Thứ Sáu, 7 tháng 3, 2014

Một số giải pháp nhằm hoàn thiện phân tích tài chính tại Công ty Thoát Nước Hà Nội

khả năng tạo ra dòng tiền mặt, khả năng sinh lời, khả năng thanh toán và mức sinh lời
tối đa.
Các báo cáo kế toán, báo cáo tài chính phản ánh một cách tổng hợp toàn diện
tình hình tài sản, nguồn vốn công nợ, kết quả sản xuật kinh doanh của DN trong một
niên độ kế toán, song những thông tin riêng biệt đó cha thể hiện đợc nhiều ý nghĩa và
cha thể hiện hết các yêu cầu, nội dung mà ngời sử dụng thông tin quan tâm do đó họ
thờng dùng các công cụ và kỹ thuậ cơ bản để phân tích tình hình tài chính DN, để
thuyết minh các mối quan hệ chủ yếu trong báo cáo ttài chính nhằm nghiên cứu tình
hình tài chính hiện tại từ đó đa ra những quyết định tài chính trong tơng lai.
c) Yêu cầu của việc phân tích hoạt động tài chính DN
Việc phân tích hoạt động tìa chính DN có ý nghĩa quan trọng nó quyết định sự
thành công hay thất bại của DN cho nên nó phải đạt đợc các mục tiêu sau:
+ Phân tích hoạt động tài chính DN phải cung cấp đầy đủ thông tin hữu ích cho
các nhà đầu t, các tín chủ và những nghời sử dụng thông tin khác nhau để giúp họ có
quyết định đúng đắn khi ra các quyết định đầu t, quyết định cho vay, quyết định sản
xuất
+ Phân tích hoạt động tài chính DN phải cung cấp thông tin cho các DN, các
nhà đầu t, các nhà cho vay và những nhà sử dụng thông tin khác nhau trong việcđánh
giá khả năng và tính chăcs chắn của các dòng tiền mặt vào, ra và hiệu quả sử dụng
vốn kinh doanh, tình hình, khả năng thanh toán của DN.
+ Phân tích hoạt động tài chính DN phải cung cấp thông tin về nguồn vốn chủ
sở hữu, các khoản nợ, kết quả của quá trình, sự kiện và các tình huống làm biến đổi
nguồn vốn và các khoản nợ của DN.
Các mục tiêu trên đây liên quan mật thiết với nhau và góp phần cung cấp thông
tin nền tảng quan trọng cho ngời nghiên cứu, tìm hiểu, phân tích tình hình tài chính
DN.
Nh vậy, có thể khẳng định, ý nghĩa tối cao và quan trọng nhất của phân tích tài
chính DN là giúp cho những ngời ra quyết định lựa chọn phơng án kinh doanh tối u
và đánh giá chính xác thực trạng, tiềm năng của DN.
B. Nội dung hoạt động phân tích tài chính doanh nghiệp
I. Những việc tiến hành trớc khi phân tích
1. Tài liệu phục vụ cho phân tích:
Phân tích tài chính sử dụng mọi nguốn thông tin có khả năng làm rõ mục tiêu
dự đoán tài chính. Từ khi pháp lệnh kế toán tài chính đợc ban hành, hệ thống các báo
cáo tài chính đã đợc thống nhất và là tài liệu cơ sở, quan trọng cho các nhà phân tích
tài chính. Ngoài các báo cáo tài chính các nhà tài chính còn phải khai thác một số số
liệu không có trong báo cáo tài chính nh: tiền lãi phải trả trong kỳ, phân phối lợi
nhuận, sản phẩm tiêu thụ những số liệu này giúp cho nhà phân tích có thể đa ra
những nhận xét, những kết luận tinh tế và thích đáng.
Hệ thống báo cáo tài chính nớc ta bao gồm:
1. Bảng cân đối kế toán.
2. Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh.
3. Báo cáo lu chuyển tiền tệ.
4. Bản thuyết minh báo cáo tài chính.
1.1 Bảng cân đối kế toán : Là báo cáo tổng hợp cho biết tình hình tài chính của đơn
vị tại những thời điểm nhất định dới hình thái tiền tệ. Đây là một báo cáo tài chính có
ý nghĩa rất quan trọng đối với mọi đối tợng có quan hệ sở hữu, quan hệ kinh doanh
với DN.
Bảng cân đối kế toán phản ánh hai nội dung cơ bản là nguồn vốn tài sản.
Nguồn vốn phản ánh nguồn vốn đợc huy động vào sản xuất kinh doanh. Về mặt pháp
lý, nguồn vốn cho thấy trách nhiệm của DN về tổng số vốn đã đăng ký kinh doanh
với Nhà nớc, số tài sản đã hình thành bằng nguồn vốn vay ngân hàng, vay đối tợng
khác, cũng nh trách nhiệm phải thanh toán với ngời ngời lao động, cổ đông, nhà cung
cấp, trái chủ, ngân sách Phần tài sản phản ánh quy mô và cơ cấu các lọai tài sản
hiện có đến thời điểm lập báo cáo thuộc quyền quản lý, sử dụng của DN, năng lực và
trình độ sử dụng tài sản. Về mặt pháp lý, phần tài sản thể hiện tiềm lực mà DN có
quyền quản lý, sử dụng lâu dài, gắn với mục đích thu đợc các khoản lợi nhuận.
Bảng cân đối kế toán là tài liệu quan trọng bậc nhất giúp cho nhà phân tích
nghiên cứu đánh giá một cách khái quát tình hình và kết quả kinh doanh, khả năng
cân bằng tài chính, trình độ sử dụng vốn và những triển vọng kinh tế, tài chính của
DN.
1.2 Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh : Là báo cáo tài chính tổng hợp cho biết
tình hình tài chính của DN trong từng thời kỳ nhất định, phản ánh tóm lợc các khoản
thu, chi phí, kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của toàn DN, kết quả hoạt động
sản xuất kinh doanh ttheo từng hoạt động kinh doanh ( sản xuất kinh doanh, đầu t tài
chính, hoạt động bất thờng). Bên cạnh đó, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh còn
cho biết tình hình thực hiện nghĩa vụ với Nhà nớc của DN trong thời kỳ đó .
Dựa vào số liệu trên báo cáo kết quả kinh doanh, ngời sử dụng thông tin có thể
kiểm tra, phân tích, đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh của DN trong kỳ, so sánh
với kỳ trớc và với DN khác để nhận biết khái quát hoạt đọng trong kỳ và xu hớng vận
động.
1.3 Báo cáo lu chuyển tiền tệ: đợc lập để trả lời những câu hỏi liên quan đến luồng
tiền ra vào trong DN, tình hình trả nợ, đầu t bằng tiền của DN trong từng thời kỳ.
Báo cáo lu chuyển tiền tệ cung cấp những thông tin về những luồng vào,ra của
tiền và coi nh tiền, những khoản đầu t ngắn hạn có tính lu động cao, có thể nhanh
chóng và sẵn sàng chuyển đổi thành một khoản tiền biết trớc ít chịu rủi ro lỗ về giá trị
do những sự thay đổi về lãi suất. Những luồng vào ra của tiền và những khoản coi nh
tiền đợc tổng hợp thành ba nhóm: lu chuyển tiền tệ từ hoạt động kinh doanh, lu
chuyển tiền tệ từ hoạt động đầu t, lu chuyển tiền tệ từ hoạt động tài chính và lập theo
phơng pháp trực tiếp, gián tiếp.
1.4 Thuyết minh các báo cáo tài chính: nhằm cung cấp các thông tin về tình hình sản
xuất kinh doanh cha có trong hệ thống các báo cáo tài chính, đồng thời giải thích một
số chỉ tiêu mà trong các báo cáo tài chính cha đợc trình bày, giải thích thêm một cách
cụ thể, rõ ràng.
Các báo cáo tài chính trong DN có mô0ì quan hệ mật thiết với nhau, mỗi sự
thay đổi của một chỉ tiêu trong báo cáo này trực tiếp hay gián tiếp ảnh hởng đến các
báo cáo kia, trình tự đọc hiểu đợc các báo cáo tài chính, qua đó họ nhận biết đợc và
tập trung vào các chỉ tiêu tài chính liên quan trực tiếp tới mục tiêu phân tích của họ.
2. Các bớc tiến hành phân tích:
Phân tích tài chính có thể đợc ứng dụng theo những hớng khác nhau với những
mục đích tác nghiệp khác nhau: mục đích nghiên cứu thông tin hoặc theo vị trí của
nhà phân tích (trong hay ngoài DN). Tuy nhiên trình tự phân tích và dự đoán tài chính
đều tuân theo các nghiệp vụ phân tích thích ứng với từng giai đoạn dự đoán.
- Giai đoạn dự đoán là giai đoạn chuẩn bị và xử lý các nguồn thông tin. Các
nghiệp vụ phân tích trong giai đoạn này là xử lý thông tin kế toán, tính toán các chỉ
số, tập hợp các bảng biểu.
- Giai đoạn xác định biểu hiện đặc trng là giai đoạn xác định điểm mạnh, yếu
của Doanh nghiệp. Các nhiệm vụ phân tích trong giai đoạn này là giải thích, đánh giá
các chỉ số, bảng biểu các kết quả về sự cân bằng tài chính, năng lực hoạt động tài
chính, cơ cấu vốn và chi phí vốn, cơ cấu đầu t và doanh lợi.
- Giai đoạn phân tích thuyết minh là giai đoạn phân tích nguyên nhân, thuận
lợi, khó khăn, phơng tiện và thành công. Các nhiệm vụ phân tích trong giai đoạn này
là tổng hợp, đánh giá và quan sát.
- Giai đoạn tiên lợng và chỉ dẫn: nghiệp vụ phân tích là xác định hớng phát
triển, các giải pháp tài chính.
3. Phơng pháp phân tích
Để tiến hành phân tích hoạt động kinh doanh cũng nh phân tích hoạt động tài
chính ngời ta không dùng riêng lẻ một phơng pháp phân tích nào mà sử dụng kết hợp
các phơng pháp phân tích với nhau để đánh giá tình hình DN một cách xác thực nhất,
nhanh nhất.
Phơng pháp phân tích hoạt động tài chính doanh nghiệp là hệ thống các phơng
pháp nhằm tiếp cận, nghiên cứu các sự kiện, hiện tợng, quan hệ, các luồng dịch
chuyển và biến đổi tài chính trong hoạt động của DN, xong phơng pháp chủ yếu là
phơng pháp so sánh và phân tích tỷ lệ.
a. Phơng pháp so sánh: Để áp dụngđợc phơng pháp này cần phải đảm bảo các điều
kiện có thể so sánh đợc của các chỉ tieu (phải thống nhất về nội dung, phơng pháp,
thời gian và đơn vị tính toán của các chỉ tiêu so sánh) và theo mục đích phân tích mà
xác định gốc so sánh. Gốc so sánh có thể chọn là gốc về mặt thời gian hoặc không
gian. Kỳ (điểm) đợc chọn để phân tíchgọi là kỳ phân tích (hoặc điểm phân tích). Các
trị số của chỉ tiêu tính ra ở từng kỳ tơng ứng gọi là trị số chỉ tiêu kỳ gốc, kỳ phân
tích. Và để phục vụ mục đích phân tích ngời ta có thể so sánh bằng các cách : so sánh
bằng số tuyệt đối, so sánh bằng số tơng đối, so sánh bằng số bình quân.
Phơng pháp so sánh sử dụng trong phân tích tài chính DN là:
- So sánh giữa số thực hiện kỳ này với số thực hiện kỳ trớc để thấy rõ xu hớng
thay đổi về tài chính của DN, thấy đợc sự cải thiện hay xấu đi nh thế nào để có biện
pháp khắc phục trong kỳ tới.
- So sánh giữa số thực hiện với số kế hoạch để thấy mức độ phấn đấu của
Doanh nghiệp.
- So sánh giữa số thực hiện kỳ này với mức trung bình của ngành để thấy đợc
tình hình tài chính cuả DN đang ở tình trạng tốt hay xấu, đợc hay cha đợc so với các
DN cùng ngành.
- So sánh theo chiều dọc để thấy đợc tỷ trọng của từng loại trong tổng hợp ở
mỗi bản báo cáo. So sánh theo chiều ngang để thấy đợc sự biến đổi về cả số tơng đối
và số tuyệt đối của một khoản mục nào đó qua niên độ kế toán liên tiếp.
b. Phơng pháp phân tích tỷ lệ: là phơng pháp truyền thống, đợc sử dụng phổ biến
trong phân tích tài chính. Đây là phơng pháp có tính hiện thực cao với các điều kiện
áp dụng ngày càng đợc bổ xung và hoàn thiện. Bởi lẽ:
Thứ nhất, nguồn thông tin kế toán và tài chính đợc cải tiến và đợc cung cấp
đầy đủ hơn. Đó là cơ sở hình thành các chỉ tiêu tham chiếu tin cậy cho việc đánh giá
một tỷ lệ tài chính của DN.
Thứ hai, việc áp dụng công nghệ tin học cho phếp tích luỹ dữ liệu và thúc đẩy
nhanh quá trình tính toán hàng loạt các tỷ lệ.
Thứ ba, phơng pháp phân tích này giúp cho nhà phân tích khai thác có hiệu quả
các số liệu và phân tích một cách có hệ thống hàng loạt tỷ lệ theo chuỗi thời gian liên
tục hoặc theo từng giai đoạn.
Phơng pháp này dựa trên ý nghĩa chuẩn mực các tỷ lệ của đại lợng tài chính
trong các quan hệ taì chính. Về nguyên tắc, phơng pháp tỷ lệ yêu cầu phải xác định
đợc các ngỡng, các định mức để nhận xét đánh giá tình hình tài chính DN, trên cơ sở
so sánh các tỷ lệ của DN với các tỷ lệ tham chiếu.
Trong phân tích tài chính Dn, các tỷ lệ tài chính đợc phân thành các nhóm tỷ lệ
đặc trng, phản ánh nội dung cơ bản theo mục tiêu hoạt động của DN. Đó là các nhóm
tỷ lệ về nội dung thanh toán, nhóm tỷ lệ về cơ cấu vốn và nguồn vốn, nhóm các tỷ lệ
về năng lực hoạt động, nhóm các tỷ lệ về khả năng sinh lời.
II. Nội dung phân tích tài chính doanh nghiệp:
1.Phân tích khái quát tình hình tài chính DN:
Nội dung phân tích: Xem xét đánh giá sự thay đổi giữa đầu kỳ so với cuối kỳ,
đầu năm so với cuối năm, năm này so với năm khác để xác định tình hình tăng giảm
vốn trong DN. Tuy nhiên, nếu chỉ dựa vào sự tăng giảm của tổng tài sản và tổng
nguồn vốn của DN thì cha thể thấy rõ tình hình tài chính của DN. Vì vậy, cần phải
phân tích mối quan hệ giữa các khoản mục của bảng cân đối kế toán dựa trên quan
điểm luân chuyển vốn trong DN.
1.1 Phân tích cơ cấu tài sản:
Xem xét từng khoản mục tài sản của DN trong tổng số để thấy đợc mức độ
đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh của DN. Tuỳ từng loại hình kinh doanh
để xem xét tỷ trọng của từng tài sản chiếm trong tổng số là cao hay thấp.
Bảng 1: Bảng phân tích cơ cấu tài sản
Chỉ tiêu
Năm n Năm n+1 So sánh
Số
tiền
tr.đ
Tỷ
trọng
(%)
Số
tiền
tr.đ
Tỷ trọng
(%)
Số tiền
tr.đ
Tỷ
trọng
(%)
I.TSLĐ và ĐTNH
1. Tiền
2. Đầu t TCNH
3. Các khoản phải thu
4. Hàng tồn kho
5. TSLĐ khác
6. Chi sự nghiệp
II. TSCĐ và ĐTDH
1. Tài sản cố định
2. Đầu t tài chínhDH
3.Chi phí XDCB DD
4.Ký cớc, ký quỹDH
Tổng cộng
Đồng thời với việc phân tích cơ cấu tài sản, cần xem xét tình hình biến động
của các khoản mục tài sản cụ thể. Qua đó, đánh giá sự hợp lý của sự biến động. Cũng
qua việc phân tích cơ cấu tài sản ta biết đợc tỷ suất đầu t:
Tổng tài sản
Tỷ suất đầu t =
Tài sản cố định
Chỉ tiêu này cho biết mức độ đầu t vào tài sản cố định. Trị số của chỉ tiêu này
tuỳ thuộc vào từng ngành nghề kinh doanh cụ thể.
1.2 Phân tích cơ cấu vốn, chi phí vốn
Cơ cấu vốn là thuật ngữ phản ánh việc DN sử dụng các nguồn vốn khác nhau
với một tỷ lệ nào đó cuả mỗi nguồn tìa trợ cho tổng số tài sản.
Chi phí vốn là chi phí trả cho việc huy động và sử dụng vốn. Nói cách khác,
chi phí vốn là giá của việc sử dụng vốn.
Đánh giá khả năng tự tài trợ về mặt tài chính của DN, cũng nh mức độ tự chủ,
chủ động trong kinh doanh hay những khó khăn mà DN phải đơng đầu.
Đối với nguồn hình thành tài sản, cần xem xét tỷ trọng từng loại chiếm trong
tổng số cũng nh xu hớng biến động của chúng. Nếu nguồn vốn chủ sở hữu chiếm tỷ
trọng cao trong tổng số nguồn vốn thì DN có đủ khả năng tự bảo đảm về mặt tài
chính và mức độ độc lập của DN đối với chủ nợ (ngân hàng, nhà cung cấp ) cao. Ng-
ợc lại, nếu công nợ phải trả chiếm chủ yếu trong tổng nguồn vốn ( kể cả về số tơng
đối và số tuyệt đối) thì khả năng đảm bảo về mặt tài chính sẽ thấp . Điều này dễ thấy
qua tỷ suất tài trợ và bảng phân tích sau.
Bảng 2: Bảng phân tích cơ cấu vốn:
Chỉ tiêu
Năm n Năm n+1 So sánh
Số
tiền
tr.đ
Tỷ
trọng
(%)
Số
tiền
tr.đ
Tỷ
trọng
(%)
Số tiền
tr.đ
Tỷ
trọng
(%)
I. Nợ phải trả
1. Nợ ngắn hạn
2. Nợ dài hạn
3. Nợ khác
II.Nguồn vốn CSH
1. Nguồn vốn quỹ
2. Nguồn kinh phí
Tổng cộng nguồn vốn
Tỷ suất tài trợ đợc xác định bằng cách lấy tổng số nguồn vốn chủ sở hữu chia
cho tổng nguồn vốn.
Vốn chủ sở hữu
Tỷ suất tự tài trợ =
Tổng nguồn vốn
Tỷ suất tài trợ càng cao càng thể hiện khả năng độc lập cao về mặt tài chính
hay mức độ tự tài trợ của DN tốt.
1.3 Phân tích tình hình đảm bảo nguồn vốn cho hoạt động kinh doanh.
Để đảm bảo có đủ tài sản cho hoạt động sản xuất kinh doanh, DN cần phải tập
hợp các biện pháp tài chính cần thiết cho việc huy động nguồn vốn. Nhu cầu vốn của
DN tại bất cứ thời điểm nào cũng chính bằng tổng số tài sản DN cần phải có để đảm
bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Có thể phân nguồn vốn (nguồn tài trợ)
thành hai loại:
Nguồn tài trợ thờng xuyên (nguồn tài trợ dài hạn): là nguồn mà DN đợc sử
dụng thờng xuyên, lâu dài vào hoạt động kinh doanh. Bao gồm nguồn vốn chủ sở hữu
và nguồn vốn vay-nợ dài hạn, trung hạn (trừ nợ quá hạn).
Nguồn tài trợ tạm thời (nguồn vốn ngắn hạn): là nguồn mà DN tạm thời đợc sử
dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh trong một khoảng thời gian ngắn. Thuộc
nguồn tài trợ tạm thời bao gồm các khoản vay ngắn hạn, nợ ngắn hạn, các khoản vay-
nợ quá hạn (kể cả vay- nợ dài hạn), các khoản chiếm dụng bất hợp pháp của ngời
mua, ngời bán và cán bộ công nhân viên chức.
Phân tích tình hình đảm bảo vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh, cần tính
ra và so sánh tổng nhu cầu về tài sản (TSLĐ,TSCĐ) với nguồn vốn chủ sở hữu iện có
và nguồn vốn vay-nợ dài hạn. Nếu tổng số nguồn có đủ hoặc lớn hơn tổng số nhu cầu
về tài sản thì DN cần sử dụng số thừa này một cách hợp lý, tránh bị chiếm dụng. Ng-
ợc lại, khi nguồn vốn không đáp ứng đủ nhu cầu về tài sản thì DN cần phải có biện
pháp để huy động và sử dụng phù hợp, tránh bị chiếm dụng bất hợp pháp.
1.4 Phân tích chỉ tiêu vốn lu động thờng xuyên.
Một trong các nguyên tắc trong quản lý tài chính là DN phải dùng nguồn vốn
dài hạn để hình thành tài sản cố định, phần d của nguồn vốn dài hạn và nguồn vốn
ngắn hạn đợc đàu t hình thành tài sản lu động và nguồn vốn ngắn hạn đợc gọi là vốn
lu động thờng xuyên.
VLĐ thờng Nguồn vốn Ng. Vốn
= - TSCĐ = - TSLĐ
xuyên dài hạn ngắn hạn
Kết quả tính toán xảy ra một trong ba trờng hợp sau:
Trờng hợp1: VLĐ thờng xuyên > 0, nguồn vốn dài hạn d thừa đầu t vào taì sản cố
định, phần d thừa đó đầu t vào tài sản lu động. Đồng thời, tài sản lu động > nguồn
vốn ngắn hạn, do vậy khả năng thanh toán của DN tốt.
Trờng hợp 2: VLĐ thờng xuyên =0, có nghĩa là nguồn vốn dài hạn đủ tài trợ cho tài
sản cố định và tài sản lu động, đủ cho doanh nghiệp trả cho các khoản nợ ngắn hạn,
tình hình tài chính nh vậy là lành mạnh.
Trờng hợp 3: VLĐ thờng xuyên >0, nguồn vốn dài hạn không đủ để tài trợ cho
TSCĐ. DN phải đầu t vào tài sản cố định một phần nguồn vốn ngắn hạn, tài sản lu
động không đáp ứng đủ nhu cầu thanh toán nợ ngắn hạn, cán cân thanh toán của DN
mất thăng bằng, DN phải dùng một phần tài sản cố định để thanh toán nợ ngắn hạn
đến hạn trả.
Nh vậy, VLĐ thờng xuyên là chỉ tiêu tổng hợp quan trọng để đánh giá tình
hình tài chính DN, chỉ tiêu này cho biết hai điều cốt yếu: Một là, DN có đủ khả năng
thanh toán cacs khoản nợ ngắn hạn không? Hai là, tài sản cố định của DN có đợc tài
trợ một cách vững chắc bằng nguồn vốn dài hạn không?
Ngoài khái niệm VLĐ thờng xuyên đợc đề ccập trên đây, trong phân tích tài
chính ngời ta còn nghiên cứu chỉ tiêu nhu cầu vốn lu động thòng xuyên.
Nhu cầu vốn lu động thờng xuyên là lợng vốn ngắnhạn mà DN cần phải tài trợ
cho một phần tài sản lu động, đó là hàng tồn kho và các khoản phải thu (TSLĐ không
phải là tiền).
Nhu cầu VLĐ Tồn kho và các
= - Nợ ngắn hạn
thờng xuyên khoản phải thu
1.5 Phân tích mối quan hệ và tình hình biến động các khoản mục trong báo cáo kết
quả kinh doanh.
Để kiểm soát các hoạt động và hiệu qủa kinh doanh của DN, cần đi sâu phân
tích mối quan hệ và tình hình biến động của các khoản mục trong báo cáo kết quả
kinh doanh. Khi phân tích, cần tính ra và so sánh mức và tỷ lệ biến đọng của kỳ phân
tích so với kỳ gốc trên từng chỉ tiêu. Đồng thời, so sánh tình hình của từng chỉ tiêu so
với doanh thu thuần.
Mục tiêu của phơng pháp này là xác định, phân tích mối quan hệ và đặc điểm
các chỉ tiêu trong báo cáo kết quả kinh doanh, đồng thời so sánh chung qua một số
liên độ kế toán liên tiếp với số liệu trung bình ngành (nếu có) để đánh giá xu hớng
thay đổi từng chỉ tiêu và kết quả kinh doanh của DN với DN khác.
1.6 Phân tích một vài chỉ số thanh toán cơ bản.
Tình hình tài chính của một DN đợc thể hiện rõ nét qua khả năng thanh toán.
Nếu DN có khả năng thanh toán cao thì tình hình tài chính sẽ khả quan và ngợc lại.
Do vậy khi đánh giá khái quát tình hình tài chính DN không thể bỏ qua việc xem xét
khả năng thanh toán, đặc biệt là khả năng thanh toán ngắn hạn.
Để đo khả năng này, khi phân tích cần tính và so sánh các chỉ tiêu sau
Tổng tài sản lu động
Hệ số TT hiện hành =
Tổng nợ ngắn hạn
Hệ số này cho thấy khả năng đáp ứng các khoản nợ ngắn hạn (phải thanh toán
trong vòng một năm hay một chu kỳ kinh doanh) là cao hay thấp. Nếu chỉ tiêu này
lớn hơn hoặc bằng 1 thì DN có đủ khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn và tình
hình tài chính khả quan.
Tổng vốn bằng tiền
Hệ số TT của vốn lu động =
Tổng tài sản lu động
Hệ thống này phản ánh khả năng chuyển đổi thành tiền của tài sản lu động.
Thực tế cho thấy, nếu chỉ tiêu này tính ra mà lớn hơn 0,5 hoặc nhỏ hơn 0,1 đều không
tốt vì sẽ gây ứ đọng hoặc thiếu tiền để thanh toán.
Hệ số thanh Tổng số vốn bằng tiền
=
toán tức thời Tổng nợ ngắn hạn
Tuỳ thuộc vào từng ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh ngơng thực tế cho thấy,
Nếu hệ số này > 0,5 thì tình hình thanh toán tơng đối khả quan, còn < 0,1 thì DN có
thể gặp khó khăn trong việc thanh toán công nợ. Do đó, DN có thể phải bán gấp
hàng hoá, sản phẩm để trả nợ vì không đủ tiền thanh toán. Tuy nhiên, nếu hệ số này
quá cao lại phản ánh một tình hình không tốt vì vốn bằng tiền quá nhiều, vòng quay
tiền chậm lại giảm hiệu quả sử dụng vốn.
2. Phân tích tình hình và khả năng thanh toán:
2.1 Phân tích tình hình công nợ.
Nội dung phân tích phản ánh chất lợng của công tác tài chính. Khi nguồn bù
đắp cho nguồn tài sản dự trữ yếu, Dn bị chiếm dụng vố. Ngợc lại, khi nguồn dự trữ tài
sản thừa, DN bị chiếm dụng vốn. Tuy nhiên, trong trờng hợp nguồn vốn cân bằng với
tài sản dự trữ vẫn có thể xảy ra tình trạng chiếm dụng và bị chiếm dụng vốn lẫn
nhau. Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, việc các DN chiếm dụng vốn
lẫn nhau tồn tại nh một thực tế khách quan và thờng xảy ra với các đối tợng sau:
Với khách hàng hoặc nhà cung cấp: Với khách hàng đó là khoản phải thu do
bán chịu hàng hoá, dịch vụ, trờng hợp này DN bị chiếm dụng vốn. Với nhà cung cấp
đố là các khoản phải trả do DN mua chịu hàng hoá, dịch vụ. Trờng hợp này, DN đi
chiếm dụng vốn.
Với ngân sách Nhà nớc: Trong quá trình kinh doanh, các DN phải thực hiện
nghĩa vụ với ngân sách Nhà nớc nh thuế giá trị gia tăng, thuế lợi tức, phí và lệ phí
Nếu số thực nộp nhỏ hơn số phải nộp có nghĩa là DN chiếm dụng vốn và ngợc lại.
Với cán bộ, công nhân viên: Về nguyên tắc ngới lao động làm ngày nào hởng
lơng ngày đó. Song thông thờng DN chi trả cho họ sau một thời gian nhất định. Vì
thế khoản lơng, bảo hiểm xã hội và một số khoản khác phải trả công nhân viên là
khoản tiền mà DN đi chiếm dụng.
Với các đơn vị phụ thuộc: trong quan hệ thanh tóan, các đơn vị trong cùng một
tổng thể thờng phát sinh các khoản phải thu, phải trả lẫn nhau. Đó chính là khoản tiền
bị chiếm dụng hoặc đi chiếm dụng.
Ngoài các khoản chủ yếu nêu trên, một số khoản mục nh tài sản thừa, thiếu,
chi phí phải trả, chi phí trả trớc, tạm ứng cũng coi là các khoản bị chiếm dụng hoặc
đi chiếm dụng.
Khi quan hệ trên nảy sinh, nếu trong DN có phần vốn đi chiếm dụng nhiều hơn
phần vốn bị chiếm dụng thì DN có thêm một phần vốn đa vào quá trình sản xuất kinh
doanh, ngợc lại DN bị bớt vốn.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét