Thứ Năm, 6 tháng 3, 2014

Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý kinh doanh dịch vụ của Cty CP TM & DL Duyên Hải

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
chiến trường, muốn giành được chiến thắng trong cuộc cạnh tranh đòi hỏi
phải có những điều kiện nhất định. Đó là tiềm lực hay còn gọi là sức mạnh
của doanh nghiệp ( bao gồm cả sức mạnh về tài chính lẫn sức mạnh về nhân
sự ) , tri thức, thông tin và nhất là những bí mật, thủ thuật trong kinh doanh .
Tiềm lực của doanh nghiệp là vốn của doanh nghiệp , công nghệ và lực
lượng của cán bộ công nhân viên.
Vốn ở đây bao gồm cả vốn hữu hình và vốn vô hình. Vốn hữu hình là
toàn bộ tài sản cơ sở vật chất kỹ thuật của doanh nghiệp. Vốn vô hình là danh
tiếng, uy tín của doanh nghiệp, đặc biệt trong lĩnh vực du lịch và khách sạn,
danh tiếng và uy tín của doanh nghiệp đóng một vai trò quyết định trong hoạt
động kinh doanh. Nếu trong các doanh nghiệp sản xuất, vốn hữu hình được
coi là quan trọng thì các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ, vốn vô hình đóng
vai trò quyết định .
Công nghệ sản xuất – kinh doanh : trong giai đoạn hiện nay, công nghệ
đóng vai trò quyết định đến hiệu quả sản xuất kinh doanh. Một doanh nghiệp
có công nghệ tiên tiến không chỉ nâng cao năng suất lao động mà còn nâng
cao chất lượng sản phẩm và thông qua đó nâng cao danh tiếng và uy tín của
doanh nghiệp .
Lực lượng cán bộ công nhân viên đóng vai trò trong việc tổ chức các
hoạt động kinh doanh trong các doanh nghiệp, đồng thời quyết định sự tồn tại
cũng như phát triển trong hiện tại và tương lai của doanh nghiệp . Trong lĩnh
vực dịch vụ và du lịch khách sạn, vai trò của con người được coi là được xem
là nguồn lực vô giá, nhưng để có nhân viên trình độ nghiệp vụ cao, kỹ năng
kỹ xảo tốt, có khả năng giao tiếp với khách hàng thì đòi hỏi phải có sự rèn
luyện và bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn thường xuyên .
Ngoài những nhân tố quan trọng trên thì đặc biệt tri thức của nhà lãnh
đạo là nhân tố quyết định nhất. Tri thức của nhà lãnh đạo là khả năng nhận
biết các qui luật đang diễn ra trên mọi mặt hoạt động sản xuất kinh doanh.
Cũng như người tướng ngoài chiến trường, để dành chiến thắng phải biết
5
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
được rằng “Đất giao nhau rộng vô cùng” ,thì chiến trường không có bá chủ.
Tinh ở tính toán nhưng cần phải suy nghĩ hết sức cẩn thận trong kinh doanh.
Biết đấ thì thắng, chọn đất thì phát tài. Lấy kẻ nghỉ ngơI đánh kẻ mệt mỏi, lấy
lãI bù lỗ. Tuỳ địch mà đánh, tuỳ tiêu thụ mà sản xuất. Định hướng tuỳ theo
địch, định hướng tuỳ nhu cầu…”, có như vậy người quản lý mới dành được
hiệu quả sản xuất kinh doanh cao .
Tóm lại Quản lý là hết sức cần thiết và là điều kiện cần đối với bất cứ
doanh nghiệp nào, bất kỳ tổ chức nào. Nhưng quản lý trong doanh nghiệp
phải thực sự tốt, hiệu quả thì tổ chức đó mới có thể hoạt động lâu dài và có lợi
nhuận cả về vật chất lẫn tinh thần. Nếu công tác quản lý lỏng lẻo, yếu kém thì
hoạt động của doanh nghiệp chắc chắn sẽ không bền và hoạt động sản xuất
kinh doanh ngày một đi xuống .
Các nhà kinh doanh Nhật Bản từ những năm 1960 và 1970 đã phát hiện
ra những giá trị của binh pháp cổ Trung Hoa và đưa vào hàng sách giáo khoa
hạng nhất trong kinh doanh thương mại. Họ coi đây là những tư tưởng vô tận
cần nghiên cứu để giành thắng lợi trong thương trường. Đây cũng là nghệ
thuật quản trị kinh doanh. Quản trị kinh doanh là việc sử dụng các phương
pháp, các tiềm năng, các cơ hội kinh doanh một cách khôn khéo và tài tình để
đạt được các mục tiêu kinh doanh đặt ra một cách tốt nhất
3. Nhà quản lý trong doanh nghiệp :
Bất cứ doanh nghiệp nào cũng cần một hoặc một ban lãnh đạo tổ chức.
Doanh nghiệp hoạt động tốt hay không, hiệu quả hay không , nhân sự trong
đó làm việc ra làm sao đều phụ thuộc phần lớn vào người quản lý tổ chức .
Một doanh nghiệp lớn hay nhỏ đều có một số người quản lý với các cấp bậc
khác nhau từ thấp đến cao , từ quản lý lĩnh vực đơn giản đến phức tạp ,
Nhưng không phải ai cũng có thể từ có vốn kiến thức để lãnh đạo tổ chức,
quản lý chặt chẽ công việc mà họ đòi hỏi phải luôn tìm cách trang bị cho
mình những vốn kiến thức chuyên môn sâu rộng và hiệu quả .
Đó là để trở thành một nhà quản lý giỏi thì cần có những yêu cầu sau :
6
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
- Nhà quản lý phải hiểu biết chuyên môn một cách sâu sắc. Chuyên
môn ở đây không chỉ từ lý thuyết mà còn từ kinh nghiệm thực tế. Chuyên
môn ở đây còn là mưu lược kinh doanh cùng với việc tính toán chi ly để đạt
được hiệu quả tốt nhất trong quá trình kinh doanh .
- Nhà quản lý phải biết thêm bạn bớt thù. Trong Chiến quốc sách có
viết : “Đánh vào ngoại giao để thắng, kết giao để thêm lợi”. Hoạt động ngoại
giao là xu thế quan hệ các lợi ích giữa các quốc gia, các tập đoàn và các
doanh nghiệp khác nhau. Qua việc tác động vào ngoại giao có thể nảy sinh 3
tác dụng : tăng cường liên minh cho mình, kéo bạn bè của địch thành bạn bè
của mình hoặc thành người trung gian; gây nên sự lục đục hoặc va chạm nội
bộ địch. Như vậy làm địch suy yếu và mình lớn mạnh. Trong kinh tế nên
dùng là kết giao, nó bao hàm ýy nghĩa giao thiệp rộng rãi, thêm bạn bớt thù.
Bạn bè đông sẽ nhận được nhiều sự giúp đỡ, nhiều thông tin.
- Các nhà quản lý phải biết làm ít lợi nhiều. Các nhà quân sự có nguyên
tắc “tùy cơ ứng biến” , trong kinh doanh cần thực hiện nguyên tắc “lựa kẽ hở
kiếm lời”. Người giỏi tùy cơ ứng biến trên thương trường nhất định sẽ biết
phát hiện những cơ hội tốt, nằm đúng mục tiêu và kiếm lợi từ trong cơ hội
này. Trong “lựa kẽ hở để kiếm lời” thì kiếm lời là lợi ích, lựa kẽ hở là thủ
đoạn. Thủ đoạn mà được giải quyết thì mục đích cũng đạt được. Theo kinh
nghiệm của các thương gia có tiếng, có 3 điểm cần lưu ý :
Thứ nhất là chờ thời : căn cứ sự biến đổi của thị trường, sự phân tích
lôgic để tận dụng một cơ hội nào đó sẽ đến theo nhận định từ trước, phải có sự
chuẩn bị đầy đủ và khi thời cơ đến là thực hiện tốt việc thu lợi nhuận .
Thứ hai là tìm thời : Nhà kinh doanh phải trăm phương ngàn kế đi tìm
và chớp thời cơ, bởi đã là thời cơ thì chỉ đếnn một lần vào một thời điểm nào
đó, thời cơ trong giới kinh doanh là tiền, tìm được thời cơ là tìm được vận hội
kinh doanh, từ đó tìm thấy tiền ở trong đó .
7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Thứ ba là cơ hội : cơ hội có nhiều lúc tỏ ra hết sức thần bí, có lúc lại rất
lộ liễu. Những cơ hội lộ liễu nhiều khi xuất hiện, người nhận biết được thời cơ
nếu biết làm cách nào tận dụng, lợi dụng được thì sẽ thu được lợi nhuận cao .
Thị trường kinh doanh luôn mở rộng, môi trường kinh doanh ngày càng
phức tạp hơn, nhiều khó khăn mà chúng ta có thể không lường trước được,
xuất hiện sự thay đổi nhanh chóng trong trào lưu sản xuất hàng hoá luôn xuất
hiện những cơ hội, thời cơ dưới mọi hình thức, người có trí tuệ, giỏi tận dụng
thời cơ sẽ thu được thành công lớn trong kinh doanh .
- Các nhà quản lý phải biết chuẩn bị chu đáo trong kinh doanh. Trong
các chính sách kinh doanh thường nhắc đến một nguyên là : “phải” cân nhắc
cả lợi hại, lo toan cả lỗ lãi” . Lợi hay hại có thể cùng đến một lúc với nhà
quản lý. Người đồng thời phải biết cân nhắc cả lợi cả hại sẽ khiến cho Doanh
nghiệp không ngừng phát triển. Mục đích cuối cùng của các nhà kinh doanh
là lợi nhuận, vì thế họ phải phát huy đầy dủ điều kiện có lợi, khắc phục các
điều kiện bất lợi, đồng thời giữa hai thái cực lợi-hại phải tìm ra con đường
thuận lợi nhất để đi lên .
Kinh nghiệm kinh doanh thành công đã chỉ ra rằng :
Thứ nhất là đừng vay nợ nhiều. Mọi người thường nghĩ trong kinh
doanh cần phải đi vay nợ và như vậy cũng tồn tại hai khả năng thành công
hay thất bại. Nếu mình thành công thì sẽ trả nợ được, còn nếu thất bại thì lấy
gì mà trả nợ được.
Thứ hai là xem cờ ba nước. Những sản phẩm, dịch vụ bán trên thị
trường không bao giờ có thịnh mà không có suy. Người ta thường gọi là vòng
đời của sản phẩm. Nhà quản lý muốn chiếm lĩnh được thị trường liên tục và
lâu dài như mọi người đánh cờ giỏi, phải tính được ba nước: tay có cái để
làm, trong túi có đựng, trong lòng có cái để nghĩ. Cái để làm trong tay là sản
phẩm đang bán chạy trên thị trường, trong túi có cái đựng là sản phẩm đã định
hình và sẽ tiêu thụ trên thị trường trong tương lai, trong lòng có cái để nghĩ là
8
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
mặt hàng căn cứ vào sự phát triển của thị trường và sự đổi mới của sản phẩm
đang được tiến hành nghiên cứu thiết kế .
Thứ ba là sự phát triển gấp chão, tức là từng bước phát triển từ nhỏ
đến lớn, từ mỏng đến dày về mặt qui mô cũng như về vốn. Tuy tốc độ phát
triển có thể chậm một chút nhưng có nền móng vững chắc độ thành công cao,
độ thất bại do nguy hiểm, do thất bại ít .
II. Những vấn đề lý luận chung về quản lý doanh nghiệp
hoạt động kinh doanh Khách sạn :
1. Khái niệm Khách sạn
Thuật ngữ: “khách sạn” đã được nhiều người tiêu dùng biết đến từ lâu,
nhưng qua thời gian cùng với sự phát triển của ngành khách sạn thì tồn tại
nhiều quan điểm khác nhau về khách sạn mặc dù bản chất thì không mấy khác
nhau. Trước đây, khách sạn được coi một cách đơn giản “ chỉ là một nơi nghỉ
qua đêm ” hoặc “ khách sạn là một loại hình thức cơ sở lưu trú phổ biến ”
Ngày nay, các khách sạn còn cung cấp các dịch vụ ăn uống, các tiện nghi
phục vụ hội nghị cũng như là kỳ nghỉ trọn vẹn và chuyến đi du lịch giải trí
trọn gói. Có người cho rằng: “ khách sạn là một thành phố trong một thành
phố ” Hoặc “ khách sạn là nơi đầy nhộn nhịp ” Theo cánh hiểu đó thì
“khách sạn là một cơ sở lưu trú phổ biến, nó là nơi sản xuất, bán và phục vụ
các loại hàng hoá và dịch vụ nhằm đáp ứng các nhu cầu phù hợp với mục đích
của khách hàng ”. Cùng với sự phát triển của du lịch, trên thế giới và ngay cả
Việt Nam “khách sạn “được hiểu trên nhiều góc độ khác nhau: “khách sạn là
một cơ sở phục vụ lưu trú phổ biến đối với mọi khách du lịch.Chúng sản xuất
bán và trao cho khách du lịch những dịch vụ, hàng hoá nhằm đáp ứng nhu
cầu của họ về chỗ ngủ, nghỉ ngơi, vui chơi giải trí, chữa bệnh phù hợp với
mục đích động cơ đi du lịch và lưu trú . Số lượng và chất lượng dịch vụ mà
9
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
khách sạn phục vụ khách xác định, loại hình khách sạn, mục đích của việc
kinh doanh là thu lãi”.
Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có được một định nghĩa chính xác và
đầy đủ nhất về khách sạn. Ta có thể hiểu theo cách khác: “ Khách sạn là cơ sở
kinh doanh, phục vụ khách du lịch lưu trú trong một thời gian nhất định đáp
ứng nhu cầu về các mặt: ăn, uống, nghỉ ngơi, giải trí và các dịch vụ bổ sung
cần thiết khác .
(Nguồn : tài liệu “ Quản lý khách sạn ”- Hiệp hội du lịch TP HCM )
2. Đặc điểm doanh nghiệp hoạt động kinh doanh khách sạn
2.1. Hoạt động kinh doanh khách sạn
Kinh doanh khách sạn là một hình thức kinh doanh dịch vụ nhằm đáp
ứng các nhu cầu về nghỉ ngơi, ăn uống, giải trí, vui chơi và các nhu cầu khác
của khách du lịch trong thời gian lưu trú tạm thời tại các điểm du lịch và
mang lại lợi ích kinh tế cho cơ sở kinh doanh . “Hoạt động kinh doanh khách
sạn là hoạt động kinh doanh các dịch vụ cho thuê buồng ngủ, ăn uống và các
hoạt động bổ sung khác nhằm thỏa mãn nhu cầu khách về nghỉ ngơi với mục
đích thu lợi nhuận ”
(Nguồn : Sách “ Quản lý khách sạn ”- Hiệp hội du lịch TP HCM )
Theo định nghĩa đó thì hoạt động kinh doanh khách sạn cũng như mọi
hoạt động kinh doanh khác. Do đó mục tiêu cuối cùng là đạt lợi thuận tối đa
trên cơ sở thỏa mãn tối đa nhu cầu của khách hàng.
Kinh doanh khách sạn có 3 chức năng chủ yếu:
- Chức năng sản xuất: giải quyết 3 vấn đề then chốt: sản xuất cái gì? sản
xuất cho ai? và sản xuất như thế nào? trực tiếp tạo ra sản phẩm dưới dạng vật
chất.
- Chức năng lưu thông: khách sạn đóng vai trò là trung gian trong việc
bán các sản phẩm do các cơ sở cung cấp đem lại, hoặc bán các sản phẩm dịch
vụ do khách sạn tạo ra tới khách.
10
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
- Chức năng tiêu thụ sản phẩm: hoạt động kinh doanh khách sạn còn có
tư cách là trung tâm bán sản phẩm cho các nhà cung cấp, đồng thời bán sản
phẩm của mình.
Mỗi doanh nghiệp khách sạn thường thực hiện 3 chức năng trên, các
chức năng xảy ra đồng thời và có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, mỗi chức
năng có vị trí và vai trò riêng quyết định đến sự tồn tại và phát triển của doanh
nghiệp .
2.2 Đặc điểm hoạt động kinh doanh khách sạn
Hoạt động kinh doanh khách sạn có những đặc điểm khác biệt sau:
Kinh doanh khách sạn phụ thuộc hay bị chi phối của tài nguyên du lịch,
các trung tâm văn hóa, kinh tế, chính trị lớn. Ở đâu có tài nguyên du lịch thì ở
đó có khách sạn tồn tại, sức hấp dẫn và giá trị của tài nguyên quyết định thứ
hạng, chất lượng sản phẩm của khách sạn. Do vậy hầu hết các khách sạn được
xây dựng ở các điểm du lịch hoặc các trung tâm thương mại lớn. Vì vậy ngay
từ khi xây dựng khách sạn cần nghiên cứu rõ đặc điểm của tài nguyên du lịch
để quyết định quy mô và sản phẩm đặc trưng cho khách sạn mình.
Hoạt động kinh doanh khách sạn đòi hỏi dung lượng vốn đầu tư ban đầu
và đầu tư xây dựng cơ bản cao. Đặc điểm này là do một số nguyên nhân sau :
Phải thỏa mãn nhu cầu đặc biệt, cao cấp, tổng hợp của khách hàng đòi
hỏi chất lượng dịch vụ phải cao. Do đó trang thiết bị tiện nghi trong khách sạn
phải đầy đủ, hiện đại, an toàn cao.
Khi xây dựng khách sạn đòi hỏi phải có tính đồng bộ giữa các bộ phận
về mặt quy mô, kiến trúc và thẩm mỹ. Điều này cũng làm vốn đầu tư ban đầu
lớn do phải xây dựng cùng một lúc.
Hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ cho hoạt động kinh doanh khách sạn
như đường xá, hệ thống cấp thoát nước, điện, viễn thông phải hoàn chỉnh
đáp ứng nhu cầu của khách du lịch. Muốn vậy phải có nhiều chi phí.
Kinh doanh khách sạn đòi hỏi số lượng lớn lao động sống, sở dĩ là vì :
11
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Lao động trong khách sạn đòi hỏi tính chuyên môn cao, khả năng thay
thế nhân viên giữa các bộ phận kém. Muốn cho chất lượng dịch vụ cao thì
mỗi bộ phận phải có đủ nhân viên. Mặt khác trong lĩnh vực dịch vụ bao giờ
cũng cần lượng lao động trực tiếp nhân viên nhiều hơn trong sản xuất.
Thời gian hoạt động là 24/24 và hoạt động theo ca, thêm vào đó nhu cầu
của khách hàng là cao cấp và tổng hợp do đó đòi hỏi chất lượng dịch vụ cao.
Hoạt động kinh doanh khách sạn có tính chu kỳ nó chịu tác động của quy
luật cao, đặc biệt là tính thời vụ trong du lịch.
Mục tiêu của kinh doanh khách sạn là thu hút được nhiều khách và đạt
công xuất sử dụng phòng cao nhất có thể trong một thời gian nhất định . Thoả
mãn mức độ cao nhất mọi nhu cầu của khách trong việc tiêu dùng dịch vụ của
khách sạn, mục tiêu cuối cùng là đạt hiệu quả kinh tế cao nhất .
Xuất phát từ nhu cầu của con người, hoạt động kinh doanh khách sạn
phụ thuộc nhiều vào yếu tố tài nguyên du lịch, do vậy việc xây dựng kinh
doanh khách sạn chỉ có ở những nơi có tài nguyên du lịch. Đồng thời nó phụ
thuộc vào vị trí địa lý ở khu vực đó .
Nguồn vốn đầu tư cho việc xây dựng khách sạn tương đối cao. Kể từ
lúc bắt đầu cho đến lúc khách sạn khai trương. Chi phí duy trì và bảo dưỡng
khách sạn chiếm một tỷ lệ lớn trong giá thành các dịch vụ hàng hoá. Do đó
khấu hao tài sản cố định là tương đối lớn để bảo đảm cho khách sạn có điều
kiện nâng cấp trang thiết bị và thay thế mới cơ sở vật chất kỹ thuật .
Kinh doanh khách sạn cần một lượng lao động cao vì kinh doanh khách
sạn có điểm khác biệt so với các ngành kinh doanh khác. Xuất phát từ tính
đặc thù của sản phẩm khách sạn: sản phẩm của khách sạn chủ yếu là dịch vụ,
quá trình “tiêu dùng” và “sản xuất” trùng nhau, sản phẩm tồn tại dưới dạng
phi vật chất, không thể tồn kho lưu trữ được. Mặt khác, chịu ảnh hưởng về
tâm lý như nhu cầu ăn uống của khách vào bất cư thời điểm nào nên khách
sạn hoạt động 24h/24h/ngày. Do vậy cường độ lao động thường không đồng
đều .
12
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Kinh doanh khách sạn có tính thời vụ tương đối rõ. Nó không chỉ phụ
thuộc vào tài nguyên du lịch mà nó còn chịu ảnh hưởng nhiều của tính quy
luật: tự nhiên, tâm lý, xã hội .
3.Sản phẩm - Dịch vụ của Khách sạn
Sản phẩm – dịch vụ của cả khách sạn là tập hợp những “cái” nhằm
thỏa mãn các nhu cầu về ăn uống, lưu trú, vui chơi giải trí của khách
hàng .
Như vậy sản phẩm – dịch vụ của Khách sạn dành cho khách hàng
bao gồm hai phần cơ bản đó là: Sản phẩm là hàng hóa và sản phẩm là
dịch vụ.
Sản phẩm hàng hoá tức là sản phẩm khách sạn tồn tại ở dạng vật
chất bao gồm như hàng hoá chế (như các món ăn, đồ pha chế ) và thành
phẩm (như bia, đóng hộp, nước khoáng)
Sản phẩm - dịch vụ bao gồm: Dịch vụ chính (chủ yếu là dịch vụ ăn
uống và dịch vụ phòng ngủ) và dịch vụ bổ sung cần thiết .
Khác với các sản phẩm thông thường khác, sản phẩm - dịch vụ của
khách sạn có một số đặc điểm sau đây:
Sản phẩm của khách sạn mang tính vô hình .
Trong kinh doanh khách sạn, sản phẩm của khách sạn chủ yếu là
dịch vụ. Xuất phát từ đặc điểm này làm cho sản phẩm của khách sạn khác
với sản phẩm của các doanh nghiệp kinh doanh khác. Đó là không thể sờ
nắn, cân đo, đong đếm được. Nó không thể hiện ở dạng vật chất, vì vậy ta
cũng không thể chuyển giao quyền sở hữu như các tài sản khác. Do mang
tính yếu tố vô hình nên sản phẩm của khách sạn không thể đem trưng bày
hay quảng cáo bằng hiện vật được. Khách mua sản phẩm không thể hiện
ở dạng cụ thể, không thể nhìn thấy được mà chỉ nhận biết được sau khi đã
tiêu dùng, nên đôi khi khiến cho khách tỏ ra phân vân khi đưa ra quyết
13
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
định mua hay không. Hơn nữa chất lượng sản phẩm nào đó còn tuỳ thuộc
vào đặc điểm tiêu dùng của từng khách hàng.
Quá trình tạo ra dịch vụ và tiêu dùng dịch vụ diễn ra gần như đồng
thời. Điều này sẽ gây khó khăn cho cả khách sạn và khách hàng. Với
khách, họ sẽ không cảm nhận được sản phẩm trước khi tiêu dùng nó. Vì
vậy rất khó khăn cho khách khi quyết định có tiêu dùng sản phẩm đó hay
không. Bởi lẽ họ bỏ tiền ra mua một thứ mà họ không hề biết hình thù của
nó ra sao, chất lượng của nó như thế nào. Còn với khách sạn đặc điểm này
làm cho sản phẩm khách sạn không thể lưu kho được, nó làm cho việc
kinh doanh trở nên khó khăn vì không cho phép các nhà kinh doanh làm
thử các dịch vụ, làm lại hay tạo ra các phế phẩm mà phải làm đúng ngay
từ lúc đầu.
Sản phẩm khách sạn là cố định vì đặc tính vô hình của nó nên khách
muốn tiêu dùng sản phẩm của khách sạn phải tìm đến khách sạn.
Một đặc tính cũng không kém phần quan trọng nữa là sản phẩm của
khách sạn phụ thuộc nhiều vào đặc điểm tài nguyên du lịch.
4. Sự cần thiết phải quản lý nghiệp vụ kinh doanh
4.1. Hoạt động kinh doanh nhà hàng
4.1.1. Vị trí – Chức năng – Nhiệm vụ
Bộ phận phục vụ ăn uống là một trong những bộ phận lớn và cũng là bộ
phận quan trọng trong khách sạn. Bộ phận này đảm nhận đón tiếp, phục vụ
các bữa ăn trong khách sạn, nhà hàng.
Bộ phận trực tiếp tiếp xúc với các đối tượng khách đến ăn uống, quảng
cáo các sản phẩm ăn uống của khách sạn
Vai trò quan trọng của nó do tính đặc thù sau quyết định :
- Doanh thu của bộ phận ăn uống chiếm một phần quan trọng trong tổng
doanh thu và hiệu quả kinh doanh của khách sạn .
- Bộ phận ăn uống có nhiều môn ngành, người đông, có yêu cầu cao về mặt
quản lý
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét