch vụ y tế thị trờng
xẩy ra một số khuyết điểm sau:
Một điều kiện tiên quyết đảm bảo cho thị trờng cạnh tranh một cách hoàn
hảo là phải có sự tự do tham gia vào thị trờng. Nhng tự do tham gia là điều hiếm
thấy đối với y tế bởi vì nếu nh bất kể ai cũng có thể xng danh là bác sỹ, y tá, dợc sĩ
rồi mở bệnh viện thì sẽ không thể tránh khỏi tình trạng ngời bệnh có thể bị lừa bởi
những ngời cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khoẻ nhng khkông hề đợc đào tạo về
kiến thức và tay nghề. Chính vì vậy mà ở hầu hết các quốc gia đều có hệ thống
đăng ký và cấp bằng hành nghề để bảo vệ quyền lợi cho ngời dân. điều này cũng
có thể có mặt trái của nó, là hình thức độc quyền ở mức độ nhất định. Sự độc
quyền này có thể khiến cho ngời cung ứng ít quant âm đến việc nâng cao chất lợng
phục vụ do ngời tiêu ding chỉ có ít cơ hội lựa chọn, đặc biệt là ở các vùng nông
thôn, có khi chỉ có một nhà cung cấp một loại hình dịch vụ nhất định trong một
khu vực dân c.
Mốt yếu tố quan trọng nữa giúp thị trờng có thể hoàn hảo là ngời tiêu ding
phải có đầy đủ thông tin về sản phảm, không chi giá thành mà còn cả về hiệu quả
và sự thích hợp với họ. Tuy nhiên điều kiện thông tin về chăm sóc sức khoẻ ít khi
đầy đủ. Đặc điểm của thông tin này là không hoàn chỉnh đối với ngời sử dụng, mất
cân đối giữa ngời cung ứng và ngời sử dụng. Ngời bệnh không có đầy đủ thông tin
để so sánh giữa chi phí điều trị và hiệu quả điều trị để lựa chọn phơng thức điều trị
phù hợp và hiệu quả nhất đối với bản thân mình. Ngợc lại, ngời cung cấp dịch vụ y
tế lại nắm rõ các thông tin và phơng thức điều trị ngời bệnh. điều này dẫn tới là ng-
ời cung cấp dịch vụ y ế cso sự mau thẫu giữa việc lựa chọn phơng thức điều trị tốt
nhất cho bệnh nhân với việc tăng số lợng và doanh số của dịch vụ y tế cung cấp để
tăng lợi nhuận cho bản thân ngời cung cấp dịch vụ. Kết quả là do lợi ích của bản
thân ngời cung cấp dịch vụ là tăng thu nhập cho bản thân họ, nên dẫn tới xu hớng
11
điều trị quá mức cần thiết, gây tốn kém cho ngời bệnh và lãng phí nguồn lực của xã
hội.
Những khiếm khuyết trên của trị trờng sẽ dẫn đến két quả là tăng chi phí và
giảm tính hiệu quả trong cung cấp dịch vụ y tế, làm cho nhiều dịch vụ y tế cần
thiết không cung cấp một cách đầy đủ, những khiếm khuyết của thị trờng sẽ làm
cho sự phát triển của y tế không đạt dợc mục tiêu công bằng và hiệu quả. Do đó, sự
tham gia của nhà nớc vào y tế trong nền kinh tế thị trờng là hết sức cần thiết nhằm
đảm bảo tăng trởng kinh tế đi đôi với công bằng xã hội.
Ngoài những lý do nói trên, sự tham gia của Nhà nớc vào việc đảm bảo y tế
cho nhân dân tại Việt Nam còn có ý nghĩa rất quan trọng xuất phát từ bản chất chế
độ XHCN của nớc ta. Nhà nớc tạo lập các hành lang pháp lý cho các thành phần
kinh tế tham gia vào đầu t, cung cấp các dịch vụ khám chữa bệnh để phát triển y tế,
quy định các tiêu chuẩn, chuân mực cung cấp dịch vụ y tế. Bên cạnh đó, Nhà nớc
phảI giữ vai rò chủ đạo về đảm bảo y tế cho toàn dân. Điều này đợc thể hiện ở chỗ
Nhà nớc sử dụng NSNN để cung cấp những dịch vụ y tế cơ bản, có ý nghĩa thiết
yếu và có lợi ích chung đối với toàn xã hội, trợ cấp y tế cho ngời nghèo để đảm
bảo tính công bằng trong việc tiếp cận dịch vụ y tế cho mọi công dân trong xã hội.
Nhà nớc giữa vai trò hoạch định chính sách và chiến lợc phát triển y tế đất nớc,m
thực hiện và hớng dẫn các cơ quan liên quan thực hiện theo đúng định hớng đề ra.
Đồng thời Nhà nớc phải can thiệt vào thị trờng y tế khi cần thiết để khắc phục các
khiếm khuyết của thị trờng, đảm bảo cho thị trờng phát triển ổn định theo định h-
ớng của Nhà nớc.
Hiện đã có ý kiến thống nhất về sự cần thiết phải có một cách tiếp cận có
định hớng tập trung hơn cho các hành động của Nhà nớc trong lĩnh vực y tế. Định
hớng này sẽ tập trung vào hai chức năng y tế chính của Nhà nớc đã đợc ghi nhận rõ
ràng và thống nhất trong các văn bản chính sách chính thức trong nhiều năm: bảo
vệ sức khoẻ cộng đồng và đảm bảo công bằng về y tế.
12
1.3.2. Nội dung cơ chế quản lý NSNN đối với y tế:
Cơ chế quản lý NSNN là hệ thống các nguyên tắc, hình hình và phơng pháp
quản lý điều hành NSNN trong từng giai đoạn phát triển kinh tế. Cơ chế quản lý
ngân sách trong nền kinh tế thị trờng phải xuất phát từ đặc điếm của nền kinh tế thị
trờng và vai trò của Nhà nớc trong nền kinh tế thị trờng. Mặt khác cơ chế quản lý
ngân sách còn phải phù hợp với đặc điểm hoạt động của NSNN trong nền kinh tế
thị trờng.
Trong nền kinh tế kế hoạch tập trung, NSNN đợc coi là nguồn lực cơ bản,
duy nhất của Nhà nớc để thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội theo kế
hoạch của Nhà nớc nên NSNN bị sử dụng trải, manh mún, nhỏ bén, đầu t không
trọng tâm, trọng điểm, yêu cầu chi luôn qua năng lực ngân sách. Trong nền kinh tế
thị trờng, Nhà nớc giữ vai trò quản lý điều hành ở cấp vĩ mô, thông qua các công
cụ tài chính để tác động tới thị trờng. NSNN không còn giữ vai trò là nguồn tài
chính duy nhất để phát triển kinh tế xã hội là nguồn tài chính để Nhà nớc thực
hiện các chức năng, nhiệm vụ của mình đảm bảo cho đất nớc phát triển theo đúng
định hớng đề ra. NSNN đợc u tiên sử dụng để thực hiện những nhiệm vụ riêng có
của Nhà nớc, những công việc mà thị trờng không thể thực hiện nhiệm vụ riêng có
của nhà nớc, những công việc mà thị trờng để thu hút, khuyến khích sự tham gia
của các nguồn vốn khác trong thị trờng bổ sung thêm cho nguồn vốn ngoài ngân
sách, hỗ trợ cho NSNN trong việc thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội
của Nhà nớc. Đây là điểm khác biệt rất cơ bản về cơ chế quản lý NSNN trong nền
kinh tế thị trờng với cơ chế quản lý NSNN trong nền kinh tế thị trờng với cơ chế
quản lý NSNN trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung.
Trong cơ chế quản lý ngân sách, cơ chế cấp ngân sách có vị trí rất quan
trọng, thể hiện mối quan hệ phân cấp, phân quyền, phối hợp hoạt động giữa các
cấp chính quyền trong quản lý điều hành thu chi NSNN. Yêu cầu đối với cơ chế
phân cấp ngân sách trung ơng phảI giữa vai trò chủ đạo tập trung các nguồn thu và
13
nhiệm vụ chi nhất định để đảm bảo thực hiện chức năng quản lý nhà nớc của chính
quyền địa phơng trên địa bàn. Mối quan hệ giữa ngân sách địa phơng phải đợc giải
quyết hài hoà thông qua cơ chế điều tiết và trợ cấp ngân sách giữa trung ơng và địa
phơng. yêu cầu đối với cơ chế này là phải huy đợc tính năng động của ngân sách
địa phơng trong việc tự cân đối và tiến tới đóng góp cho ngân sách trung ơng, hạn
chế đợc tính ỷ lại của địa phơng trong việc nhận trợ cấp từ ngân sách trung ơng.
Ngoài ra, cơ chế quản lý điều hành ngân sách phải thực hiện đợc yêu cầu tiết
kiệm, vì thực hiện tiết kiệm sẽ dành đợc nguồn lực đáng kể của ngân sách cho đầu
t phát triển. Tiết kiệm ở đây phải thực hiện ngay từ khâu lập dự toán ngân sách, xác
định phơng án chi tiêu và trong quá trình sử dụng ngân sách. Để thực hiện tiết
kiệm trong sử dụng ngân sách đòi hỏi Nhà nớc phảI ban hành thống nhất các chế
độ chi tiêu, hệ thống quy định về các định mức, tiêu chuẩn chi ngân sách làm căn
cứ xây dựng, dự toán, phân bổ ngân sách thực hiện công khai ngân sách đối với
mọi cấp ngân sách để nhân dân đợc tham gia giám sát quá trình sử dụng NSNN.
1.3.3.1 Công tác lập dự toán:
Dự toán NSNN hàng năm đợc lập căn cứ vào nhiệm vụ phát triển kinh tế -xã
hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh. Quy trình lập dự toán đợc thực hiện theo các
bớc sau:
Bớc 1: Trớc 31 tháng 5, Thủ tớng Chính phủ ban hành chỉ thị về việc xây
dựng kế hoạch phát triển kinh tế xã hội và dự toán ngân sách năm sau.
Bớc 2: Căn cứ vào chỉ thị của Thủ tớng Chính phủ, trớc ngày 10 tháng 6, Bộ
Tài chính hớng dẫn về yêu cầu, nội dung, thời hạn lập dự toán, NSNN; thông báo
số kiểm tra dự toán về tổng mức và từng lĩnh vực thu, chi ngân sách đối với các
bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan khác ở trung ơng và tổng
số thu, chi, một số lĩnh vực chi quan trọng đối với từng tỉnh, thành phố trực thuộc
trung ơng.
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét