Tạo hứng thú cho học sinh khi học Tập Làm Văn
Nguyen Manh Hung – tieu hoc Kim Chung – Hoai Duc
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong suốt thời gian day lớp, một vấn đề có tính nổi cộm đó là việc các em học sinh
từ lớp hai lớp năm thường rất ngán học mơn Tập Làm Văn. Tại sao vậy?
Để làm được một bài tập làm Văn học sinh phải huy động vốn kiến thức từ nhiều mặt
như: các hiểu biết về cuộc sống, tri thức về văn học, khoa học, xã hội. Học sinh lại còn phải
biết kết hợp hài hòa nhiều kĩ năng như: dùng từ đặt câu, dựng đoạn, tạo văn bản, kĩ năng
phân tích đề, tím ý, lập dàn ý. Do đó Tập Làm Văn mang tính tích cực thành tồn diên, tổng
hợp. Ngồi ra Tập Làm Văn mang còn đòi hỏi mang tính sáng tạo của Học sinh. Nhieu em
khơng biết bắt đầu từ đâu, phải nói và viết những gì, viết như thế nào! Chính vì vậy mà trong
các tiết học phân mơn này các em thường rất lúng túng có thì em viết lan man khơng đúng
trọng tâm đề u cầu, em thì ý nghèo nàn bài viết chỉ mang tính liệt kê khơ khan khơng biết
liên kết câu và lồng cảm xúc của người viết vào và khi nhận được bài trả thì với những con
số khơ khan 3,4 điểm chẳng nói lên được điều gì, có chăng chỉ là một vài câu nhận xét q
cụt ngủn: lạc đề, văn nghèo ý, khơng biết liên hết câu, bài viết lan man từ phí giáo viên mà
thơi. Điều đó đã làm cho các em ngày càng chán nản, lo sợ, mất tự tin, ngại nói và cuối cùng
là học yếu mơn này.
Thế thì ngun nhân do đâu? Làm thế nào để khắc phục tình trạng này, giúp các em
lấy lại tự tin học tốt mơn Tập Làm Văn? Đấy chính là lí do khiến tơi trăn trở.
1
Tạo hứng thú cho học sinh khi học Tập Làm Văn
Nguyen Manh Hung – tieu hoc Kim Chung – Hoai Duc
B. NỘI DUNG
I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CẦN LƯU Ý KHI TA DẠY TẬP LÀM VĂN:
1. Về phía học sinh:
Học sinh thường lười đọc sách báo hoặc tìm tòi sưu tầm những tài liệu phục vụ cho
kiến thức có liên quan đến mơn học dẫn đến tình trạng nghèo vốn từ, nghèo vốn sống để có
thể đưa bài văn vào viết.
Thiếu sự quan tâm, hỗ trợ đơng viên của phụ huynh.
Học sinh chỉ quan tâm đến những sở thích khơng phục vụ cho mơn học như : đọc
sách báo, truyện tranh nhảm nhí, chơi điện tử, xem phim ảnh khơng phù hợp với lứa tuổi nên
vốn văn học rất hạn chế.
2.Về phía giáo viên:
Giáo viên còn lúng túng khi vận dụng phương pháp dạy Tập Làm Văn:
Lập dàn bài rập khn dẫn đến bài làm của HS giống nhau về ý tưởng, nội dung.
Chưa rèn cho học sinh có thói quen đọc các bài văn mẫu, văn hay từ đó rút ra ý hay;
tai hại thay một số giáo viên còn cho học sinh học thuộc những bài văn mẫu điều đó đã làm
mất đi sự sáng tạo và óc tưởng tương phong phú của học sinh.
GV chưa linh động sáng tạo khi tổ chức các giờ dạy trên lớp, hình như tổ chức dạy
học đơn điệu: GV hỏi – HS trả lời, chỉ những em khá giỏi mới có thể tham gia trả lời còn
những học sinh trung bình hoặc yếu thì cảm thấy lo sợ nếu bị gọi đến tên! Từ đó làm cho HS
cảm thấy nhàm chán, mất hứng thu học tập.
Chưa xử lý kịp thời, chính xác các phát sinh dẫn đến tình trạng giáo viên đánh giá
chưa đúng ý kiến của học sinh.
Trên đây là một số những tồn tại mà tơi thường thấy ở nhiều GV khi day Tập Làm
Văn. Thế thì làm thế nào để lhắc phục hiện trạng trên. Cá nhân tơi sau nhiều lần thí nghiệm
tại lớp mình và nhân rộng một số lớp khác đã thấy rất khả thi.
* Sau đây là một số biện pháp giải quyết.
II.BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC – GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ:
1. Đối với Giáo viên:
2
Tạo hứng thú cho học sinh khi học Tập Làm Văn
Nguyen Manh Hung – tieu hoc Kim Chung – Hoai Duc
* Người Giáo viên có vai trò rất quan trọngvà ảnh hưởng vơ cùng to lớn đối với HS vì
họ là những người chủ đạo tổ chức việc học của HS, chính vì thế bản thân người Giáo viên
cần phải:
Ln học hỏi đồng nghiệp và tự học để nâng cáo trình độ bản thân và nâng cao tay
nghề.
Phải đầu tư thật kĩ bài dạy trước khi lên lớp.
Phải hết sức nhạy bén và ứng xử kịp thời các tình huống phát sinh khi giảng dạy
bằng cách chú ý lắng nghe ý kiến của HS khi biểu đề tim ra ưu khuyết điểm chính của học
sinh để nhận xét tổ chức sửa chữa , góp ý đánh giá.
GV cũng cần rến cho HS kĩ năng nhận xét bài bạn để từ đó nhận biết được những
chỗ hay hoặc chưa hay khi làm bài của mình. Ví dụ chỉ cần rõ bài ban hay là vì ban biết dùng
từ ngữ liên kết câu, ban biết sử dụng các hình ảnh so sánh, nhân hóa , bạn biết lồng cảm
xúc của mình vào bài viết và điều quan trọng là GV cần phải giúp HS chỉ rõ ra những từ
ngữ, câu hay cho lớp tham khảo. Điều này vừa động viên được những em làm bài hay, vừa
khơi dậy chop HS những ý tưởng, sáng tạo mới, HS cảm thấy có thêm nguồn động lựcđể thi
đua học tập, để bài của mình được cơ và các bạn đọc trước lớp như vậy. Bên cạnh đó những
hạn chế trong bài của HS, GV cũng cần tế nhị khi nhận xét. Tuyệt đối khơng dùng những
câu đại loại; ý nghéo nàn qu1, bài đủ ý, bài yếu hoặc em khơng có chuẩn bị bài sao Điều đó
sẽ làm cho các em như bị dội gáo nước lạnh vào mặt. Người GV cần thận trọng, trước tiên
cần tìm cho bằng được những ưu điểm trong bài làm của bé dù nó chỉ là nhỏ nhoi để tun
dương trước lớp rồi từ từ cho các em chỉnh sửa, bổ sung cho câu văn hay hơn, hồn chỉnh
hơn.
Người GV cần thay đổi nhiều hình thức học tập để tạo cơ hội cho nhiều HS cùng
được tham gia trình bày ý kiến của mình.
VD: Tổ chức học nhóm 4 để các em được nói cho nhau nghe ý kiến của mình ( vì có
những em rất ngại nói trước lớp và ngại nói cho GV nghe, trái lại khi cùng tham gia vói các
bạn mình thì các em rất tích cực ). Trong lúc này GV cần đến tận nơi, từng bàn để lắng nghe
3
Tạo hứng thú cho học sinh khi học Tập Làm Văn
Nguyen Manh Hung – tieu hoc Kim Chung – Hoai Duc
và gợi ý, định hướng cho các em xây dựng bài Được tham gia phát biểu, dần dần những em
nhút nhát sẽ cảm thấy mạnh dạn và tự tin hơn khi đứng nói trước lớp. Bên cạnh đó phương
tiện trực quan, các hình thức tổ chức trò chơi, thi đua cũng khơng kém phần lơi cuốn HS
học tập tích cực hơn.
Khi chấm bài GV cũng cần có sự nhận xét cụ thể về những lỗi sai của HS để định
hướng cho HS khắc phục trong lần sau.
Nên tập cho các em có thói quenhọc tập các ý hay trong bài văn mẫu, đoạn hay, bài
làm hay của bạn, từ sách báo tham khảo và được tạo thói quen ghi chép lại trong sổ tay văn
học của mình.
2. Các giải pháp cụ thể:
a. Dạy Tập làm văn qua giờ Luyện từ & câu.
- Các em ít tham gia phát biểu trong giờ học TLV là do khơng biết thể hiện ý tưởng
của mình bằng những câu như thế nào bởi lẽ vốn từ của các em q ít.
- Phạm vi vốn từ cần cung cấp cho học sinh ở tiểu học chủ yếu xoay quanh các chủ đề
về thế giớ xung quanh cơng việc của học sinh ở trường và ở nhà, tình cảm gia đình và vẻ đẹp
của thiên nhiên, đất nước, con người chúng ta cần làm giàu nhận thức, mở rơng tầm mắt
cho HS, giúp em nhận thấy vẻ đẹp của q hương, đất nước, con người, dạy các em biết u
q và trân trọng tình cảm đó.
- Ở chương trình SGK mới này khơng cung cấp sẵn vốn từ mới cho các em mà thơng
qua hệ thống bài tập học sinh phải cùng suy luận và cùng nhau tìm tòi, bổ sung và làm giàu
vống từ cho mình. Sau đó GV có thể cung cấp thêm tư liệu cho HS ( tư liệu cung capấ cần
thực tế và gần gũi nằm trong sự hiểu biết của các em ). Sau đó GV cũng cần giúp các em HS
làm rõ một số từ cần thiết, đó là nhiệm vụ sống còn trong sự phát triển ngơn ngữ của trẻ.
Việc dạy nghĩa từ được tiến hành trên tất cả các giờ học, bất cứ ở đâu cũng cung cấp từ ngữ
thì ở đó có dạy nghĩa của từ đòi hỏi GV phải nắm rõ nghĩa của từ và giải thích cho phù hợp
với ngữ cảnh, với nội dung bài học với hồn cảnh thực tế với đối tượng học sinh. Tuy nhiên
việc giải nghĩa hết tất cả các từ là khơng thể và khong cần thiết, GV phải có sự chọn lọc từ
để giải nghĩa. Những từ được chọn lọc phải là những từ trung tâm có vai trò quan trọng
trong hoạt động nói của HS trên một đề tài đã xác định, phải để cho các em giải nghĩa lấy
4
Tạo hứng thú cho học sinh khi học Tập Làm Văn
Nguyen Manh Hung – tieu hoc Kim Chung – Hoai Duc
( kích thích tư duy HS làm cho HS lúc nào cũng cảm thấy mới lạ – Tạo hứng thú cho HS
trong học tập ) cũng cần lưu ý rằng: từ nào GV nắm rõ nghĩa thì hãy giải thích còn nếu từ
nào chưa rõ nghĩa thì khơng nên giải thích vì giải thích qua loa, sơ xài sẽ làm cho HS chán
nản vì khơng đáp ứng nhu cầu tò mò của trẻ thậm chí làm cho trẻ hiểu sai lệch nghĩa của từ
và khi vận dụng vào bài viết của mình sẽ khơng hiệu quả, làm sai lệch ý muốn diễn đạt.
* GV có thể áp dụng một số phương pháp giải nghĩa của từ sau đây:
-
Giải nghĩa bằng trực quan: đưa ra các vật thật, hình ảnh, sơ đồ
-
Giải nghĩa thơng qua ngữ cảnh: GV cần được giải nghĩa vào câu
hồn chỉnh để làm rõ nghĩa từ đó.
-
Giải nghĩa bằng cách đối chiếu: GV so sánh nghĩa từ cần được làm
rõ nghĩa với từ khác.
VD: giải nghĩa từ “ ao” bằng cách so sánh với từ “hồ” -> ao nhỏ hơn hồ.
-
Giải nghĩa từ bằng cách tìm từ đồng nghĩa, trái nghĩa:
VD : Gần nghĩa với “lười biếng” là “biếng nhác”
Trái nghĩa với thơng minh là “đần độn”
-
Giải nghĩa từ bằng cách phân tích từ thành các từ tố ( tiếng )
VD : giải nghĩa từ “tâm sự” – (tâm:lòng ; sự:nỗi ) -> tâm sự:nỗi lòng của một người.
-
Giải nghĩa bằng định nghĩa: là biện pháp giải nghĩa bằng cách nêu
nội dung nghĩa, bằng một định nghĩa:
VD : Q hương là nơi sinh mình ra và lớn lên.
b. Dạy tập làm văn qua giờ tập đọc:
Trong giờ tập đọc, GV phải làm cho HS hiểu nghĩa một số từ cần thiết trong bài. Hiểu
được nghĩa đen, nghĩa bóng, nghĩa “văn chương” của từ ngữ, điều này sẽ có ích cho HS khi
vân dụng từ. GV có thể kết hợp với những bài tập điền từ thích hợp.
VD : chọn từ “náo nức” hay từ “rộn ràng” điền vào chỗ trống cho thích hợp:
Chúng em chào đón ngày khai trường.
Trong phần tìm hiểu bài, GV gợi ý khuyến khích HS trả lời câu hỏi theo ý mình, hạn
chế dần cách trả lời rập khn câu văn trong SGK. Nhất là đối với những bài học dãng thơ,
nên cho HS sinh diễn đạt thành lời văn hồn chỉnh ( nếu đề khơng u cầu tìm câu thơ ).
5
Tạo hứng thú cho học sinh khi học Tập Làm Văn
Nguyen Manh Hung – tieu hoc Kim Chung – Hoai Duc
Điều này tạo điều kiện cho HS vận dụng tối đa vốn từ sẵn có của mình, đồng thời giúp GV
lắm được lượng từ có được ở mỗi HS để từ đó có biện pháp thích hợp cung cấp từ mới cho
các em.
c. Dạy Tập Làm Văn qua giờ Chính Tả
Để viết đúng chính tả HS phải nắm được nghĩa của từ.
Học sinh phải phân biệt được nghĩa của từ “lượng” và “lượn”
-
Lượn : bay lượn, lượn lờ
-
Lượng : trọng lượng, khối lượng, chất lượng
Giáo viên nên vận dụng những bài tập để mở rọng vốn từ cho HS. Ví dụ bài tập ghép
từ.
VD : Tìm từ ghép với “ mến” : mến u, mến thương, thân mến
Trong những giờ dạy Chính Tả so sánh là lúc GV khai thác và cung cấp thêm nguồn
từ mới cho HS. Đối với dạng bài này, HS càng phải nắm rõ nghĩa của từ để phân biệt các
từ phát âm sai của địa phương so với chuẩn.
VD : Người Hà Nội phát âm thiếu chính xác các cặp từ có âm đầu là l/n ; ch/tr;
d/gi/r
d. Dạy tập làm văn qua giờ kể chuyện:
Khi nghe chuyện HS phải hiểu truyện, muốn thế trước hết HS phải hiểu từ. Chỉ cố
diễn đạt câu truyện qua giọng nói, điệu bộ khơng thì chưa đủ mà GV cần cho HS nêu ra
những từ ngữcác em chưa hiểu và hãy để các em đi tìm câu giải đáp cho chính mình, tất
nhiên phải có sự gợi ý của GV. Nếu là những từ có nghĩa khơng rõ ràng GV có thể đưa vào
ngữ cảnh để từ đó HS có thể nắm được nghĩa của từ đó.
VD : Trong truyện “ Lời hứa của sâu róm” ( truyện đọc lớp 3 ), các em cần hiểu nghĩa
của các từ : sâu róm, kén, sửng sốt. GV có thể giải thích nghĩa của từ “ sửng sốt” bằng
cách đưa ra một câu trong đó có từ “ sửng sốt”.
- Tơi vơ cùng sửng sốt về kết quả học tập của cậu ấy.
Từ VD này, HS sẽ dễ hiểu hơn nghĩa của từ “sửng sốt”: hết sức ngạc nhiên, lấy làm
lạ
e. Vận dụng các phương pháp theo hướng chủ động khi dạy Tập Làm văn:
6
Tạo hứng thú cho học sinh khi học Tập Làm Văn
Nguyen Manh Hung – tieu hoc Kim Chung – Hoai Duc
- Sử dụng mạng ý nghĩa trong viết đoạn: Học sinh sẽ tìm ý dưới dạng sơ đồ hình
tròn. Mạng ý nghĩa thường dùng trong giai đoạn trước khi viết văn. Những từ ngữ học sinh
tìm được thường tập trung ở phần thân bài nên đây là một lợi điểm cho việc phát triển ý từ
thành đoạn văn hồn chỉnh.
Ví dụ: Lá rập rình lay động
Cao lớn
Từng cánh Thân sần sùi bạc
hoa rực lửa phếch theo tháng năm
- Sử dụng sơ đồ khung trong viết đoạn : Thường được dùng trong miêu tả cây cối
(tả bộphận hay tả từng giai đoạn phát triển). Sơ đồ khung sẽ giúp cho học sinh dễ nhận ra
cấu trúc của mỗi kiểu bài.
- Dùng thẻ từ phối hợp với tranh ảnh : Thường được sử dụng khi học sinh lựa
chọn những chủ đề chưa tận mắt thấy hay chưa từng được quan sát.
- Trong bài “ Cấu tạo bài văn miêu tả đồ vật” thay vì trả lời đơn thuần các câu hỏi:
+ Tìm các phần mở bài, kết bài. Mỗi phần ấy nói điều gì?
+ Phần thân bài tả cái cối theo trình tự nào?
Giáo viên sẽ dùng những thẻ từ cho HS ghi vào đó những từ chỉ đặc điểm của từng
phần trước khi nêu ý nghĩa của các phần đó.
- Giáo viên có thể kết hợp sơ đồ khung để xác định bài văn miêu tả đồ vật.
- Chúng ta thường đặt câu hỏi “Vì sao lại có những bài văn giống nhau?”ở đây chúng
ta khơng bàn đến vấn đề GV bắt học sinh học thuộc mà chúng ta sẽ phân tích theo hai sơ đồ
dưới đây :
+ GV nêu từ
Gợi ý đặt câu mẫu
Sản phẩm của học sinh đa phần sẽ giống nhau.
+ Học sinh tìm từ
Đặt nhiều câu khác nhau
Sẽ có nhiều đoạn văn khác nhau.
- So sánh hai cách làm trên, chúng ta sẽ dễ dàng nhận thấy việc làm mẫu của giáo
viên sẽ làm cho học sinh dễ hiểu nhầm đó là mẫu hay nhất. Tuy nhiên, khơng vì thế mà giáo
viên khơng làm mẫu, do đó phải u cầu và nhắc nhở học sinh khi tả chọn mẫu câu, đề tài
khác giáo viên.
7
Cây
phượng
Tạo hứng thú cho học sinh khi học Tập Làm Văn
Nguyen Manh Hung – tieu hoc Kim Chung – Hoai Duc
- Giáo viên cần tập cho học sinh thí quen lập dàn ý trước khi viết bài và cần phải viết
nháp trước, sau đó chỉnh sửa trước khi viết bài hồn chỉnh. Trên thực tế, vì sợ thiếu giờ nên
chính giáo viên khơng u cầu học sinh làm nháp. Điều này dễ làm mất khả năng tư duy và
khả năng nhớ của trẻ. Trong q trình làm bài nháp, giáo viên cần ln nhắc học sinh chú
trọng ý tưởng mới nảy sinh khơng q tập trung vào lỗi chính tả, ngữ pháp ở giai đoạn này.
- Q trình chỉnh sửa nên tạo điều kiện cho học sinh làm theo nhóm đơi (hoặc có thể
làm theo trình độ của học sinh ) để các em phát huy hết khả năng nhận xét, cũng như có
điều kiện để giúp đỡ và học tập lẫn nhau. Học sinh được đọc nhiều đoạn văn khác, điều này
cũng sẽ làm nảy sinh ý tưởng mới cho các em khi được lắng nghe và đọc bài của bạn. Giai
đoạn này cần được trau dồi về ngữ pháp và trình bày bài viết để học sinh có thể lưu trữ sản
phẩm của mình.
- Việc tổ chức các phong trào hỗ trợ cho việc viết văn như dành một góc học tập để
các em có thể trưng bày những sản phẩm của mình (những bài văn hay) để cả lớp cùng tham
khảo.
- Rèn cho học sinh kỹ năng nó trong Tập Làm Văn rất quan trọng. Giáo viên cần
khuyến khích HS “tự do nói”, nghĩ được điều gì thoải mái diễn đạt ra điều ấy, điều này giúp
HS mạnh dạn phát biểu đưa ra ý kiến của mình. Thường thì các em mang nặng tâm lý đứng
lên lỡ nói sai sẽ bị cơ mắng hoặc các bạn chê cười. Để giải tỏa gánh nặng tâm lý này, tơi
thường để các em tự do đưa ra ý kiến của mình dù cho ý kiến đó chưa sát với u cầu của
câu hỏi đặt ra. Đừng bao giờ phủ nhận sạch trơn những suy nghĩ của các em mà nên động
viên để các em tự tin hơn khi phát biểu.
Việc thực hiện “Sổ tay văn học” hay tạo “Thư viện nhỏ cho lớp” là rất cần và thiết
thực. Nó còn giúp các em hạn chế việc mắc lỗi chính tả khi làm bài. Có nhiều giáo viên đặt
ra câu hỏi tại sao có những em khi viết chính tả khơng hề mắc lỗi nào nhưng khi viết bài văn
lại sai nhiều lỗi như thế ? Ngun nhân chính là do khi viết bài văn các em khơng được nghe
cơ giáo phát âm từng tiếng như khi viết chính tả mà bản thân các em phải vận dụng tư duy để
diễn đạt lại thành ý (Đối với lứa tuổi của các em, nhất là HS lớp 2, 3 cùng một lúc các em
khó có thể tập trung làm tốt được nhiều việc), do đó, đa số các em thường viết theo những
ngơn ngữ phát âm giao tiếp hằng ngày, hoặc cũng có khi do viết vội, viết câu dài gặp những
8
Tạo hứng thú cho học sinh khi học Tập Làm Văn
Nguyen Manh Hung – tieu hoc Kim Chung – Hoai Duc
từ khó thì lười đánh vần từ đó viết sai chính tả. Nếu được chuẩn bị bài trước ở nhà (các em
có thời gian kiểm tra chính tả, khơng bị khống chế thời gian làm bài) HS sẽ tự tin hơn và đỡ
sai chính tả hơn khi làm bài.
* Để hỗ trợ cho HS, chúng ta cũng cần cung cấp thêm cho các em một số từ (theo
dạng chủ đề đang học) để các em tham khảo.
VD1: Đối với dạng văn tả người
- Tả vóc dáng : cao, lùn, gầy, mảnh mai, bụ bẫm, lụ khụ, yểu điệu …
- Tả khn mặt, diện mạo : bầu bỉnh, rám nắng, xanh xao, trái xoan, hốc hác, đần
độn, ủ rủ, cau có …
- Tả làn da : nhăn nheo, xanh như tàu lá chuối, trắng trẻo, chai cứng, mốc thếch, da
bánh mật…
- Tả mắt : đen huyền, đen láy, bồ câu, ti hí, mắt ốc bươu…
VD2: Đối với dạng tả cây
- Thân cây: sần sùi, ram ráp, trơn lùi. Đầy gai …
- Lá cây: xanh thẳm, xanh mượt, xanh …
* Nói tóm lại, muốn giúp cho học sinh có được vốn từ tích cực, bền vững phải luyện
cho các em vận dụng từ ngữ vào những dạng bài tn theo ngun tắc xác định và phải vận
dụng thường xun trong cuộc sống.
3. Đối với học sinh:
- Hết sức chú ý nghe giảng, có sự chuẩn bị bài trước khi đến lớp.
- Cụ thể hố những ý nghĩ chung của bạn thành ý riêng của mình bằng cách tự lập
một hệ thống dàn bài riêng của mình phù hợp với u cầu của đề.
- Mạnh dạn, tự tin phát biểu ý kiến để các bạn xây dựng cho mình.
- Tập cho mình có thói quen đọc sách báo hàng ngày để cập nhật thơng tin bổ sung
cho bài làm của mình thêm sâu sắc hơn. Tuyệt đối tránh máy móc rập khn theo bài mẫu.
9
Tạo hứng thú cho học sinh khi học Tập Làm Văn
Nguyen Manh Hung – tieu hoc Kim Chung – Hoai Duc
C. KẾT LUẬN
Chúng ta có thể dạy tốt – học tốt mơn Tập Làm Văn khi có sự phối hợp đồng bộ
Giữa thầy và trò với những u cầu cần đạt đã nêu trên. Cũng cần lưu ý rằng, dạy các em
viết văn khơng có nghĩa là dạy các em trở thành nhà văn mà là dạy sao để các em có thể viết
được những điều mình nghĩ đến và những điều mình muốn nói một cách mạch lạc, gãy gọn,
hay nói cách khác là rèn cho HS kỹ năng xâu kết những ý nghĩ thành một đoạn văn chặt chẽ
thể hiện rõ ý mình muốn diễn đạt, đây là một cơng việc khá khó khăn, tuy nhiên Bác Hồ đã
từng nói:
“Khơng có việc gì khó
Chỉ sợ lòng khơng bền …”
* Sau cùng, tơi xin kết thúc bài viết của mình bằng một câu nói của giáo sư Roach
Van Allen để thay cho lời kết :
“Em có thể viết được những gì em nghĩ
Em có viết được những gì em nói
Em có thể đọc được những gì em viết và em có đọc được
những gì người khác viết cho em”
Đó chính là dạy cho học sinh cách làm Tập Làm Văn.
10
Tạo hứng thú cho học sinh khi học Tập Làm Văn
Nguyen Manh Hung – tieu hoc Kim Chung – Hoai Duc
D. KẾT QUẢ
Trong năm học vừa qua, khi vận dụng những phương pháp trên vào giảng dạy cho
HS, tơi nhận thấy rất khả quan khi dạy phân mơn này. Thành tích học tập của các em cao
hơn, chất lượng hơn và học sinh học tập cũng tích cực hơn.
Bảng thống kê dưới đây đã chứng minh được điều đó:
Điểm
Thời gian
Tổng
số HS
Giỏi (9 – 10) Khá (7 – 8 ) TB (5 – 6) Dưới TB (1-4)
Đầu năm 38 3 5 20 10
Giữa HKI 38 6 12 13 7
Cuối HKI 38 9 15 12 2
Giữa KHII 38 15 15 08 0
Như vậy, cho đến thời điểm này các em đã biết cách trình bày bài văn hợp lí về bố
cục, diễn đạt ý trọn vẹn, câu văn giàu hình ảnh. Một số các em yếu cũng đã diễn đạt khá tốt
ý của mình. Tuy còn một số bài viết còn mang tính liệt kê nhưng bước đầu các em đã biết
11
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét