Thứ Bảy, 8 tháng 3, 2014

Giải pháp nâng cao hiệu quả tín dụng trung và dài hạn tại sở giao dịch 1 Ngân Hàng đầu tư và phát triển Việt Nam”

Chuyên Đề Thực Tập Tốt Nghiệp Khoa NH_TC
- Bên đồng tài trợ: Tối thiểu phải có từ hai NH thành viên trở lên,
mỗi NH thành viên là một tổ chức tín dụng đôi khi cũng có thể là một chi
nhánh của một tổ chức tín dụng được uỷ quyền. Các NH thành viên sẽ tiến
hành bàn bạc với nhau nhằm chọn ra một tổ chức tín dụng làm đầu mối.
Nhìn chung, mọi quan hệ về tín dụng giữa bên đồng tài trợ và bên nhận tài
trợ đều được thực hiện thông qua tổ chức tín dụng làm đầu mối cho một dự
án nào đó.
- Bên nhận tài trợ: Thông Thường là một pháp nhân hoặc là cá nhân
có nhu cầu vay vốn đầu tư cho dự án.
Thứ hai: Tín dụng trực tiếp: Đây là hình thức tín dụng trung và dài
hạn phổ biến trong nền kinh tế thị trường. NHTM tiến hành mọi hoạt động
và tự chịu trách nhiệm đối với từng dự án đầu tư mà họ đã lựa chọn để tài
trợ. Thực tế cho thấy, việc lựa chọn dự án tốt là một yêu cầu quyết định
nhất của hình thức tín dụng này.
1.1.2.2. Tín dụng tuần hoàn.
Tín dụng tuần hoàn được coi là một trong những hình thức tín dụng
trung và hạn khi thời hạn của hợp đồng được kéo dài từ một đến vài năm và
người vay rút tiền ra khi cần và được trả nợ khi có nguồn thu, trong thời
gian hợp đồng có hiệu lực. Trong các DN cổ phần khi có nhu cầu về vốn
trung và dài hạn thì DN có thể gia tăng việc phát hành cổ phiếu, hoặc có
thể vay NH dưới hình thức tín dụng tuần hoàn, sau đó sử dụng phần lợi
nhuận tính trả cho cổ đông để trả nợ, đồng thời thực hiện tăng vốn góp của
cổ đông lên.
Thực chất đây là một hình thức cải biến cơ cấu tài chính của DN,
chuyển nợ vay NH thành vốn trung vốn dài hạn. DN vay vốn theo hình
thức này cũng có thể yêu cầu NH chuyển tín dụng tuần hoàn thành tín dụng
trung và dài hạn, thậm chí có thể gia hạn kéo dài trong nhiều năm với điều
kiện có tài khoản đảm bảo cho khoản vay một cách chắc chắn. Việc chuyển
Sinh Viên: Phạm Quốc Công Lớp: Ngân Hàng 17
Chuyên Đề Thực Tập Tốt Nghiệp Khoa NH_TC
đổi này thông thường được diễn ra vào cuối giai đoạn của hợp đồng. Điều
đó còn phụ thuộc vào mức độ thực hiện hợp đồng cũng như tình hình tài
chính của khách hàng vay vốn.
1.1.2.3. Tín dụng thuê mua và dịch vụ thuê mua.
Tín dụng cho thuê là một trong những kiểu cho thuê tài sản để sử
dụng chuyên môn theo hợp đồng. Nếu trong hợp đồng có kèm theo lời hứa
của người thuê thì đó là thuê tài chính. Nếu trong hợp đồng không kèm
theo lời hứa của người thuê thì đó gọi là thuê hoạt động hay thuê đơn giản.
Tài sản cho thuê bao gồm động sản: như nhà cửa máy móc, thiết bị văn
phòng
Đối với NH người cho thuê: Đa dạng hoá việc sử dụng vốn, mở rộng
đối tượng khách hàng, tăng thêm sản phẩm NH, giảm mức độ rủi ro so với
hình thức cấp tín dụng hoặc bảo lãnh. Vì, trong thời gian cho thuê, NH vẫn
chỉ có quyền sở hữu pháp lý đối với thiết bị thuê ngoài ra NH có khả năng
nhanh chóng thu lại thiết bị nếu người đi thuê không tuân thủ theo những
điều khoản trong hợp đồng thuê. Tín dụng thuê mua bảo đảm sử dụng đúng
đắn số vốn tài trợ, cũng như tỷ lệ sử dụng vốn cao trong các dự án.
Đối với người đi thuê: Người đi thuê không phải bỏ ngay một số tiền
lớn để mua sắm thiết bị nhưng vẫn có thiết bị sử dụng trong hoạt động kinh
doanh của mình, người đi thuê có thể tiếp nhận được công nghệ tiên tiến
đồng thời hạn chế được sự lỗi thời nhanh chóng của thiết bị. Mô hình tín
dụng dịch vụ thuê, mua có ý nghĩa rất lớn đối với hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp cũng như có ý nghĩa đối với sự phát triển của đất nước, tạo
điều kiện giúp đỡ các DN không đủ vốn vẫn có thể thuê được máy móc,
thiết bị hiện đại, thúc đẩy việc sản xuất kinh doanh, tăng năng suất và nâng
cao chất lượng sản phẩm của minh nhằm cạnh tranh một cách có hiệu quả
trên thị trường.
Sinh Viên: Phạm Quốc Công Lớp: Ngân Hàng 17
Chuyên Đề Thực Tập Tốt Nghiệp Khoa NH_TC
1.1.3. Vai trò của tín dụng trung và dài hạn.
1.1.3.1. Đối với các DN.
Các DN thường xuyên gặp phải khó khăn đó là thiếu vốn đặc biệt là
thiếu vốn trung và dài hạn để phát triển sản xuất kinh doanh. Nền kinh tế
không ngừng vận động và phát triển, hàng hoá sản xuất ngày càng nhiều và
nhu cầu con người không ngừng nâng cao. Một DN muốn tồn tại và phát
triển thì phải biết nắm bắt nhu cầu và thoả mãn một cách tối đa nhu cầu đó.
Như vậy, DN phải không ngừng đổi mới, đầu tư để nâng cao chất lượng
sản phẩm, mở rộng sản xuất nhằm xâm nhập vào thị trường mới cũng như
củng cố thị phần trong thị trường cũ. Tuy nhiên, để làm được điều này, các
doanh nghiệp cần huy động một khối lượng vốn nhất định, hoặc DN có thể
tự tích lũy qua lợi nhuận giữ lại nhưng thời gian tích luỹ của nguồn này có
thể mất rất nhiều thời gian, khi đó sẽ làm mất thời cơ cũng như cơ hội kinh
doanh của doanh nghiệp. Hơn thế nữa, khi chậm đổi mới có nghĩa là không
có khả năng cạnh tranh trên thị trường đồng nghĩa với việc mất lợi nhuận.
Để hoạt động có hiệu quả doanh nghiệp có thể huy động vốn trên thị
trường chứng khoán hoặc vay vốn các tổ chức tín dụng. Đối với doanh
nghiệp, việc vay vốn trung và dài hạn của đôi khi đem lại nhiều thuận lợi
hơn so với việc huy động vốn trên thị trường chứng khoán. Về mặt kỳ hạn,
DN có thể vay vốn của các tổ chức tín dụng theo kỳ hạn phù hợp với nhưu
cầu kinh doanh. Về thủ tục thì nhanh chóng và ít phức tạp, hơn nữa không
phải công ty nào cũng được quyền bán trái phiếu, cổ phiếu của mình trên
thị trường chứng khoán. Ngoài ra với các khoản vay trung và dài hạn tại
NH, vừa giúp NH thực hiện chiến lược kinh doanh của mình vừa đem lại
lợi tức cho DN mà không gia tăng sự kiểm soát của người bên ngoài đối
với hoạt động kinh doanh của DN như trong trường hợp phát hành cổ
phiếu. Mặc dù, có nhiều thuận lợi như vậy nhưng lãi suất trung và dài hạn
của NH là một khoản chi phí khá cao đối với DN, buộc các DN phải nghĩ
đến hiệu quả đầu tư trong hoạt động kinh của mình, doanh thu đạt được
Sinh Viên: Phạm Quốc Công Lớp: Ngân Hàng 17
Chuyên Đề Thực Tập Tốt Nghiệp Khoa NH_TC
không chỉ đủ để trả vốn và lãi cho NH mà phải đem lại lợi tức cho chính
doanh nghiệp của mình. Do vậy, lãi suất tín dụng trung và dài hạn của NH
là đòn bẩy yêu cầu DN phải có chiến lược khai thác triệt để và có hiệu quả
đồng vốn nhằm kinh doanh có lãi và đạt được mục tiêu đề ra. Như vậy, vay
vốn trung và dài hạn từ NH là biện pháp quan trọng để các DN có vốn để
thực hiện dự án của mình.
1.1.3.2. Đối với nền kinh tế.
Hoạt động tín dụng trung và dài hạn đáp ứng nhu cầu về vốn cho nền
kinh tế quốc dân, điều hoà lượng cung cầu về vốn trong nền kinh tế. Hoạt
động tín dụng của các ngân hàng thương mại làm nhiệm vụ chuyển vốn từ
nơi thừa vốn đến nơi thiếu vốn, từ những nhà tiết kiệm sang nhà đầu tư,
phục vụ cho phát triển kinh tế. Do tập trung được vốn và điều hoà cung cầu
về vốn trong nền kinh tế, vì thế hoạt động tín dụng trung và dài hạn góp
phần đẩy nhanh quá trình tái sản xuất mở rộng, đầu tư phát triển kinh tế,
thực hiện chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế theo hướng công nghiệp-nông
nghiệp-dịch vụ. Các khoản cho vay của các tổ chức tín dụng cung cấp cho
các ngành được thực hiện theo cả chiều sâu và chiều rộng, đầu tư có trọng
điểm, trọng tâm, hình thành các ngành sản xuất mũi nhọn, đồng thời xây
dựng cơ cấu nền kinh tế hợp lý, khai thác triệt để các nguồn lực, tập trung
phục vụ sản xuất đạt hiệu quả cao. Nắm trong tay nguồn vốn lớn, lâu dài đã
thúc đẩy tiến độ phát triển các công trình, các dự án, từ đó tạo được hiệu
quả kinh tế bền vững lâu dài góp phần thúc đẩy tốc độ chuyển dịch cơ cấu
nền kinh tế theo định hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Bên cạnh đó,
các khoản cho vay trung và dài hạn có vai trò quan trọng trong việc tạo
nguồn vốn để thực hiện xây dựng mới, đồng thời góp phần hiện đại hoá
từng bước trong nền sản xuất trong nước, thúc đẩy sản xuất, nâng cao chất
lượng sản phẩm trong nước phục vụ xuất khẩu. Khi Hàng hoá có chất
lượng tốt thúc đẩy xuất khẩu, tăng thu ngoại tệ cho quốc gia, cải thiện cán
Sinh Viên: Phạm Quốc Công Lớp: Ngân Hàng 17
Chuyên Đề Thực Tập Tốt Nghiệp Khoa NH_TC
cân thương mại và cán cân thanh toán quốc tế, nhằm cải thiện cán cân của
quốc gia.
Tín dụng trung và dài hạn có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc
thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô của nhà nước. Vì thế NHNN luôn
quan tâm quản lý tín dụng trung và dài hạn bằng các quy định, chính sách
của mình. NHNN đóng vai trò là người cho vay cuối cùng trong nền kinh
tế, qua đó nhằm ổn định quá trình lưu thông tiền tệ. Thông qua tín dụng
trung và dài hạn, Chính Phủ cũng có thể quản lý và thực hiện các chương
trình kinh tế lớn một cách có hiệu quả. Thực tế cho thấy, các chương trình
kinh tế đều được cấp vốn thông qua hệ thống các NHTM. Ngoài ra, Chính
Phủ còn có thể hướng tín dụng trung và dài hạn vào các ngành kinh tế mũi
nhọn, nhằm phục vụ quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Tín dụng
trung và dài hạn đã trở thành cầu nối quan hệ kinh tế giữa các quốc gia với
nhau bằng các hoạt động tín dụng quốc tế như: Các hình thức tín dụng giữa
các Chính Phủ với nhau, giữa cá nhân với cá nhân, giữa các hình thức tài
trợ, cho vay không hoàn lại của Chính Phủ các nước trong khu vực và trên
thế giới.
1.1.3.3. Đối với hoạt động NH.
Đối với hoạt động của các NH trong cơ chế thị trường là hoạt động
trong môi trường cạnh tranh gay gắt, một mất một còn. Để có thể đứng
vững và phát triển trong môi trường cạnh tranh gay gắt này đòi hỏi mỗi tổ
chức tín dụng phải thực sự quan tâm đến chất lượng hoạt động kinh doanh
của chính mình. Trong những năm gần đây, nền kinh tế thị trường vận
động trong điều kiện nền kinh tế mở cùng với xu thế hội nhập kinh tế quốc
tế, nhu cầu mở rộng quy mô, trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, tiến
tới đổi mới toàn bộ nền kinh tế cho thấy nhu cầu vốn trung và dài hạn là vô
cùng cấp thiết và quan trọng. Nguồn vốn này tạo điều kiện cho các DN đổi
mới kỹ thuật, trang bị công nghệ, từ đó giúp doanh nghiệp tiếp cận phưong
pháp sản xuất mới để tạo ra hàng hoá mới nhằm phục vụ nhưu cầu ngày
Sinh Viên: Phạm Quốc Công Lớp: Ngân Hàng 17
Chuyên Đề Thực Tập Tốt Nghiệp Khoa NH_TC
càng cao của khách hàng. Đây là điều kiện để NH mở rộng phạm vi hoạt
động của mình từ đó khẳng định vai trò, vị trí của mình trong nền kinh tế
thị trường.
Hơn nữa, tín dụng trung và dài hạn còn là cách thức giải quyết nguồn
vốn huy động còn dư thừa tại mỗi NH, đồng thời cũng là cách NH gọi vốn
từ nền kinh tế đáp ứng nhu cầu về vốn cho các DN. Vì vậy, tín dụng trung
và dài hạn cần phải được tăng cường để các NH có thể tham gia vào sự
nghiệp công nghiệp, hoá hiện đại hoá đất nước thông qua nghiệp vụ tín
dụng này.
Không những thế hoạt động tín dụng trung và dài hạn còn là một
nghiệp vụ mang lại lợi ích cho NH. Bởi vì, tín dụng trung và dài hạn là
những khoản tín dụng có quy mô lớn, lãi suất cao, thời gian dài nên lãi thu
sẽ lớn và ổn định. Chuyển nghiệp vụ cho vay ngắn hạn sang cho vay trung
và dài hạn là sự biến chuyển có tính chiến lược của mỗi NH. Khi NH
không đa dạng hoá hoạt động cho vay, đa dạng hoá khách hàng, cũng như
thời hạn vay tiền thì NH không thể đứng vững trong nền kinh tế thị trường
bởi hoạt động này luôn luôn ẩn chứa rủi ro lớn. Quan hệ tín dụng trung và
dài hạn dẫn tới các hoạt động bảo lãnh do NH thực hiện. NH có thể thực
hiện bảo lãnh vay các NH khác, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh dự
thầu và các hình thức bảo lãnh khác cho khách hàng. Các hình thức bảo
lãnh này đem lại lợi nhuận cho NH. Chính vì vậy, nâng cao chất lượng tín
dụng trung và dài hạn đã và đang là những vấn đề mà các NH đều quan tâm
nhằm đem lại lợi nhuận cho NH cũng như sự phát triển bền vững trong xu
thế hội nhập và cạnh tranh gay gắt
1.2. Chất lượng tín dụng trung và dài hạn của NHTM trong nền
kinh tế thị trường.
1.2.1. Khái niệm chất lượng tín dụng trung và dài hạn.
Chất lượng tín dụng được hiểu chính là sự đáp ứng các yêu cầu hợp
lí của ngân hàng đối với khách hàng ,đồng thời đảm bảo sự tồn tại và phát
Sinh Viên: Phạm Quốc Công Lớp: Ngân Hàng 17
Chuyên Đề Thực Tập Tốt Nghiệp Khoa NH_TC
triển của ngân hàng. Nói cách khác, chất lượng tín dụng là một chỉ tiêu
tổng hợp phản ánh mức độ thích nghi của ngân hàng đối với sự phát triển
của môi trường bên ngoài, thể hịên sức mạnh cạnh tranh của ngân hàng
trong quá trình cạnh tranh để tồn tại và phát triển.
Nói cách khác, Chất lượng tín dụng chính là chất lượng các khoản
vay, được đánh giá là có chất lượng tốt khi món vay được khách hàng sử
dụng một cách có mục đích, phục vụ cho sản xuất kinh doanh một cách có
hiệu quả, đảm bảo khả năng trả nợ ngân hàng đúng hạn, bù đắp được chi
phí và có lợi nhuận trong hoạt động sản xuât kinh doanh của mình, có
nghĩa là ngân hàng vừa tạo ra hiệu quả kinh tế, vừa đem lại hiệu quả xã hội.
Dựa vào lợi ích của các bên tham gia, có thể xem xét khái niệm chất
lượng tín dụng trên ba khía cạnh:
- Đối với khách hàng: Tín dụng phát ra phải phù hợp với mục đích sử
dụng của khách hàng cũng như phù hợp với lãi suất hay kỳ hạn nợ. Thủ tục
đơn giản thu hút được khách hàng nhưng vẫn đảm bảo nguyên tắc tín dụng.
- Đối với sự phát triển kinh tế xã hội: Tín dụng phục vụ hoạt động
sản xuất và lưu thông hàng hoá, góp phần giải quyết việc làm, thúc đẩy quá
trình tích tụ vốn và tập trung sản xuất.
- Đối với NHTM: Phạm vi, mức độ và giới hạn tín dụng phải phù hợp
với thực lực của ngân hàng, đảm bảo nguyên tắc hoàn trả món vay đúng
hạn và phải có lãi, hạn chế đến mức thấp nhất rủi ro trong quá trình hoạt
động, mang lại lợi nhuận và đảm bảo khả năng thanh khoản cho ngân hàng.
1.2.2. Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng trung và dài hạn.
a. Xét trên quan điểm NH.
- Chỉ tiêu dư nợ.
Dư nợ trung và dài hạn
Tổng dư nợ tín dụng
Sinh Viên: Phạm Quốc Công Lớp: Ngân Hàng 17
Chuyên Đề Thực Tập Tốt Nghiệp Khoa NH_TC
Chỉ tiêu này cho thấy biến động tỷ trọng dư nợ trung và dài hạn
trong tổng dư nợ tín dụng của một NH qua các thời kỳ khác nhau. Có thể
nghiên cứu biến động quy mô, khối lượng tín dụng trung và dài hạn. Nếu
chỉ xem xét tử số, tỷ lệ này càng cao chứng tỏ mức độ phát triển ngày càng
có uy tín. Vì tín dụng trung và dài hạn có rất nhiều rủi ro tiềm ẩn, thế mà
dư nợ lại lớn chứng tỏ mối quan hệ khách hàng và NH là hoàn toàn tin cậy.
Chỉ tiêu này cũng có thể dùng so sánh giữa các NH khác nhau để
thấy được thế mạnh của NH này so với thế mạnh của NH khác trong hoạt
động tín dụng trung và dài hạn. Tuy nhiên, có thể coi đây như một chỉ tiêu
định lượng để có thể thấy rõ bản chất của tín dụng trung và dài hạn của một
NH.
- Chỉ tiêu sử dụng vốn.
Huy động vốn x 100%
Sử dụng vốn
Doanh số cho vay trung và dài hạn
Hoặc:
Nguồn vốn trung và dài hạn
NH có thể sử dụng nguồn vốn trung và dài hạn và một phần nguồn
vốn ngắn hạn để cho vay trung và dài hạn. Có thể hiểu đây là chỉ tiêu hệ
quả phán ánh hiệu quả tín dụng. Chỉ tiêu sử dụng vốn cho phép đánh giá
tính hiệu quả trong hoạt động tín dụng của một NH. Chỉ tiêu này càng lớn
chứng tỏ NH đã sử dụng một cách hiệu quả nguồn vốn huy động được từ
đó cho thấy hoạt động tín dụng của ngân hàng có chất lượng tốt.
- Chỉ tiêu nợ quá hạn.
Nợ quá hạn trung và dài hạn
Tổng nợ quá hạn
Sinh Viên: Phạm Quốc Công Lớp: Ngân Hàng 17
Chuyên Đề Thực Tập Tốt Nghiệp Khoa NH_TC
NH sẽ chuyển các khoản vay không trả được nợ khi đến hạn thành
các khoản nợ quá hạn. Nợ quá hạn có thể do các nguyên nhân chủ quan của
phía DN, do các nguyên nhân khách quan hoặc do xác định không hợp lý
thời hạn vay, phương thức hoàn trả hay một số yếu tố khác của hợp đồng.
Nợ quá hạn là điều không mong muốn của NH. Nó làm giảm hiệu quả cũng
như chất lượng tín dụng các ngân hàng cố gắng làm giảm tỷ lệ này.
Nợ quá hạn tín dụng trung dài hạn x 100%
Hoặc
Tổng dư nợ tín dụng trung- dài hạn
Chỉ tiêu này cho thấy trong 100% dư nợ tín dụng trung và dài hạn thì
có bao nhiêu % là nợ quá hạn.
Thể hiện tỷ lệ nợ không thanh toán đúng hạn trên tổng dư nợ. Các
NH có chỉ số này thấp chứng tỏ hiệu quả cũng như chất lượng tín dụng cao.
Ở các nước có nền tài chính phát triển, người ta quy định các NH có tỷ lệ
nợ quá hạn trên tổng dư nợ < 5% thì được coi là có chất lượng tín dụng tốt,
ngược lại nếu vượt quá 5% thì có dấu hiệu xấu, hoạt động của NH đó
không an toàn, nguy cơ rủi ro cao.
- Chỉ tiêu nợ khó đòi.
Nợ khó đòi trung và dài hạn

Tổng dư nợ trung và dài hạn
Rõ ràng tỷ lệ này càng cao, thì tín dụng có hiệu quả càng thấp. Nợ
khó đòi có nguy cơ làm giảm lợi nhuận của NH và nếu có quá nhiều nợ khó
đòi sẽ có thể làm cho NH phá sản. Các NH đang cố gắng giảm đến mức tối
đa các khoản nợ khó đòi để làm tăng hiệu quả tín dụng trung và dài hạn.
- Chỉ tiêu lợi nhuận.
Lợi nhuận từ tín dụng trung và dài hạn
Tổng dư nợ tín dụng trung và dài hạn
Sinh Viên: Phạm Quốc Công Lớp: Ngân Hàng 17
Chuyên Đề Thực Tập Tốt Nghiệp Khoa NH_TC
Lợi nhuận là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá chất lượng các khoản
tín dụng trung và dài hạn bởi xét cho cùng mục đích của NHTM là lợi
nhuận, hay ít nhất cũng thu đủ để bù đắp chi phí bỏ ra.
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lời của tín dụng trung và dài
hạn, nó nêu lên số lãi thu được từ 1 đồng dư nợ trung và dài hạn. Nên trong
điều kiện thị trường và rủi ro như nhau thì chỉ tiêu này càng lớn càng có lợi
cho NH. Đặc biệt với những NH chưa phát triển các dịch vụ NH thì thu từ
hoạt động tín dụng là chủ yếu.
Hay ta xét đến chỉ tiêu:
Lợi nhuận tín dụng trung và dài hạn
Tổng lợi nhuận
Chỉ tiêu này cho phép thấy rõ hơn vị trí của tín dụng trung và dài hạn
trong hoạt động của NH. Thu từ khoản tín dụng có hiệu quả cao sẽ đóng
góp lớn vào thu nhập NH. Nếu khoản tín dụng có hiệu quả không tốt thì
không thu được nợ gốc và lãi mà còn làm tăng chi phí của NH, nên sẽ kéo
theo lợi nhuận giảm tương ứng. Tuy nhiên, đối với một số dự án trung và
dài hạn theo kế hoạch Nhà nước thì chỉ tiêu này đôi khi tỏ ra không đầy đủ
để phản ánh hiệu quả cũng như chất lượng tín dụng.
Vì mục tiêu kinh tế và xã hội hay chiến lược phát triển những ngành
công nghiệp mũi nhọn, những ngành công nghiệp non trẻ, thì đôi khi mục
tiêu lợi nhuận không phải là hàng đầu. Lúc này lợi nhuận không phản ánh
thực chất của khoản tín dụng. Vì vậy, khi dùng các chỉ tiêu này để phân
tích chúng ta phải xem xét tổng hợp các mục tiêu của dự án vay vốn trung
và dài hạn.
b. Xét trên quan điểm khách hàng
Khách hàng là người trực tiếp quản lý, sử dụng vốn trung và dài hạn,
đối với khách hàng thì chất lượng tín dụng biểu hiện ở một số chỉ tiêu như
Sinh Viên: Phạm Quốc Công Lớp: Ngân Hàng 17

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét