Lời mở đầu
Từ Đại hội Đảng VI (1986) Đảng cộng sản Việt Nam đã chỉ rõ cần phải
đổi mới nền kinh tế đó là chuyển từ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang
nền kinh tế thị trờng theo định hớng Xã hội chủ nghĩa. Đến năm 1992 đờng lối
đó đã đợc cụ thể hoá.
Khi nghiên cứu xã hội T bản Các Mác phát hiện ra mâu thuẫn cơ bản của
xã hội T bản là mâu thuẫn giữa tính chất xã hội hoá của sản xuất với chế độ
chiếm hữu t nhân T bản chủ nghĩa, mâu thuẫn đó là cơ sở sâu xa làm nảy sinh
các mâu thuẫn khác và quy định sự vận động và phát triển của xã hội T bản. Từ
đó, Các Mác đã đi đến dự báo về sự thay đổi chế độ chiếm hữu t nhân T bản chủ
nghĩa bằng chế độ công hữu. Sau này, khi nghiên cứu vấn đề này Lênin đã chỉ
ra sự thay thế đó không thể tiến hành một sớm một chiều mà đó là cả một quá
trình lâu dài phức tạp.
Ta biết rằng vấn đề kinh tế là vấn đề tiên quyết làm thay đổi các vấn đề
khác do vậy Đảng ta chỉ ra rằng sự phù hợp giữa lực lợng sản xuất với quan hệ
sản xuất là một vấn đề cực kì quan trọng trong giai đoạn hiện nay: giai đoạn đi
lên Chủ nghĩa xã hội. Đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn thì cần hiểu rõ và áp dụng
sáng tạo quy luật trên vào điều kiện cụ thể của Việt Nam. Do vậy việc nghiên
cứu quy luật này là một vấn đề hết sức cần thiết. Chính vì vậy mà em đã quyết
định chọn đề tài: Quan hệ biện chứng giữa lực lợng sản xuất với quan hệ
sản xuất và vận dụng vào xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở nớc ta hiện nay.
Tuy nhiên trình độ nhận thức hiểu biết về mọi mặt còn hạn chế nên không tránh
khỏi sai sót. Em mong nhận đợc sự chỉ bảo của thầy cô và ý kiến đóng góp của
bạn đồng học. Em xin chân thành cảm ơn!
1
I. Đặt vấn đề.
Xã hội loài ngời muốn tồn tại và phát triển không thể không sản xuất ra của
cải vật chất mà trình độ phát triển của nó đợc biểu hiện chính bởi phơng thức
sản xuất trong mỗi giai đoạn lịch sử nhất định. Từ khi con ngời mới xuất hiện
trên hành tinh đã trải qua năm phơng thức sản xuất. Đó là: Cộng sản nguyên
thuỷ, chiếm hữu nô lệ, xã hội phong kiến, xã hội t bản chủ nghĩa. T duy nhận
thức của con ngời không dừng lại ở một chỗ mà theo thời gian ngày càng phát
triển hoàn thiện hơn, từ đó kéo theo sự thay đổi phát triển trong sản xuất. Lịch
sử phát triển của sản xuất trong xã hội loài ngời là lịch sử phát triển của các ph-
ơng thức sản xuất kế tiếp nhau. Phơng thức sản xuất là sự thống nhất biện chứng
giữa lực lợng sản xuất và quan hệ sản xuất, là cách thức sản xuất ra của cải vật
chất mà trong đó lực lợng sản xuất đạt đến một trình độ nhất định, thống nhất
với quan hệ sản xuất tơng ứng với nó. Phơng thức sản xuất vừa là hạt nhân đồng
thời vừa là động lực thúc đẩy và quy đinh mọi mặt của đời sống xã hội. Không
thể thúc đẩy sự tăng trởng của nền kinh tế nếu không hiểu biết về cách thức sản
xuất và không có những biện pháp tối u tác động nhằm hoàn thiện phơng thức
sản xuất mà cụ thể chính là hoàn thiện mối quan hệ giữa lực lợng sản xuất và
quan hệ sản xuất.
Tác động qua lại biện chứng giữa lực lợng sản xuất với quan hệ sản xuất
đã đợc Mac và Ăngghen khái quát thành quy luật về sự phù hợp giữa quan hệ
sản xuất và lực lợng sản xuất. Chủ nghĩa duy vật lịch sử đã khẳng định rằng lực
lợng sản xuất có vai trò quyết định đối với quan hệ sản xuất và ngợc lại, có thể
thúc đầy hoặc kìm hãm sự phát triển của lực lợng sản xuất. Xã hội ngày càng
phát triển thì mối quan hệ giữa quan hệ sản xuất và lực lợng sản xuất là không
thể tách rời, đây là quy luật chung của sự phát triển và là một trong những quy
luật quan trọng quy định sự tồn tại, phát triển và tiến bộ xã hội. Chính vì thế mà
không phải ngẫu nhiên việc nghiên cứu quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với
tính chất và trình độ phát triển của lực lợng sản xuất là một trong những nội
dung quan trọng của công cuộc đổi mới chủ nghĩa xã hội mà chúng ta đang tiến
hành hôm nay. Chúng ta đã có những bài học đắt giá, đó là sự sai lầm khi xây
2
dựng nhiều yếu tố của quan hệ sản xuất vợt trớc so với lực lợng sản xuất mà
chúng ta hiện có. Đó là việc chỉ cho phép các hình thức sở hữu Nhà nớc và sở
hữu tập thể tồn tại, trong khi các hình thức sở hữu khác đang còn có tác dụng
mạnh mẽ đối với lực lợng sản xuất thì lại bị ngăn cấm, không đợc phép phát
triển. Việc đó đã dẫn đến tình trạng sản xuất bị đình đốn, ngời lao động không
làm việc hết mình, xã hội không phát triển. Vậy phải giải quyết vấn đề này nh
thế nào ? Việc vận dụng đúng đắn qui luật trên vào công cuộc xây dựng xã hội
chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay là vô cùng cấp thiết.
II. Giải quyết vấn đề.
1. Nội dung nguyên lí triết học
a) Lực lợng sản xuất.
Lực lợng sản xuất là mối quan hệ giữa con ngời với tự nhiên đợc hình
thành trong quá trình sản xuất. Lực lợng sản xuất gồm có t liệu sản xuất và ngời
lao động . Có thể nói lực lợng sản xuất là tất cả các nhân tố vật chất, kĩ thuật
cần thiết để tiến hành một quá trình sản xuất nào đó trong đó ngời lao động giữ
vai trò nhân tố cơ bản và quyết định .
T liệu sản xuất lại đợc cấu thành từ hai bộ phận: đối tợng lao động và
t liệu lao động; trong đó đối tợng lao động có thể là giới tự nhiên hoặc những
sản phẩm không có sẵn trong tự nhiên mà do con ngời bằng lao động của mình
đã tạo ra. Còn t liệu lao động là những vật hay phức hợp các vật thể nối con ng-
ời với đối tợng lao động và dẫn truyền sự tác động của con ngời vào đối tợng
lao động, nó lại bao gồm công cụ sản xuất và phơng tiện lao động, mà trong đó
công cụ sản xuất đợc con ngời không ngừng cải tiến và hoàn thiện, do đó công
cụ sản xuất luôn luôn là yếu tố động nhất, cách mạng nhất của lực lợng sản xuất
.
Bất kỳ một thời đại lịch sử nào, công cụ sản xuất bao giờ cũng là sản
phẩm tổng hợp, đa dạng của toàn bộ những phức hợp kỹ thuật đợc hình thành
gắn liền với quá trình sản xuất và phát triển của khoa học kỹ thuật. Nó là kết
quả của rất nhiều yếu tố, trong đó quan trọng và trực tiếp nhất là trí tuệ của con
ngời đợc nhân lên trên cơ sở kế thừa nền văn minh vật chất trớc đó.
3
Trình độ phát triển của t liệu lao động mà trong đó đặc biệt là công cụ
sản xuất là thớc đo trình độ chinh phục tự nhiên của con ngời, đồng thời đó
cũng là cơ sở xác định trình độ của sản xuất và là tiêu chuẩn đánh giá sự khác
nhau giữa các thời đại kinh tế , các chế độ chính trị xã hội.
Song nhân tố quyết định của lực lợng sản xuất phải nói tới nhân tố ng-
ời lao động. Lênin đã nói: Lực lợng sản xuất hàng đầu của toàn thể nhân loại
là công nhân, là ngời lao động [V.I. Lenin Toàn tập, tập 38_ nhà xuất bản Tiến
bộ_ Matxcơva_ năm 1977_ trang 430]. Dù t liệu sản xuất có đối tợng lao động
phong phú, giàu có đến mức nào, có t liệu lao động tinh xảo và hiện đại đến đâu
chăng nữa nhng nếu tách khỏi ngời lao động thì cũng không phát huy đợc tác
dụng tích cực của nó. Trong lịch sử đã và sẽ không tồn tại một hình thức sản
xuất vật chất nào mà lại không có nhân tố con ngời. C.Mac và Ph.Ăng-ghen đã
viết: Bản thân con ngời bắt đầu đợc phân biệt với súc vật ngay khi con ngời bắt
đầu sản xuất ra những t liệu sinh hoạt [C.Mac và Ph.Ăng-ghen tuyển tập, tập
1_ Nhà xuất bản Sự thật_ Hà Nội_ năm 1980_ trang 268]. Con ngời là nhân tố
trung tâm và là mục đích của nền sản xuất xã hội. Sản xuất suy đến cùng là để
tiêu dùng, không có tiêu dùng thì cũng không có sản xuất nhất là trong điều
kiện ngày nay, khi công cuộc cách mạng khoa học công nghệ phát triển
mạnh mẽ thì vị trí trung tâm của con ngời ngày càng đợc nhấn mạnh. Ngời lao
động với t cách là một bộ phận của lực lợng sản xuất xã hội phải là ngời có sức
lực (sức khoẻ), kĩ năng lao động , tri thức khoa học , tri thức công nghệ và cả
tính nhân văn ( bao hàm cả các giá trị đạo đức).
b) Quan hệ sản xuất.
Trong quá trình sản xuất con ngời cần phải có mối quan hệ xã hội với
nhau. Tổng thể các mối quan hệ đó đợc gọi là mối quan hệ sản xuất. Quan hệ
sản xuất là toàn bộ những quan hệ giữa ngời với ngời trong quá trình sản xuất
và tái sản xuất vật chất của xã hội: sản xuất phân phối trao đổi tiêu
dùng. Tổng thể các quan hệ xã hội này có thể đợc phân tích trên 3 yếu tố cơ
bản:
4
Thứ nhất, quan hệ sở hữu đối với t liệu sản xuất tức là quan hệ giữa con
ngời đối với t liệu sản xuất, nói cách khác t liệu sản xuất thuộc về ai. Đây là
quan hệ có ý nghĩa quyết định đối với các mặt quan hệ khác.
Thứ hai, quan hệ trong tổ chức và quản lý sản xuất , kinh doanh, tức là
quan hệ giữa ngời với ngời trong sản xuất và trao đổi của cải vật chất nh phân
công chuyên môn hoá và hợp tác hóa lao động, quan hệ giữa ngời quản lý với
công nhân. Trong thực tế, thích ứng với một kiểu sở hữu là một chế độ tổ chức
và quản lý nhất định. Mặc dù phụ thuộc vào quan hệ sở hữu nhng tổ chức và
quản lý sản xuất có tác dụng rất lớn đối với quá trình sản xuất và với các mặt
quan hệ khác của quan hệ sản xuất. Chính quan hệ về tổ chức và quản lý sản
xuất là nhân tố tham gia quyết định trực tiếp đến quy mô, tốc độ và hiệu quả
của nền kinh tế.
Thứ ba, quan hệ phân phối sản phẩm lao động: tuy quan hệ này phụ
thuộc vào quan hệ sở hữu và vào trình độ tổ chức quản lý sản xuất nhng đến lợt
mình thông qua tổ chức và quản lý, nó trở thành chất xúc tác quan trọng đặc
biệt đối với sự tăng trởng kinh tế.
Ba mặt quan hệ nói trên là một thể thống nhất hữu cơ, quan hệ chặt chẽ
với nhau và cùng một mục tiêu chung là sử dụng hợp lý và có hiệu quả t liệu sản
xuất để làm cho chúng không ngừng đợc tăng trởng, thúc đẩy tái sản xuất mở
rộng, nâng cao phúc lợi ngời lao động. Vì vậy không nên tuyệt đối hoá bất kỳ
một mặt quan hệ nào mà phải chú ý đến tính đồng bộ của cả ba mặt quan hệ
trong quan hệ sản xuất.
Nh vậy tính vật chất của quan hệ sản xuất thể hiện ở chỗ nó tồn tại
khách quan độc lập hoàn toàn với ý thức của con ngời. Mác đã chỉ ra rằng trong
sự sản xuất xã hội ra đời sống của mình, con ngời có những quan hệ nhất định,
tất yếu không phụ thuộc vào ý muốn của họ. Tức là những quan hệ sản xuất này
phù hợp với trình độ phát triển nhất định của các lực lợng sản xuất vật chất của
họ. Vì vậy con ngời không thể tuỳ tiện lựa chọn quan hệ sản xuất riêng cho
mình, bởi vì chúng luôn luôn là kết quả phát triển tất yếu khách quan của một
lực lợng sản xuất hiện có tơng ứng với nó.
c) Quan hệ giữa lực lợng sản xuất và quan hệ sản xuất.
5
* Lực lợng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất:
Để nâng cao hiệu quả trong sản xuất và giảm bớt lao động nặng nhọc,
con ngời không ngừng cải tiến, hoàn thiện và chế tạo ra những công cụ sản xuất
mới ngày càng tinh xảo và hiện đại. Đồng thời với sự tiến bộ của công cụ, tri
thức khoa học, trình độ chuyên môn kỹ thuật và mọi kỹ năng kỹ xảo của ngời
lao động cũng ngày càng phát triển. Cùng với sự phát triển của lực lợng sản
xuất âý, quan hệ sản xuất cũng hình thành và biến đổi cho phù hợp với tính chất
và trình độ phát triển của lực lợng sản xuất, sự phù hợp đó là động lực làm cho
lực lợng sản xuất phát triển mạnh mẽ. Lực lợng sản xuất là nội dung, là phơng
thức còn quan hệ sản xuất là hình thức xã hội của nó. Trong mối quan hệ giữa
nội dung và hình thức thì nội dung quyết định hình thức, hình thức phụ thuộc
vào nội dung, nội dung thay đổi trớc sau đó hình thức thay đổi theo. Chính vì
thế cần khẳng định lực lợng sản xuất quyết định sự hình thành, phát triển và
biến đổi của quan hệ sản xuất.
* Quan hệ sản xuất tác động trở lại đối với lực lợng sản xuất:
Nh trên ta thấy lực lợng sản xuất là nhân tố thờng xuyên biến đổi, phát
triển không ngừng trong khi đó quan hệ sản xuất mà đặc biệt là nhân tố sở hữu
về t liệu sản xuất lại có tính ổn định lâu dài. Quan hệ sản xuất khi đã đợc xác
lập thì nó độc lập tơng đối với lực lợng sản xuất, trở thành những cơ sở và
những thể chế xã hội và nó không thể biến đổi đồng thời đối với lực lợng sản
xuất mà thờng có xu hớng lạc hậu hơn so với lực lợng sản xuất. Khi đó nó tác
động trở lại đối với lực lợng sản xuất, có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát
triển của lực lợng sản xuất. Nếu quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình
độ phát triển của lực lợng sản xuất, nó sẽ trở thành động lực thúc đẩy, định h-
ớng và tạo điều kiện cho lực lợng sản xuất phát triển. Ngợc lại, nếu lạc hậu hơn
so với tính chất và trình độ phát triển của lực lợng sản xuất, quan hệ sản xuất sẽ
là xiềng xích kìm hãm sự phát triển của lực lợng sản xuất. Ngay cả trong trờng
hợp quan hệ sản xuất đi quá xa so với trình độ phát triển của lực lợng sản xuất
thì nó cũng kìm hãm sự phát triển của lực lợng sản xuất.
Sở dĩ quan hệ sản xuất có thể tác động mạnh mẽ trở lại đối với lực lợng
sản xuất (thúc đầy hoặc kìm hãm ), vì nó quy định mục đích của sản xuất, quy
6
định hệ thống tổ chức quản lý sản xuất và quản lý xã hội, quy định phơng thức
phân phối và phần của cải ít hay nhiều mà ngời lao động đợc hởng. Do đó nó
ảnh hởng đến thái độ quảng đại quần chúng lao động - lực lợng sản xuất chủ
yếu của xã hội, nó tạo ra những điều kiện kích thích hoặc hạn chế việc cải tiến
công cụ lao động, áp dụng những thành tựu khoa khọc và kỹ thuật vào sản xuất,
hợp tác và phân phối lao động.
Tuy nhiên, không đợc hiểu một cách đơn giản tính tích cực của quan hệ
sản xuất chỉ là vai trò của những hình thức sở hữu, mỗi kiểu quan hệ sản xuất là
một hệ thống một chỉnh thể hữu cơ gồm ba mặt, quan hệ sở hữu, quan hệ quản
lý và quan hệ phân phối. Chỉ trong chỉnh thể đó, quan hệ sản xuất mới trở thành
động lực thúc đẩy con ngời hành động nhằm phát triển sản xuất.
* Qui luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ
phát triển của lực lợng sản xuất:
Mối quan hệ biện chứng giữa lực lợng sản xuất và quan hệ sản xuất
làm hình thành quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ
phát triển của lực lợng sản xuất.
Vậy thế nào là phù hợp : Có thể khái quát ở một số nội dung chủ yếu
sau đây:
Thứ nhất, cả ba mặt của quan hệ sản xuất phải thích ứng với tính chất,
trình độ phát triển của lực lợng sản xuất.
Thứ hai, quan hệ sản xuất phải tạo đợc điều kiện sử dụng và kết hợp tối
u giữa t liệu sản xuất và sức lao động, bảo đảm thực hiện tái sản xuất mở rộng.
Thứ ba, mở ra những điều kiện thích hợp cho việc kích thích vật chất,
tinh thần đối với ngời lao động.
Lịch sử xã hội loài ngời với các phơng thức sản xuất kế tiếp nhau đã
chứng minh quy luật kinh tế đó chi phối lịch sử phát triển của các phơng thức
sản xuất, đồng thời cũng trực tiếp tác động tới sự vận động của mỗi phơng thức
sản xuất.
Thời kì đầu trong lịch sử là xã hội cộng sản nguyên thuỷ với lực lợng
sản xuất thấp kém, đời sống của họ chủ yếu phụ thuộc vào săn bắt hái lợm,
quan hệ sản xuất thơì kì này là quan hệ sản xuất cộng đồng nguyên thuỷ, con
7
ngời cùng chung sống, cùng lao động và cùng hởng thụ thành quả lao động
chung một cách bình đẳng. Xã hội không có ngời giàu, ngời nghèo, không có
ngời sở hữu, không có kẻ làm thuê. Trong quá trình sinh sống họ đã không
ngừng cải tiến và thay đổi công cụ (lực lợng sản xuất) đến sau một thời kỳ lực l-
ợng sản xuất phát triển, của cải từ chỗ chỉ đủ đáp ứng nhu cầu cần thiết đã tăng
lên đến chỗ d thừa tất yếu dẫn đến sự tích luỹ, xã hội bắt đầu có sự phân chia kẻ
giàu ngời nghèo, quan hệ cộng đồng bị phá vỡ dần dần xuất hiện hệ t nhân thay
thế cho nó. Đó là xã hội chiếm hữu nô lệ.
Xã hội nô lệ với quan hệ sản xuất chiếm hữu nô lệ ra đời bằng những
hình thức lao động tập trung, khổ sai, thích ứng với trình độ của lực lợng sản
xuất lúc ấy, chế độ chiếm hữu nô lệ đã đạt đợc những kỳ tích to lớn trong lịch
sử văn minh nhân loại.
Kế tiếp đó quan hệ sản xuất phong kiến ra đời, ngời nô lệ lao động
khổ sai trong xã hội nô lệ đợc thay thế bằng ngời nông nô. Sức lao động của nô
lệ đợc giải phóng khỏi xiềng xích của trật tự xã hội nô lệ, lực lợng sản xuất có
những bớc tiến đáng kể. Sau đó bản thân quan hệ sản xuất phong kiến cũng
không thích ứng đợc với lực lợng sản xuất hiện có, nó trở thành xiềng xích trói
buộc lực lợng sản xuất xã hội, đặc biệt là với phơng thức sản xuất t bản chủ
nghĩa hình thành tự phát trong lòng xã hội phong kiến. Xung đột này dẫn đến sự
ra đời của quan hệ sản xuất t bản chủ nghĩa thay thế quan hệ sản xuất phong
kiến.
Quan hệ sản xuất t bản chủ nghĩa ra đời góp phần giải phóng sức lao
động của ngời nông dân cá thể. Để tăng cờng bóc lột giá trị thặng d, giai cấp t
sản đua nhau mở rộng sản xuất, cải tiến kỹ thuật, ứng dụng nhanh chóng các
thành tựu khoa học kỹ thuật vào tất cả các khâu của nền sản xuất xã hội. Trong
thời kỳ hoàng kim của mình, quan hệ sản xuất t bản đã tạo ra những khả năng
phát triển mạnh mẽ lực lợng sản xuất, nó đã tạo ra cho nhân loại một khối lợng
của cải vật chất bằng tất cả các xã hội trớc đó cộng lại. Song bản thân tính chất
xã hội hoá ngày càng cao của phơng thức sản xuất t bản chủ nghĩa gắn liền với
lao động tập thể của đội ngũ giai cấp công nhân hùng mạnh, sẽ nảy sinh mâu
thuẫn gay gắt với chế độ chiếm hữu t nhân t bản chủ nghĩa. Mặc dù giai cấp t
8
bản sử dụng mọi biện pháp nhằm củng cố, duy trì và bảo vệ chế độ sở hữu của
mình, nhng tất yếu khách quan, tính chất xã hội hoá của lực lợng sản xuất sẽ
dẫn đến xung đột với quan hệ sản xuất hiện có của nó. Quan hệ sản xuất t bản
chủ nghĩa sẽ bị thay thế bởi quan hệ sản xuất mới, tiến bộ, phù hợp với xu thế
phát triển của lực lợng sản xuất: quan hệ sản xuất cộng sản chủ nghĩa mà giai
đoạn đầu tiên của nó là chủ nghĩa xã hội.
Nh vậy sự phát triển của lực lợng sản xuất đến một giới hạn nhất định
sẽ bộc lộ mâu thuẫn giữa quan hệ sản xuất với lực lợng sản xuất. Những quan
hệ ấy từ chỗ là hình thức kinh tế cần thiết để bảo vệ, để phát triển các lực lợng
sản xuất thì giờ đây trở thành lực lợng kìm hãm sự phát triển ấy. Nó đòi hỏi
phải đợc thay đổi cho phù hợp (tạo ra hình thức mới). Sự thay đổi quan hệ ấy
không phải một cách tự nhiên mà bao giờ cũng đợc thực hiện thông qua một cơ
chế về mặt pháp luật, chính trị. Nó đợc thực hiện thông qua những cuộc cải
cách kinh tế, cách mạng, chính trị, pháp luật kinh tế .
2. Vận dụng nguyên lí triết học để giải quyết vấn đề:
a) Thực trạng:
* Các quan hệ sản xuất và lực lợng sản xuất của Việt Nam trong lịch
sử.
Không nằm ngoài quy luật về mối quan hệ giữa quan hệ sản xuất và
lực lợng sản xuất, Việt Nam đã trải qua trên 4000 năm lịch sử với nhiều phơng
thức sản xuất khác nhau trong đó cơ bản nhất và chủ yếu nhất là phơng thức sản
xuất phong kiến. Tiếp đó, sau hơn 80 năm đô hộ của bọn thực dân, dới sự lãnh
đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và lãnh tụ Hồ Chí Minh, chúng ta đã xây
dựng một đất nớc Việt Nam độc lập, tự do, tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội, bỏ
qua giai đoạn t bản chủ nghĩa.
* Việt Nam trong thời kì đầu đi lên chủ nghĩa xã hội.
Sau 30/4/1975 nớc ta hoàn toàn giải phóng, chúng ta đã đạt đợc nhiều
thành tựu trong việc hàn gắn vết thng chién tranh. Tuy nhiên nền kinh tế nớc ta
vẫn là nền kinh tế nông nghiệp kém phát triển mang nặng tính tự cấp, tự túc.
Trang bị kỹ thuật và kết cấu xã hội yếu kém, cơ cấu kinh tế mất cân đối, cơ cấu
kinh tế tập trung quan liêu bao cấp để lại nhiều hậu quả nặng nề. Nền kinh tế
9
kém hiệu quả, năng suất lao động thấp, khủng hoảnh kinh tế kéo dài, các tệ nạn
tham nhũng lan rộng. Đảng cộng sản còn non, đội ngũ cán bộ còn yếu về
năng lực, các thế lực đế quốc và phản động ráo riết thực hiện chiến lợc diễn
biến hoà bình, phá hoại và bao vây kinh tế. Nếp sống văn hoá, đạo đức bị xói
mòn, lòng tin vào Đảng và nhà nớc bị giảm sút.
Thực trạng trên có nguồn gốc sâu xa do lịch sử để lại và hậu quả của
nhiều năm chiến tranh, song chủ yếu là chúng ta đã vi phạm sai lầm chủ quan
duy ý chí, vi phạm các quy luật khách quan trong cải tạo xã hội chủ nghĩa,
trong tién hành công nghiệp hoá và trong cơ chế quản lý kinh tế đặc biệt là
không có sự phù hợp giữa lực lợng sản xuất và quan hệ sản xuất. Chúng ta đã
quên mất điều cơ bản là nớc ta quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội từ một xã hội tiền
t bản chủ nghĩa. Chúng ta đã thiết lập chế độ công hữu thuần nhất giữa hai hình
thức sở hữu toàn dân và tập thể. Đồng nhất chế độ công hữu với chủ nghĩa xã
hội lẫn lộn đồng nhất giữa hợp tác hoá và tập thể hoá. Chúng ta đã ra sức vận
động gần nh cỡng bức nông dân đi vào hợp tác xã, mở rộng phát triển quy mô
nông trờng quốc doanh, các nhà máy, xí nghiệp lớn mà không tính đến trình độ
lực lợng sản xuất đang còn thời kỳ quá thấp kém. Chúng ta đã tạo ra những quy
mô lớn và ngộ nhận là đã có quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa và còn nói
rằng: mỗi bớc cải tạo quan hệ sản xuất cũ, xây dựng quan hệ sản xuất mới đều
thúc đẩy sự ra đời và lớn mạnh của lực lợng sản xuất mới. Quan hệ sản xuất xã
hội chủ nghĩa có khả năng vợt trớc mở đờng cho sự phát triển của lực lợng
sản xuất. Thực tế nhiều năm qua đã chứng minh quan điểm đó là sai lầm bởi
quan hệ sản xuất bị thúc đẩy lên quá cao, quá xa một cách giả tạo đã làm cho
nó tách rời với trình độ thấp kém của lực lợng sản xuất.
Phải thấy rằng quan hệ sở hữu thể hiện trong việc xoá bỏ tất cả chế
độ t hữu, thiết lập công hữu về t liệu sản xuất không phải chỉ thời gian ngắn là
xong. Nhng dẫu có làm đợc thì cũng không phải là mục tiêu trớc mắt của nớc ta
khi mà chế độ công hữu này cha thể phù hợp với lực lợng sản xuất hiện có.
Chúng ta đều biết, khi nghiên cứu xã hội t bản, C.Mac và Ph.Ăng-ghen đã phát
hiện ra mâu thuẫn giữa tính chất xã hội hoá của sản xuất với chế độ chiếm hữu
t nhân t bản chủ nghĩa. Mâu thuẫn đó là cơ sở sâu xa làm nảy sinh các mâu
10
thuẫn khác và quy định sự vận động phát triển của xã hội t bản. Từ đó các ông
đi đến dự báo về sự thay thế chế độ chiếm hữu t nhân t bản chủ nghĩa bằng chế
độ công hữu. Việc thay thế ấy, theo quan điểm của các ông, không thể tiến hành
ngay một lúc, mà phải là một quá trình lâu dài. Tuy nhiên lúc đó các ông vẫn
cha chỉ ra mô hình cụ thể về chế độ công hữu. Sau đó, khi vận dụng một cách
sáng tạo t tởng của C.Mac và Ăng-ghen vào điều kiện cụ thể của nớc Nga,
V.I.Lenin cũng khẳng định con đờng tiến lên chủ nghĩa xã hội đối với các nớc
lạc hậu cha qua t bản phải trải qua nhiều khâu trung gian, nhiều bớc quá độ
khác nhau. Ông đã cực lực phê phán những t tởng nóng vội muốn xác lập ngay
chế độ công hữu, khi mà những thành phần kinh tế khác vẫn còn nhiều khả
năng góp phần làm cho sản xuất phát triển. Chúng ta phải thừa nhận một trong
những sai lầm cơ bản mà chúng ta đã vấp phải là xoá bỏ quá sớm quan hệ sản
xuất t bản chủ nghĩa khi nền kinh tế xã hội chủ nghĩa của chúng ta còn cha đủ
sức thay thế. Điều đó ảnh hởng không tốt đến sự phát triển của lực lợng sản
xuất và đã làm mất một khả năng tạo ra sản phẩm dồi dào cho xã hội. Cũng vậy,
chúng ta xoá sạch tiểu thơng khi hệ thống thơng nghiệp quốc doanh và hợp tác
xã mua bán của ta cha làm nổi vai trò ngời nội trợ cho xã hội gây nhiều khó
khăn ách tắc cho lu thông hàng hoá và không đáp ứng nhu cầu thiết yếu cho
nhân dân.
* Việt Nam chuyển đổi sang cơ chế kinh tế mới.
Trớc tình hình trên, đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đã đặt ra vấn đề
cấp thiết là phải tiến hành công cuộc đổi mới kinh tế: "phải kết hợp chặt chẽ
ngay từ đầu đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị, lấy đổi mới kinh tế làm trọng
tâm, đồng thời từng bớc đổi mới chính trị" [V.I.Lenin Toàn tập, tập 2].
Chính nhờ đờng lối đổi mới và lựa chọn các bớc đi thích hợp mà nớc
ta đã từng bớc thoát khỏi khủng hoảng kinh tế và đứng vững trớc sự sụp đổ của
hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới. Công cuộc đổi mới đề ra cho chúng ta
nhiệm vụ phải xem xét lại phơng thức và con đờng đa đất nớc ta tiến lên. Sai
lầm của ta là đã đẩy nhiều mặt của quan hệ sản xuất lên quá cao, tách rời tình
trạng còn thấp kém của lực lợng sản xuất làm cho hai nhân tố này mâu thuẫn
với nhau dẫn đến kìm hãm sự phát triển của sản xuất xã hội. Đại hội Đảng lần
11
thứ VI đã nhận ra sai lầm và cũng đã thấy rằng việc cải tạo quan hệ sản xuất xã
hội là cần thiết nhng không thể tiến hành một cách chủ quan nóng vội nh trớc
đây, nghĩa là phải cải tạo và củng cố quan hệ sản xuất nhng gắn liền với sự phát
triển của lực lợng sản xuất. Đại hội VII của Đảng cũng chỉ rõ:" phù hợp với sự
phát triển của lực lợng sản xuất, thiết lập từng bớc quan hệ sản xuất xã hội chủ
nghĩa từ thấp đến cao với sự đa dạng về hình thức sở hữu. Phát triển nền kinh tế
hàng hoá nhiều thành phần theo định hớng xã hội chủ nghĩa, vận hành theo cơ
chế thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc" [Cơng lĩnh xây dựng đất nớc trong
thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội_ Nhà xuất bản Sự thật_ Hà Nội_ năm
1991_trang 9-10]
Cải tạo và củng cố quan hệ sản xuất nhng bao giờ cũng phải gắn liền
với sự phát triển của lực lợng sản xuất, và đợc đảm bảo bằng sự phát triển của
lực lợng sản xuất. Đó là điều kiện cơ bản cho cuộc cách mạng quan hệ sản xuất
phát triển vững chắc. Với trình độ của mình lực lợng sản xuất yêu cầu phải có
những quan hệ sản xuất phù hợp với nó mới có thể bộc lộ hết khả năng của
mình và mới có khả năng phát triển nhanh chóng. Tơng ứng với mỗi trình độ
lực lợng sản xuất đòi hỏi một quan hệ sản xuất, một thành phần kinh tế nhất
định nh Ph.Ăng-ghen viết :" giai cấp T sản không thể biến những t liệu sản
xuất có tính chất hạn chế ấy thành những lực lợng sản xuất mạnh mẽ đợc nếu
không biến những t liệu sản xuất của cá nhân thành những t liệu sản xuất có
tính chất xã hội, mà chỉ một số đông ngời cùng làm mới có thể s dụng đợc"
[Ph.Ang-ghen Chống đuy rinh_ nhà xuất bản Sự thật_ Hà Nội_ năm 1971_trang
455]. Kết hợp từng u thế riêng của từng thành phần kinh tế thông qua phân
cônglao động xã hội là con đờng hiệu quả nhất để phát triển lực lợng sản xuất,
qua đây ta cũng thấy rõ vấn đề cơ bản là làm thế nào để quan hệ sản xuất phù
hợp với tính chất, trình độ phát triển của lực lợng sản xuất.
Việc phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần ở nớc ta luôn luôn đ-
ợc tiến hành đồng thời với việc không ngừng đổi mới và hoàn thiện cơ chế quản
lý kinh tế nhằm bảo đảm cho s phát triển đó không xa rời định hớng xã hội chủ
nghĩa. Hiện nay các thành phần kinh tế của ta đang vận động theo cơ chế thị tr-
ờng với sự điều tiết quản lý của Nhà nớc theo định hớng xã hội chủ nghĩa. Nhà
12
nớc quản lý thị trờng bằng pháp luật, bằng cơ chế chính sách ,và các đòn bẩy
kinh tế để phát triển sản xuất phục vụ mọi nhu cầu của xã hội.
Xây dựng chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế độ t bản chủ nghĩa, tạo ra sự
biến đổi về chất của xã hội trên tất cả các lĩnh vực là sự nghiệp rất khó khăn,
phức tạp, cho nên phhải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều chặng đ-
ờng, nhiều hình thức tổ chức kinh tế , xã hội có tính chất quá độ [Văn kiện Đại
hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX_ nhà xuất bản Chính Trị Quốc Gia_ Hà Nội_
năm 2001_ trang 85].
*Những u điểm và hạn chế trong cơ chế kinh tế mới.
Về u điểm:
Trong cơ ché kinh tế mới, sự cạnh tranh diễn ra mạnh mẽ. Do đó tính
năng động sáng tạo đơc phát huy, ngời lao động đã không còn tính ỷ lại vào nhà
nớc nh trong cơ ché tập trung quan liêu bao cấp không biết chủ động tìm việc và
tăng thu nhập. Đối với các doanh nghiệp bớc đầu đổi mới phân phối lợi nhuận,
thực hiện cơ chế giá tiêu thụ sản phẩm theo quan hệ cung cầu trên thị trờng và
hoạt động kinh doanh có hiệu quả. Nhờ đó nền kinh tế nớc ta đã đạt đợc những
thành tựu quan trọng: Tổng sản phẩm trong nớc (GDP) sau 10 năm tăng hơn
gấp đôi ( 2,07 lần). tích luỹ nội bộ của nền kinh tế từ mức không đáng kể, đến
năm 2000 đã đạt 27% GDP. Từ tình trạng hàng hoá khan hiếm nghiêm trọng,
nay sản xuất đã đáp ứng đợc các nhu cầu thiết yếu của nhân dân và nền kinh tế,
tăng xuất khẩu và có dự trữ. Kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội phát triển nhanh. Cơ
cấu kinh tế có bớc chuyển dịch tích cực Trong GDP, tỷ trọng nông nghiệp từ
38,7% giảm xuống 24,3%, công nghiệp và xây dựng từ 22,7% tăng lên 36,6%,
dịch vụ từ 38,6% tăng lên 39,1% [Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
IX_ nhà xuất bản Chính Trị Quốc Gia_ Hà Nội_ năm 2001_ trang 149-150].
Mặt hạn chế:
Bên cạnh những u điểm trên không thể không nhắc đến một số hạn chế
vẫn còn tồn tại. Đó là việc chuyển sang cơ chế thị trờng còn có nhiều mặt thiếu
nhất quán đặc biệt trong tài chính tiền tệ, quản lý còn lỏng lẻo, đội ngũ cán bộ
cha theo kịp với yêu cầu của thị trờng mới, vai trò của Nhà nớc trong quản lý
hoạt động đời sống kinh tế xã hội còn yếu. Trong lĩnh vực kinh doanh, nhà nớc
13
cha tạo đợc động lực khuyến khích nâng cao năng suất. Ngời lao động cha có
động lực thờng xuyên và cha cảm thấy có sự gắn bó đối với sản xuất kinh
doanh và quá trình phát triển của doanh nghiệp. Tình trạng lạm dụng kinh
doanh còn nhiều, thị trờng vốn còn chậm phát triển, lãi suất cha phù hợp với
kinh tế thị trờng dẫn đến hạn chế đầu t.
Kinh tế vĩ mô còn những yếu tố thiếu vững chắc. Hệ thống tài chính,
ngân hàng, kế hoạch đổi mới chậm, chất lợng hoạt động hạn chế; môi trờng đầu
t, kinh doanh còn nhiều vớng mắc, cha tạo điều kiện và hỗ trợ tốt cho các thành
phần kinh tế phát triển sản xuất, kinh doanh [Văn kiện Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ IX_ nhà xuất bản Chính Trị Quốc Gia_ Hà Nội_ năm 2001_
trang154].
b) Việc vận dụng nguyên lý quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất, trình
độ phát triển của lực lợng sản xuất ở nớc ta tập trung giải quyết các vấn đề sau:
* Phát triển lực lợng sản xuất:
Về công nghiệp hoá, hiện đại hoá nhằm phát triển t liệu sản xuất:
Chúng ta đều biết rằng, từ trớc đến nay, công nghiệp hoá - hiện đại hoá
là khuynh hớng phát triển tất yếu của các nớc. Đối với nớc ta, từ một nền kinh
tế tiểu nông muốn thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, nhanh chóng đạt tới trình độ
của một nớc phát triển tất yếu phải đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá nh là
một cuộc cách mang toàn diện và sâu sắc. Đại hội lần thứ IX của Đảng cũng
khẳng định: Chiến lợc phát triển kinh tế xã hội 10 năm đầu của thế kỷ XXI:
Chiến lợc đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo định hớng xã hội chủ
nghĩa, xây dựng nền tảng để đến năm 2020 nớc ta cơ bản trở thành một nớc
công nghiệp. [Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX_ nhà xuất bản
Chính Trị Quốc Gia_ Hà Nội_ năm 2001_ trang 148].
Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đòi hỏi phải đợc triển khai
toàn diện và đồng bộ trong mọi lĩnh vực kinh tế, đặc biệt là quá trình công
nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn. Công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nớc phải bảo đảm xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, trớc hết là độc
lập tự chủ về đờng lối, chính sách, đồng thời có tiềm lực kinh tế đủ mạnh, có cơ
cấu kinh tế hợp lý, có sức cạnh tranh, có năng lực nội sinh về khoa học và công
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét