Thứ Bảy, 15 tháng 2, 2014

250179

- “nh hưởng của các hệ tư tưởng và tôn giáo đối với con người Việt Nam
hiện nay”. Công trình nghiên cứu của tập thể : PGS. Nguyễn Tài Thư, PGS – TS.
Nguyễn Văn Huyên.
- Lý luận về tôn giáo và tình hình tôn giáo ở Việt Nam – Đặng Nghiêm Vạn -
Nxb Chính trò quốc gia, 2003.
- Tôn giáo và mấy vấn đề về tôn giáo Nam Bộ – Nxb Khoa học xã hội, 2001.
- Về tôn giáo và tôn giáo ở Việt Nam – Nxb Chính trò quốc gia, 2004.
- Tôn giáo trong mối quan hệ văn hóa và phát triển ở Việt Nam – Nguyễn
Dương Hồng – Nxb Khoa học xã hội, 2004.
- Tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo và công tác tôn giáo – Lê Hữu Nghóa –
Nguyễn Đức Lữ – Nxb Tôn giáo, 2003.
Ngoài ra còn có nhiều bài báo, bài viết và các công trình nghiên cứu khác bàn
về vấn đề tôn giáo và công tác tôn giáo. Trên cơ sở kế thừa những công trình
nghiên cứu, tác giả đã đi sâu nghiên cứu việc triển khai Nghò quyết của Đảng ở
tỉnh Long An để từ đó đề xuất một số phương hướng, giải pháp và kiến nghò nhằm
đẩy mạnh hơn nữa công tác tôn giáo ở cơ sở.
III. Những đóng góp mới của tiểu luận
Khái quát tình hình, thực trạng công tác tôn giáo của Mặt trận Tổ quốc tỉnh
Long An trong việc triển khai Nghò quyết của Đảng.
Đề xuất một số giải pháp góp phần đẩy mạnh công tác tôn giáo nhằm phát huy
sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân trong sự nghiệp xây dựng đất nước văn
minh, giàu đẹp.
IV. Bố cục của tiểu luận
Ngoài phần mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, tiểu luận gồm 3 phần chính:
Phần mở đầu, phần nội dung và kết luận.
Trong phần nội dung gồm: 3 chương, 7 mục và 13 tiểu mục.
Trang 5
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÔN GIÁO VÀ VAI TRÒ CỦA MẶT TRẬN TỔ
QUỐC VIỆT NAM ĐỐI VỚI CÔNG TÁC TÔN GIÁO
1.1.
1.1.
Quan điểm của chủ nghóa Mác – Lênin và Đảng ta về tôn giáo
Quan điểm của chủ nghóa Mác – Lênin và Đảng ta về tôn giáo
1.1.1. Quan điểm của chủ nghóa Mác – Lênin về tôn giáo
Tôn giáo theo học thuyết Mác là thuật ngữ có nhiều sự biến đổi, nó được sản
sinh trong quá trình phát triển của xã hội loài người. Mác xem xét vấn đề tôn giáo
như một hình thái ý thức xã hội, trên quan điểm lòch sử cụ thể và có liên hệ với
các giai đoạn phát triển của xã hội loài người. Các Mác không bao giờ coi tôn giáo
như một hiện tượng xã hội độc lập tách khỏi lòch sử loài người mà ngược lại, sự
hình thành, tồn tại và mất đi của tôn giáo đều bắt nguồn từ nguyên nhân trần thế.
Suy cho cùng, sự biến động của tôn giáo với mọi hình thức của nó được quy đònh
bởi sự tồn tại xã hội. Như vậy, theo Mác, tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội,
một mặt nó phản ánh tồn tại xã hội, mặt khác, nó lại có xu hướng phản kháng lại
xã hội đã sản sinh ra nó. Vì tôn giáo là một thuật ngữ có nhiều sự biến đổi cho nên
khó có thể đưa ra một đònh nghóa chung về tôn giáo nhưng về cơ bản tôn giáo là
niềm tin vào các lực lượng siêu nhiên và được chấp nhận một cách trực giác và tác
động qua lại một cách siêu thực nhằm lý giải những vấn đề trên trần thế cũng như
thế giới bên kia. Niềm tin đó được biểu hiện rất đa dạng tuỳ thuộc vào những thời
kỳ lòch sử và hoàn cảnh đòa lý khác nhau. Cho nên, xét về mặt chất thì theo Mác,
tôn giáo là sản phẩm của lòch sử, tôn giáo là sự tự ý thức và là sự tự cảm giác của
con người. Tôn giáo là tình cảm tự thân của con người khi họ chưa làm chủ được
bản thân, Mác khẳng đònh: Con người sáng tạo ra tôn giáo chứ tôn giáo không sáng
tạo ra con người. Tôn giáo là một thực thể khách quan của loài người. Chính vì vậy
Trang 6
mà vấn đề tôn giáo được đặt ra với chủ nghóa Mác như một yếu tố của triết học xã
hội và của chủ nghóa xã hội khoa học.
Về nọâi dung của tôn giáo, đó là niềm tin tác động mạnh mẽ lên các cá nhân,
lên cả cộng đồng, tôn giáo thường đưa ra các giá trò có tính tuyệt đối làm mục đích
cho con người. Cho nên, nói đến tôn giáo là nói đến mối quan hệ giữa hai thế giới
thực và hư, tức là giữa con người với cái siêu nhiên, cái trần tục với cái thiêng
liêng, cái trần gian với cái siêu trần gian.
Như vậy theo quan điểm của chủ nghóa Mác – Lênin, tôn giáo là một loại hình
thái ý thức xã hội phản ánh một cách hoang đường, hư ảo hiện thực khách quan, và
qua hình thức phản ánh của tôn giáo những hiện tượng tự nhiên trở thành siêu
nhiên. Điều này đã được Mác – Angghen khẳng đònh: “Tất cả mọi tôn giáo chẳng
qua là sự phản ánh hư ảo vào trong đầu óc của con người, của những lực lượng ở
bên ngoài chi phối cuộc sống hàng ngày của họ, chỉ là sự phản ánh qua đó những
lực lượng ở trần thế đã mang hình thức những lực lượng siêu nhiên ở trần thế” [3,
437]. Qua đó, ta thấy chủ nghóa Mác – Lênin đã xem xét vấn đề tôn giáo như là
một hiện tượng xã hội đa chiều.
1.1.2. Quan điểm của Hồ Chí Minh và Đảng ta về tôn giáo và công tác tôn
giáo
Theo Hồ Chí Minh, toàn bộ công tác tôn giáo phải hướng đến mục tiêu cơ bản
và cấp thiết là độc lập, tự do cho dân tộc.
Để công tác tôn giáo tôn giáo phục vụ tốt hơn mục tiêu độc lập, tự do, hạnh
phúc cho đồng bào giải quyết hàng loạt các vấn đề trọng yếu mà trước hết, phải
nhận thức về tôn giáo một cách đúng đắn. Nghiên cứu chủ nghóa Mác – Lênin,
nghiên cứu lòch sử dân tộc Việt Nam và lòch sử văn hoá nhân loại, Hồ Chí Minh
cho rằng, tôn giáo là hiện tượng có tính lòch sử, xã hội và văn hóa, tham gia vào
quá trình sáng tạo văn hoá nhân loại.
Trang 7
Tuy nhiên, trong quá trình tồn tại và phát triển, tôn giáo ngoài việc góp phần
thỏa mãn nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân loại, trong xã hội có áp bức giai
cấp thì tôn giáo còn bò các giai cấp thống trò lợi dụng. Tôn giáo trở thành một công
cụ để bảo vệ lợi ích giai cấp. Vì vậy, vấn đề bức thiết đặt ra là làm sao để đoàn kết
lương – giáo, đoàn kết dân tộc, tăng cường sức mạnh dân tộc, hướng sức mạnh đó
vào mục tiêu chủ yếu của cách mạng, đấu tranh thắng lợi với âm mưu chia rẽ của
kẻ thù.
Vấn đề quyền tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo của nhân dân ta được Đảng và
Nhà nước rất quan tâm và đã trở thành chính sách nhất quán xuyên suốt trong mọi
thời kì do Đảng lãnh đạo. Và trong mọi thời kì Đảng ta điều khẳng đònh: “Đảng lấy
chủ nghóa Mác - Lênin và Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho
hành động” chính vì vậy mà tư tưởng Hồ Chí Minh là cơ sở của Đảng ta trong việc
đề ra các chính sách về tự do tín ngưỡng, tôn giáo.
Theo Hồ Chí Minh thì tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một quyền rất tiêu biểu
của mọi người dân. Do đó, theo Người phải bảo đảm mọi điều kiện cho quyền đó
được thực thi trong thực tế Hồ Chí Minh đã xem xét vấn đề tôn giáo với tinh thần
biện chứng mác xít một cách sáng tạo. Người nhấn mạnh: “ Tôn giáo là duy tâm,
cộng sản là duy vật nhưng trong điều kiện hiện tại, người theo đạo vẫn vào Đảng
được” [15,115].
Người khẳng đònh tự do tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ
phận dân cư vì thế người nói: người dân đi theo cách mạng nhưng vẫn đồng thời
theo các tôn giáo, tín ngưỡng khác nhau được xem là bình thường. Cho nên Người
rất đúng khi nhận thấy sự hòa hợp giữa đạo và đời. Không những thế chính sách tự
do tín ngưỡng, tôn giáo của Người đã góp phần làm nên thắng lợi của cuộc cách
mạng tháng Tám năm 1945. Bên cạnh đó Người còn chú trọng đến việc khẳng đònh
tính pháp lý của quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Người thấy được rằng bọn thực
dân phong kiến đang thực hiện chính sách chia rẽ tôn giáo cho nên Người đã cho
Trang 8
rằng dưới chế độ thực dân phong kiến đồng bào các tôn giáo đều bò áp bức, bóc lột
nặng nề. Khi tổ quốc bò ngoại bang đô hộ thì các tôn giáo cũng không được tự do,
cho nên Người nói rằng đồng bào các tôn giáo cần đoàn kết lại và đoàn kết toàn
dân đấu tranh chống lại kẻ thù để giành lại độc lập cho Tổ quốc và tự do cho tôn
giáo. Ở đây, theo Người không chỉ có đoàn kết đồng bào có tín ngưỡng, tôn giáo
khác nhau mà còn đoàn kết toàn dân, thấy được sức mạnh của sự đoàn kết này góp
phần đem đến thắng lợi cho cách mạng, không chỉ thế Hồ Chí Minh còn chỉ rõ:
Công giáo hay không Công giáo, Phật giáo hay không Phật giáo đều phải nên nỗ
lực đấu tranh cho nền độc lập của nước nhà.
Bên cạnh đó, Người đã quan tâm đến việc giải quyết những vấn đề liên quan
đến tín ngưỡng, tôn giáo và Người cho rằng cần phải bảo vệ và tôn trọng tất cả
những nơi thờ tự của tín ngưỡng, tôn giáo và các ngày lễ lớn của tôn giáo.
Hồ Chí Minh đã thể hiện nhất quán tư tưởng của Người trong việc tôn trọng và
bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và không tín ngưỡng, tôn giáo. Người
cho rằng cần phải tôn trọng đức tính của mỗi người cho nên Người đã nhấn mạnh
rằng: “Tín đồ phật giáo tin ở Phật, tín đồ Gia - tô tin ở Đức chúa trời, cũng như
chúng ta tin ở đạo Khổng. Đó là những vò chí tôn nên chúng ta tin tưởng” [14, 148].
Sau ngày đọc “Tuyên ngôn độc lập” tại phiên họp đầu tiên cuả Hội đồng Chính
phủ, Người đã tuyên bố: “Tín ngưỡng tự do, lương giáo đoàn kết”. Và ngay trong
Hiến pháp đầu tiên của nước ta đã ghi nhận: “Nhân dân có quyền tự do tín
ngưỡng” và các Chính cương sau này cũng đã ghi nhận “Tôn trọng và bảo đảm
quyền tự do tín ngưỡng của mỗi người dân”. Tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tư
tưởng của Người đó là quyền tự do tín ngưỡng, tự do thờ cúng, quyền được theo
hoặc không theo một tôn giáo nào không ai có quyền xâm phạm cả. Đồng thời kiên
quyết đấu tranh trừng trò những kẻ lợi dụng tôn giáo để phá hoại sự nghiệp cách
mạng của nhân dân, tuyên truyền chiến tranh, phá hoại đoàn kết. Ngoài ra Người
rất chú trọng đến tín ngưỡng truyền thống, đó là tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên. Người
Trang 9
cho rằng tín ngưỡng này phù hợp với truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”, “Ăn
quả nhớ kẻ trồng cây”. Như vậy, Người đã khẳng đònh được tính pháp lý của quyền
tự do tín ngưỡng tôn giáo. Đó là một trong những việc làm phù hợp với đặc điểm
của tình hình tín ngưỡng, tôn giáo của nước ta trong thời kì đó.
Như vậy, Hồ Chí Minh đã không đưa ra một đònh nghóa nào về tín ngưỡng, tôn
giáo nhưng Người đã đi sâu giải quyết những vấn đề thuộc quyền tự do tín ngưỡng,
tôn giáo của nhân dân ta và ngay từ đầu Người đã nhìn thấy được con đường phát
triển của tôn giáo và Người cũng vạch ra được những nội dung cốt lõi trong công
tác tôn giáo đó là: Thứ nhất, phải quan tâm chăm lo đến phần đời và phần đạo của
quần chúng tín đồ các tôn giáo. Thứ hai, tôn trọng quyền tự do, tín ngưỡng tôn giáo
nhưng kiên quyết xử lí những phần tử lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo, vi phạm pháp
luật. Thứ ba, quan tâm đối với tín đồ tôn giáo và chân thành đối với chức sắc tôn
giáo động viên họ tham gia vào sự nghiệp cách mạng chung của dân tộc. Thứ tư,
cốt lõi của công tác tôn giáo là công tác vận động quần chúng có tín ngưỡng. Và
theo Người muốn thực hiện tốt công tác tôn giáo phải nghiên cứu sâu sắc tình hình
thực tế và phải biết đoàn kết, thu hút mọi người dù có đạo hay không có đạo để
phấn đấu cho mục tiêu chung của dân tộc. Quán triệt tư tưởng đó của Hồ Chí Minh,
Đảng và Nhà Nước ta tiếp tục cũng cố, vận dụng sáng tạo nó và trong công cuộc
đổi mới đất nước. Điều đó đã được thể hiện trong Văn Kiện Đại Hội đại biểu toàn
quốc của Đảng Cộng Sản Việt Nam lần thứ VI và VIII. Đó là: “Công dân Việt
Nam có quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào.
Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật. Những nơi thờ tự của các tín ngưỡng,
tôn giáo được pháp luật bảo hộ. Không ai được tự do xâm phạm tự do tín ngưỡng,
tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để làm trái pháp luật và chính sách
hiện hành của nhà nước”. Như vậy, qua đó ta thấy được rằng quan điểm về tôn
giáo và công tác tôn giáo của Đảng và Nhà Nước ta là dựa trên nền tảng của chủ
nghóa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh và sự vận dụng sáng tạo vào trong tình
Trang 10
hình mới. Từ đó có thể nói tôn giáo là hệ thống các quan niệm tín ngưỡng sùng bái
một hay nhiều vò thần linh nào đó. Và nó là một hình thái ý thức xã hội, nó mang
đậm tính lòch sử và tính quần chúng rộng rãi. Cho nên khi nghiên cứu tôn giáo cần
phân biệt được tôn giáo với các hình thức mê tín dò đoan. Ngoài ra, tôn giáo còn là
vấn đề tồn tại lâu dài, tín ngưỡng tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận
nhân dân, đạo đức tôn giáo có nhiều điều phù hợp với công cuộc xây dựng chủ
nghóa xã hội. Ngày nay, các giáo hội và các tổ chức tôn giáo có đường hướng hành
đạo gắn liền với dân tộc, phù hợp với pháp luật Nhà Nước; có tổ chức bộ máy phù
hợp. Cho nên, công tác tôn giáo hiện nay có ý nghóa quan trọng sự nghiệp xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc.
1.2.
1.2.
Đặc điểm, t
Đặc điểm, t
ình hình tôn giáo và tác động của các tôn giáo trong
ình hình tôn giáo và tác động của các tôn giáo trong


đời sống xã hội ở nước ta
đời sống xã hội ở nước ta
1.2.1. Vài nét chung về đặc điểm tôn giáo ở Việt Nam
Việt Nam là nước có vò trí đặc biệt của khu vực Châu Á, là nơi giao lưu giữa
văn hóa Đông và Tây. Từ rất sớm, cùng với tôn giáo nguyên thủy nội sinh, đồng
thời có sự du nhập của nhiều tôn giáo nên Việt Nam là nước đa tôn giáo. Tuy
nhiên, phần lớn dân cư nước ta chòu ảnh hưởng của Nho giáo và Phật giáo. Hầu hết
các tôn giáo được du nhập vào nước ta đều mang dấu ấn Việt Nam. Do sự khoan
dung, lòng độ lượng, tính nhân ái của dân tộc, do yêu cầu đoàn kết toàn dân bảo vệ
độc lập và sự toàn vẹn lãnh thổ mà người Việt Nam chấp nhận một sự hòa nhập,
đan quyện các yếu tố tôn giáo khác nhau vào mình, miễn là nó không vi phạm đến
lợi ích quốc gia và đi ngược lại truyền thống văn hóa dân tộc. Các tôn giáo chung
sống bên nhau trong cộng đồng dân tộc, trên cùng đất nước. Trong lòch sử Việt
Nam không có chiến tranh tôn giáo như một số nước khác. Chính vì vậy mà tín
ngưỡng tôn giáo ở Việt Nam mang tính dung hợp đan xen, hòa đồng lẫn nhau.
Ở Việt Nam hệ thống tín ngưỡng tôn giáo còn có đặc điểm đó là tính trội của
yếu tố nữ. Từ Bắc đến Nam ở đâu cũng có nơi thờ tượng nữ thần: Phật bà, Thánh
Trang 11
mẫu. Dù cho bản thân Phật giáo, Thiên chúa giáo, nhất là Hồi giáo và Nho giáo coi
thường phụ nữ, song đến Việt Nam các tôn giáo ấy đã phải thay đổi ít nhiều cho
phù hợp với vai trò, vò trí của người phụ nữ trong xã hội Việt Nam. Đã từ lâu trong
đời sống của nhân dân ta vai trò của người phụ nữ không bò hạ thấp, khinh miệt như
nhiều nước khác, ngược lại còn được coi trọng, đề cao trong xã hội. Nhiều nơi như
đình, chùa, miếu, điện, thánh thất, nhà thờ là chốn hương hoa, oản quả thờ phụng
những bậc thánh thần, tiên phật thuộc giới nữ. Vì lẽ đó người ta nói ở nước ta có
đạo thờ Mẫu.
Đặc điểm nổi bật của tín ngưỡng tôn giáo Việt Nam đó là thờ cúng tổ tiên,
những người có công với gia đình, làng, nước… Đây là một nét đặc sắc của tín
ngưỡng, tôn giáo truyền thống của nước ta.
Chính vì tôn giáo là vấn đề tâm linh huyền bí nên các thế lực phản động trong
và ngoài nước thường lợi dụng tôn giáo vì mục đích chính trò của chúng. Những
năm gần đây, các thế lực thù đòch đặc biệt coi trọng vấn đề lợi dụng tôn giáo, coi
đây là biện pháp đột phá, chỉa mũi xung kích trong việc thực hiện chiến lược “diễn
biến hoà bình” nhằm xoá bỏ chủ nghóa xã hội ở Việt Nam. Chúng tăng cường phát
triển đạo Tin Lành ở các vùng dân tộc miền núi. Đối với vùng Tây Bắc, chúng tăng
cường phát triể đạo Tin Lành trong đồng bào Mông, Dao… âm mưu thành lập
“Vương quốc người Mông”. Đối với vùng Tây Nguyên, chúng tuyên truyền, phát
triển đạo Tin Lành và chủ trương tách “Tin Lành người Thượng” ra khỏi “Tin Lành
người Kinh”, lập ra “Tin Lành Đềga” làm ngọn cờ tư tưởng tập hợp lực lượng, âm
mưu thành lập nhà nước “Đềga độc lập”.
1.2.2. Tình hình tôn giáo ở Việt Nam hiện nay
Việt Nam có truyền thống văn hóa lâu đời và là một quốc gia đa dân tộc, đa
tôn giáo. Cũng như nhiều nước trên thế giới, mỗi dân tộc trong cộng đồng 54 dân
tộc Việt Nam có những tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau gắn với đời sống kinh tế,
văn hóa và xã hội.
Trang 12
Nhằm đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân, ngay từ Hiến
pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (1946) đến Hiến pháp của
nước Cộng hòa xã hội chủ nghóa Việt Nam ngày nay (1992) đều luôn khẳng đònh
quyền “tự do tín ngưỡng, tôn giáo ” là một trong các quyền cơ bản của con người.
Ở Việt Nam không có sự phân biệt tín ngưỡng, tôn giáo; các tín đồ theo tôn giáo
khác nhau cùng chung sống hài hòa trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam.
Văn kiệân Đại hội Đại biểu toàn quốc lần X của Đảng cộng sản Việt Nam nêu
rõ: “Đồng bào các tôn giáo là bộ phận quan trọng của khối đại đòan kết toàn dân
tộc. Thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng,
theo hoặc không theo tôn giáo của công dân, quyền sinh hoạt tôn giáo bình thường
theo pháp luật”; đồng thời khẳng đònh chủ trương ngăn chặn các hoạt động mê tín
dò đoan, các hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo làm phương hại đến lợi ích chung
của đất nước, vi phạm quyền tự do tôn giáo của công dân; nhằm đáp ứng nhu cầu
đời sống tâm linh, tôn giáo của người dân, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn
dân tộc, xây dựng đất nước Việt Nam ngày càng phát triển, dân chủ, công bằng và
văn minh.
Bên cạnh đó, trong thời kỳ hiện nay, nền kinh tế thò trường phát triển cũng đã
tác động mạnh mẽ vào tôn giáo, làm xuất hiện những hiện tượng tôn giáo mới. Vì
vậy, trong những năm gần đây tình hình tôn giáo có những chuyển biến phức tạp
và nhìn chung tình hình tôn giáo nước ta có chiều hướng phát triển.
Những thập niên gần đây Việt Nam có sự gia tăng tín đồ tôn giáo một cách
đáng kể, đặc biệt là tín đồ đạo Tin Lành ở các khu vực miền núi và vùng dân tộc ít
người.
Theo ước tính hiện nay, ở Việt Nam có khoảng 80% dân số có đời sống tín
ngưỡng, tôn giáo, trong có có khoảng 20 triệu tín đồ của 6 tôn giáo lớn.
Ngoài 6 tôn giáo chính thức đang hoạt động bình thường, còn có 3 tôn giáo mới
được công nhận (Tứ Ân Hiếu Nghóa, Tònh Độ Cư Sỹ Phật Hội, Baha’i) và một số
Trang 13
nhóm tôn giáo đòa phương hoặc mới thành lập có liên quan đến Phật giáo hoặc mới
du nhập ở bên ngoài vào như:
- Bửu Sơn Kỳ Hương
- Tổ tiên chính thống giáo.
- Ngũ chi Minh đạo.
- Bà – la – môn.
Với sự đa dạng các loại hình tín ngưỡng tôn giáo như trên, người ta thường ví
Việt Nam như bảo tàng tôn giáo thế giới. Về khía cạnh văn hóa, sự đa dạng các
loại hình tín ngưỡng, tôn giáo sẽ góp phần làm cho nền văn hóa Việt Nam phong
phú và đặc sắc. Tuy nhiên, đó là những khó khăn đặt ra cho Đảng và Nhà nước ta
trong việc thực hiện chủ trương, chính sách đối với tôn giáo nói chung và đối với
từng tôn giáo cụ thể.
* Ở Việt Nam, tôn giáo không chỉ có trong người Kinh mà còn có cả trong
vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Cụ thể:
- Dân tộc Khơ-me theo Phật giáo Nam tông.
- Hồi giáo có mối quan hệ đặc biệt với dân tộc Chăm.
- Đồng bào dân tộc thiểu số Tây Nguyên và Tây Bắc theo đạo Công giáo,
đặc biệt là đạo Tin Lành.
Khoảng 20 năm trở lại đây, có trên 100 nghìn đồng bào người Mông, Dao theo
đạo Tin Lành, sự phát triển nhanh chống như vậy đang là vấn đề rất lớn liên quan
đến vần đề tư tưởng, vần đề tôn giáo và an ninh chính trò ở khu vực Tây Bắc.
* Đa số tín đồ các tôn giáo là người lao động, trong đó chủ yếu là người nông
dân.
Theo ước tính của Ban Tôn giáo Chính phủ, tín đồ là nông dân của đạo Phật,
Công giáo chiếm 80% - 85%; của Cao Đài, Hòa Hảo là 95%; của Tin Lành là
65%
Trang 14

Xem chi tiết: 250179


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét