Thứ Sáu, 7 tháng 3, 2014

Giải pháp hoàn thiện nghiệp vụ cho vay của Ngân hàng Công thương Việt Nam

cầu sửa chữa lớn tài sản cố định mà cha tính đủ khấu hao. Mặt khác, doanh
nghiệp lại có nhu cầu mở rộng phạm vi, quy mô sản xuất kinh doanh, nhu cầu
cải tiến kỹ thuật hợp lý hoá sản xuất hoặc chuyển dịch vốn sang các ngành kinh
doanh khác.
Nhu cầu vốn lu động cần đợc bổ sung do cha tiêu thụ đợc sản phẩm hàng
hoá mà đã có nhu cầu mua nguyên vật liệu hoặc bán ít hơn mua. Điều này đặc
biệt cần thiết với những doanh nghiệp hoạt động kinh doanh mang tính chất thời
vụ.
Thiếu vốn cần đợc bổ sung không chỉ là nhu cầu đối với các doanh nghiệp
hoạt động trong lĩnh vực sản xuất, lu thông mà còn là nhu cầu bổ sung thiếu hụt
tạm thời giữa thu và chi của các tổ chức cá nhân khác trong xã hội, kể cả ngân
sách nhà nớc. Nó cũng không chỉ là nhu cầu đầu t cho lĩnh vực sản xuất, lu
thông mà còn là nhu cầu cần thiết cho tiêu dùng.
Mâu thuẫn giữa hiện tợng thừa thiếu vốn tiền tệ trong xã hội phát sinh
trong khi quá trình sản xuất lu thông hàng hoá cần đợc duy trì một cách đều đặn
thờng xuyên đòi hỏi phải có tín dụng để giải quyết mâu thuẫn đó đồng thời trở
thành cầu nối giữa nhu cầu tiết kiệm và đầu t bằng các hình thức tín dụng thích
hợp.
Trong khi còn tồn tại hai hệ thống kinh tế t bản chủ nghĩa và xã hội chủ
nghĩa, vận động của tín dụng thích hợp với từng hệ thống. Tín dụng t bản chủ
nghĩa với sự vận động của t bản cho vay là hình thức vận động của vốn tín dụng
TBCN. T bản cho vay là t bản tiền tệ mà ngời sở hữu nó đem cho vay để thu lợi
tức trên cơ sở bóc lột lao động làm thuê. Nguồn hình thành t bản cho vay chính
là t bản tiền tệ nhàn rỗi giải phóng khỏi quá trình tái sản xuất xã hội; t bản tiền
tệ của những nhà t bản chuyên dùng vào lĩnh vực kinh doanh tiền tệ tín dụng
bằng cách cho vay trực tiếp hoặc gửi ngân hàng - ngoài ra là tiền để dành của
các tầng lớp dân c trong xã hội đã biến hành t bản cho vay.
T bản cho vay với những đặc điểm cơ bản đã đợc Mác phân tích một cách
đầy đủ đó là t bản sở hữu đối lập với t bản chức năng nghĩa là t bản sở hữu thì
không sử dụng còn nguồn sử dụng lại không có quyền sở hữu.
- T bản cho vay là t bản đợc xem nh hàng hoá do có những đặc điểm giống
và khác so với hàng hoá thông thờng. T bản cho vay giống hàng hóa thông th-
ờng vì ngời ta đều cần đến giá trị sử dụng mà giá trị sử dụng của TBCV chính là
khả năng đầu t sinh lời hoặc để đáp ứng nhu cầu mua sắm các mặt hàng tiêu
dùng cần thiết. Đồng thời t bản cho vay cũng có giá cả là lợi tức tín dụng đợc
tính trên cơ sở lãi suất tín dụng mà lãi suất cũng chịu sự tác động của quan hệ
cung cầu về vốn tín dụng trên thị trờng. T bản cho vay khác hàng hoá thông vì
khi bán hàng hóa thông thờng ngời bán mất cả quyền sở hữu và quyền sử dụng.
Còn trong quan hệ tín dụng ngời cho vay không mất đi quyền sở hữu mà chỉ
mất quyền sử dụng nhng không phải là vĩnh viễn mà chỉ mất quyền sử dụng
trong một thời gian nhất định theo thời gian cho vay. Mặt khác giá cả hàng hoá
5
thông thờng là biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hoá còn lợi tức tín dụng độc
lập tơng đối so với giá trị hàng hoá, nó chỉ là phần ngời đi vay trả thêm cho ngời
cho vay cho việc sử dụng số tiền đã vay.
- T bản cho vay có hình thức chuyển nhợng và vận động đặc biết (theo
công thức vận động T - T')
Công thức vận động của TBSX:
TLSX
T - H ( H' - T'
SLĐ
Vận động của t bản lu thông T- H - T'
Vận động của t bản cho vay T - T'
Trong công thức vận động T - T' quá trình sản xuất lu thông đã bị che lấp
và dấu kín, ở đây tiền dờng nh đã tự lớn lên mà không hề có sự tham gia vào
lĩnh vực sản xuất lu thông. Nhng trên thực tế ngời đi vay đã dùng tiền vay đầu t
vào sản xuất lu thông để thu lợi nhuận và phân chia cho nhà t bản cho vay một
phần. Nh vậy t bản cho vay là một hình thức tuỳ thuộc vào t bản sản xuất lu
thông.
- T bản cho vay là t bản ăn bám nhất và đợc sùng bái nhất vì nhà t bản cho
vay không hề tham gia vào lĩnh vực sản xuất lu thông cũng không làm công tác
quản lý lãnh đạo nhng vẫn thu đợc lợi tức. Đặc biệt công thức vận động T- T' đã
làm cho t bản cho vay có sức mạnh huyền bí, kỳ diệu và trở thành một hình thức
t bản đợc sùng bái nhất. Cho đến nay các nớc đều hớng nền kinh tế phát triển
theo cơ chế thị trờng, ngời ta chỉ quan tâm đến tín dụng trong nền kinh tế thị tr-
ờng mà không phân biệt tín dụng t bản chủ nghĩa và tín dụng xã hội chủ nghĩa.
Trong nền kinh tế thị trờng tín dụng ngày càng mở rộng, chủ thể tham gia trong
quan hệ tín dụng bao gồm cả các cá nhân, doanh nghiệp và cả nhà nớc trung -
ơng cũng nh địa phơng. Quan hệ tín dụng đợc mở rộng cả đối tợng và quy mô
thể hiện ở các mặt sau:
- Các tổ chức tín dụng Ngân hàng và các tổ chức tài chính tín dụng khác
phát triển mạnh ở khắp mọi nơi.
- Các doanh nghiệp đều sử dụng vốn tín dụng với các hình thức khác nhau:
vay Ngân hàng, mua chịu hàng hoá, phát hành trái phiếu
- Thu nhập của các thành viên trong xã hội có khả năng ngày càng tăng
nên càng có nhiều ngời tham gia vào quan hệ tín dụng. Với t cách là ngời cho
vay, các cá nhân gửi tiền vào Ngân hàng, quỹ tiết kiệm, mua trái phiếu doanh
nghiệp và trái phiếu Nhà nớc Với t cách là ngời đi vay, ngày càng có nhiều
ngời vay vốn Ngân hàng hoặc vay trên thị trờng vốn để phục vụ nhu cầu phát
triển sản xuất lu thông hoặc đáp ứng nhu cầu tiêu dùng.
6
Cùng với việc mở rộng các quan hệ tín dụng, hình thức tín dụng ngày càng
trở nên đa dạng phong phú nh tín dụng thơng mại, tín dụng Ngân hàng, tín dụng
nhà nớc, tín dụng hợp tác xã
Có thể khái niệm tín dụng bằng các cách khác nhau. Theo cách đơn giản
nhất: Tín dụng là quan hệ vay mợn trên nguyên tắc hoàn trả cả vốn lẫn lãi giữa
ngời đi vay và ngời cho vay.
Tín dụng theo quan điểm của các nhà kinh tế học hiện đại là trên cơ sở
lòng tin, nghĩa là ngời cho vay tin tởng vào ngời đi vay sẽ sử dụng vốn có hiệu
quả và hoàn trả đúng thời hạn cả vốn lẫn lãi.
Mặc dù có những khái niệm về tín dụng theo cách diễn đạt khác nhau nh-
ng có thể nêu một cách tổng quát: Tín dụng là một quan hệ kinh tế trong đó có
sự chuyển nhợng tạm thời một lợng giá trị (hình thái tiền tệ hay hiện vật) từ ng-
ời sở hữu sang ngời sử dụng để sau một thời gian thu hồi về một lợng giá trị lớn
hơn lợng giá trị ban đầu với những điều kiện mà hai bên thoả thuận với nhau.
Tín dụng Ngân hàng là quan hệ tín dụng bằng tiền tệ giữa một bên là Ngân
hàng, một tổ chức chuyên kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ với một bên là tất cả
các tổ chức cá nhân trong xã hội trong đó Ngân hàng giữ vai trò vừa là ngời đi
vay vừa là ngời cho vay.
Với t cách là ngời đi vay, Ngân hàng huy động mọi nguồn vốn tạm thời
nhàn rỗi trong xã hội bằng hình thức nhận tiền gửi của các doanh nghiệp , các
tổ chức cá nhân hoặc phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu để huy động vốn
trong xã hội.
Với t cách là ngời cho vay, Ngân hàng đáp ứng nhu cầu vốn cho các doanh
nghiệp , tổ chức, cá nhân khi có nhu cầu thiếu vốn cần đợc bổ sung trong hoạt
động sản xuất kinh doanh và tiêu dùng. Với vai trò này tín dụng ngân hàng đã
thực hiện chức năng phân phối lại vốn tiền tệ để đáp ứng yêu cầu tái sản xuất xã
hội - cơ sở khách quan để hình thành chức năng phân phối lại vốn tiền tệ của tín
dụng ngân hàng chính là do đặc điểm tuần hoàn vốn trong quá trình tái sản xuất
xã hội đã thờng xuyên xuất hiện hiện tợng tạm thời thừa vốn ở các tổ chức cá
nhân này, trong khi ở những tổ chức cá nhân khác lại có nhu cầu thiếu vốn cần
đợc bổ sung. Hiện tợng thừa thiếu vốn phát sinh do có sự chênh lệch về thời
gian, số lợng giữa các khoản thu nhập và chi tiêu ở tất cả các tổ chức, cá nhân
trong khi quá trình tái sản xuất đòi hỏi phải đợc tiến hành liên tục. Tín dụng th-
ơng mại cũng đã giải quyết quan hệ trực tiếp giữa những doanh nghiệp cần tiêu
thụ sản phẩm hàng hoá với những doanh nghiệp có nhu cầu sử dụng cho sản
xuất lu thông mà cha có tiền. Nhng do hạn chế của tín dụng thơng mại đã
không đáp ứng đợc yêu cầu tập trung mọi nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong xã
hội để đáp ứng nhu cầu vay vốn với khối lợng thời hạn khác nhau. Chỉ có ngân
hàng là tổ chức chuyên kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ mới có khả năng giải
quyết mâu thuẫn đó khi ngân hàng giữ vai trò vừa là ngời đi vay vừa là ngời cho
vay.
7
Trong quy chế cho vay của tổ chức tín dụng (ban hành kèm theo quyết
định số 324/2001/QĐ-NHNN1 ngày 30/9/2001 của Thống đốc Ngân hàng Nhà
nớc, có khái niệm nh sau: "Cho vay là một hình thức của cấp tín dụng, theo đó
tổ chức tín dụng giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích
và thời gian nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi".
l.2. Nội dung nghiệp vụ cho vay của Ngân hàng.
Theo khái niệm trên đây thì nội dung của nghiệp vụ cho vay của ngân
hàng và các tổ chức tín dụng có thể hiểu nh sau:
l.2.1. Đặc điểm của TDNH:
- Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng giữa các ngân hàng với các
doanh nghiệp và giữa các ngân hàng với nhau đợc thực hiện dới hình thức tiền
tệ.
Tín dụng ngân hàng mang các đặc trng cơ bản sau đây:
- Đối tợng cho vay là vốn tiền tệ. Số vốn này không nằm trong quá trình
tuần hoàn của chu kỳ sản xuất kinh doanh mà là một loại vốn riêng biệt: vốn
nhàn rỗi dùng để cho vay.
- Chủ thể vay vốn chủ yếu là các doanh nghiệp.Trong một số trờng hợp các
ngân hàng cũng tiến hành đi vay của nhau. Chủ thể cho vay là các ngân hàng và
công ty tài chính.
- Tín dụng ngân hàng vận động không hoàn toàn thống nhất với sự vận
động của quá trình sản xuất kinh doanh thời kỳ sản xuất phát triển, nhu cầu về
vốn vay rất lớn nhng khả năng cung cấp vốn vay lại có hạn vì trong quá trình
cạnh tranh ngời ta đều đổ xô vào việc đầu t sản xuất nên cần nhiều vốn. Ngợc
lại số ngời có tiền đem gửi lại rất ít.
Thời kỳ khủng hoảng, trì trệ sản xuất, khả năng cung cấp vốn vay lại rất
lớn vì nhiều ngời không bỏ vào sản xuất mà đem gửi ngân hàng. Trong khi đó,
nhu cầu về vốn vay lại giảm vì không có lĩnh vực nào đầu t có lợi , lúc này chỉ
có một số ít ngời đi vay để đảm bảo khả năng thanh toán khỏi bị phá sản.
- Từ những đặc điểm trên mà tín dụng ngân hàng đã khắc phục đợc các
hạn chế của tín dụng thơng mại. Tín dụng ngân hàng với nguồn vốn rất lớn và
vốn bằng tiền đã giải quyết linh hoạt mọi nhu cầu vốn phát sinh và ngày càng
giữ vị trí quan trọng.
l.2.2 Nghiệp vụ tín dụng (cho vay) phải tuân thủ theo pháp luật quốc gia
và phù hợp với thông lệ quốc tế.
Trớc hết hoạt động cho vay của ngân hàng và tổ chức tín dụng phải thực
hiện đúng đắn theo các văn bản, pháp quy của Nhà nớc về tín dụng (cho vay)
nói một cách khác là theo cơ chế tín dụng từng thời kỳ nhất định. Nh ở nớc ta,
thời kỳ từ 1-10-1993 (ngày có hiệu lực của 2 pháp lệnh ngân hàng) đến ngày 01
8
tháng 10 năm 2001 ngày bắt đầu có hiệu lực của luật ngân hàng nhà nớc và luật
các tổ chức tín dụng do Quốc hội đã thông qua ngày 12 tháng 12 năm 2000.
Việc cho vay của ngân hàng thơng mại , và các tổ chức tín dụng phải tuân thủ
cơ chế cho vay theo nội dung các văn bản pháp quy sau đây:
- Pháp lệnh Ngân hàng Nhà nớc và Pháp lệnh ngân hàng thơng mại,
HTX/TD và công ty tài chính do Chủ tịch nớc ban hành ngày 24 tháng 5 năm
1993.
- Các văn bản do Thống đốc Ngân hàng Nhà nớc ban hành là:
+Quyết định số 198/QĐ- NH1 ngày 16-9-1997 ban hành tể lệ tín dụng
ngắn hạn đối với các tổ chức kinh tế.
+Quyết định số 199/QĐ- NH1 ngày 28-6-2000 về việc sửa đổi, bổ sung
một số điều của thể lệ tín dụng ngắn hạn ban hành theo quyết định 198.
+ Quyết định số 367/QĐ-NH1 ngày 21 tháng 12 năm 1998 về việc ban
hành thể lệ tín dụng trung hạn, dài hạn.
+ Quyết định số 200/QĐ-NH1 ngày 28-6-2000 về việc sửa đồi bổ sung
một số điểm của thể lệ TD trung hạn, dài hạn ban hành kèm theo quyết định số
367/QĐ-NH1.
+ Quyết định số 18/QĐ-NH5 ngày 16-2-1997 ban hành thể lệ cho vay vốn
phát triển kinh tế gia đình và cho vay tiêu dùng.
+ Quyết định số 77-NH- QĐ ngày 13-6-1994 ban hành thể lệ cho vay vốn
ứng dụng khoa học và công nghệ vào sản xuất.
+ Quyết định số 185 -QĐ-NH1 ngày 6-9-1997 về việc ban hành quy chế
dịch vụ cầm cố.v.v
Và các văn bản khác
Thời kỳ từ 1-10-2001 cơ chế cho vay của ngân hàng thực hiện theo: Luật
Ngân hàng Nhà nớc và luật các tổ chức tín dụng mà Quốc hội đã thông qua
ngày 12-12-2000.
Nh ta đã biết: trớc đây có nhiều văn bản pháp quy thực hiện nghiệp vụ cho
vay, nay chỉ một văn bản chung áp dụng cho các loại cho vay, đó là quyết định
số 324/2001/QĐ-NHNN1 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nớc về việc ban hành
quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng (kèm theo quy chế).
Một thời gian dài Việt Nam đi theo mô hình kinh tế kế hoạch hoá tập
trung bao cấp, do vậy nội dung cơ chế cho vay của ngân hàng còn có nhiều
khác biệt so với các nớc đi theo mô hình kinh tế thị trờng. Vì vậy để mở rộng
nghiệp vụ cho vay trong nớc và quan hệ vay nợ nớc ngoài ngày càng phát triển
thì cần đổi mới cơ chế cho vay từng bớc phù hợp với thông lệ quốc tế.
9
1.2.3. Nghiệp vụ cho vay của ngân hàng thơng mại và các tổ chức tín
dụng đảm bảo các nguyên tắc cơ bản sau đây:
Một: sử dụng vốn vay đúng mục đích để thoả thuận trong hợp đồng tín
dụng (cho vay có mục đích, có kế hoạch và có hiệu quả).
Cho vay có kế hoạch, có mục đích và có hiệu quả. Tức là, các đơn vị có
nhu cầu vay vốn của Ngân hàng đều phải có kế hoạch, đơn xin vay gửi ngân
hàng với đầy đủ các nội dung sau: Số tiền vay, thời hạn sử dụng vốn vay, mục
đích sử dụng vốn vay và tính hiệu quả của vốn vay ngân hàng. Trên cơ sở đó
ngân hàng kiểm tra xem xét, nếu thấy đồng vốn vay ngân hàng đem lại hiệu quả
kinh tế và trả nợ đúng hạn thì mới quyết định cho vay. Mặt khác trên cơ sở kế
hoạch xin vay vốn của ngời xin vay, bản thân ngân hàng phải xây dựng kế
hoạch cho vay vốn của mình để chủ động trong việc đầu t tín dụng. Nguyên tắc
đảm bảo cho khách hàng vay vốn có đủ vốn và vay vốn có kế hoạch. Đồng thời
nguyên tắc này nhằm tiết kiệm đồng vốn, đầu t vốn có trọng điểm và có hiệu
quả kinh tế cao. Ngoài ra nó còn tăng cờng sự giám đốc bằng đồng tiền của
ngân hàng đối với đơn vị vay vốn của ngân hàng.
Trờng hợp khách hàng có nhu cầu vay vốn phát sinh ngoài kế hoạch, ngân
hàng xét thấy cần thiết và hợp lý, cân đối với nguồn vốn của mình, có thể cho
vay bổ sung cho ngời vay. Vốn vay phải sử dụng đúng cam kết và mục đích.
Hai: Ngời vay vốn phải hoàn trả đúng kỳ hạn cả vốn và lãi. Bởi vì, nguồn
vốn cho vay của ngân hàng chủ yếu là nguồn vốn tập trung và huy động từ các
thành phần kinh tế trong xã hội. Do vậy, những ngời vay vốn của ngân hàng sau
một kỳ hạn nhất định nào đó đều phải hoàn trả đầy đủ cả gốc và lãi cho ngân
hàng. Đơn vị vay vốn sau một thời gian nhất định phải trả cho ngân hàng một
khoản lợi tức thoả thuận, vì đó là một trong những nguồn thu chủ yếu của ngân
hàng và là một cơ sở cho ngân hàng tiến hành hạch toán kinh doanh và thực
hiện nghĩa vụ với ngân sách nhà nớc, đến thời kỳ trả nợ mà đơn vị vay vốn
không trả cho ngân hàng thì ngân hàng sẽ chuyển sang nợ quá hạn và đơn vị
phải chịu lãi suất cao hơn lãi suất thông thờng. Đồng thời nó đảm bảo sự thống
nhất giữa vận động của vật t, hàng hoá và sự vận động của tiền tệ trong nền kinh
tế , góp phần ổn định tiền tệ và ổn định giá cả. Với nguyên tắc này ngân hàng
bảo toàn đợc vốn , kịp thời đa vốn vào hoạt động kinh doanh của mình, có thu
để bù đắp chi và có lãi nhằm duy trì và phát triển hoạt động của bản thân ngân
hàng.
Ba: Cho vay có giá trị vật t đảm bảo. Các đơn vị muốn vay vốn của ngân
hàng đều phải xuất trình đầy đủ chứng từ, hoá đơn, hợp đồng mua bán hàng
hoá. Trên cơ sở đó cán bộ ngân hàng tiến hành xét cho vay tơng đơng với giá trị
vật t hàng hoá đã đợc ghi trên chứng từ, hoá đơn hợp đồng. Điều này áp dụng
với doanh nghiệp Nhà nớc. Còn các doanh nghiệp ngoài quốc doanh muốn vay
vốn của ngân hàng đều phải thế chấp bằng tài sản, ngân hàng xét cho vay thông
thờng bằng 60-70% giá trị thế chấp. Thế chấp có thể bằng hàng hoá thông th-
ờng hoặc các chứng từ có giá nh tín phiếu , kỳ phiếu, cổ phiếu, giấy chứng nhận
10
quyền sở hữu bất động sản. Hoặc có thể vay vốn thông qua sự bảo lãnh của các
tổ chức kinh tế , tổ chức tín dụng có uy tín.
Trong suốt quá trình sử dụng vốn vay, các đơn vị vay vốn luôn có giá trị
vật t tơng đơng làm bảo đảm. Nguyên tắc này giúp cho các đơn vị sử dụng vốn
vay một cách có hiệu quả. Ngân hàng cho vay vốn an toàn tránh những rủi ro
không đáng có trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Bên cạnh, nguyên
tắc này bảo đảm quan hệ cân đối giữa tiền tệ và hàng hoá trong lu thông góp
phần bình ổn giá cả.
Ba nguyên tắc cơ bản nói trên có quan hệ mật thiết, gắn bó với nhau thành
một tổng thể thống nhất, có ảnh hởng rất lớn đến quan hệ tín dụng giữa ngân
hàng với các thành phần kinh tế , phòng ngừa đợc các yếu tố rủi ro đảm bảo an
toàn tín dụng. Và cũng là để "Vừa tạo tiền đề, vừa gây sức ép buộc các đơn vị
kinh tế tìm mọi biện pháp nâng cao hiệu quả kinh tế" , hoạt động tín dụng ngân
hàng cần chuyển mạnh và đúng hớng sang hạch toán kinh doanh thực sự, thúc
đẩy khẩn trơng tổ chức sắp xếp lại nền kinh tế - khách thể của tín dụng ngân
hàng, phù hợp với cơ chế thị trờng có sự quản lý điều tiết vĩ mô của Nhà nớc
theo định hớng XHCN. Đồng thời việc đổi mới khách thể là tiếp tục đổi mới,
hoàn thiện chủ thể của tín dụng ngân hàng làm cho nó đủ sức tạo đợc thị trờng
"đầu vào" để tăng nhanh nguồn vốn và mở rộng thị trờng "đầu ra" nghĩa là tín
dụng ngân hàng phải đổi mới mạnh mẽ, sử dụng giải pháp "khơi trong , hút
ngoài" và liên doanh liên kết kinh tế nhằm khai thác mọi nguồn vốn nhàn rỗi từ
các thành phần kinh tế và thu hút vốn đầu t của các chính phủ cũng nh t nhân n-
ớc ngoài để phát triển mạnh mẽ nền kinh tế và xây dựng đất nớc.
1.3- Vai trò nghiệp vụ cho vay trong hoạt động của ngân hàng thơng
nghiệp và tổ chức tín dụng.
Nghiệp vụ cho vay là nghiệp vụ sinh lợi chủ yếu của ngân hàng thơng mại
và tổ chức tín dụng nếu xét về thời hạn thì nghiệp vụ cho vay chủ yếu là cho vay
ngắn hạn. Chính loại cho vay này giúp cho tổ chức tín dụng giữ đợc khả năng
thanh toán, vì nó thích ứng với kết cấu bên khoản mục bên tài sản nợ. Tuy nhiên
đối với ngân hàng kinh doanh đa năng và Ngân hàng, tổ chức tín dụng lớn khi
tỷ trọng các loại tiền gửi dài hạn tăng lên thì họ cũng mở rộng các khoản tín
dụng trung và dài hạn.
Khối lợng tín dụng của ngân hàng thơng mại và tổ chức tín dụng cho các
doanh nghiệp công nghiệp, thơng nghiệp để thực hiện các khoản thanh toán và
dự trữ hàng hoá. Ngoài ra ngân hàng thơng mại , tổ chức tín dụng còn cho vay
đầu t phát triển dới hình thức tài trợ vay trung và dài hạn với một tỷ trọng hợp
lý; cho vay lĩnh vực nông nghiệp, cá nhân trong lĩnh vực nông nghiệp và cá
nhân trong lĩnh vực tiêu dùng
Các Ngân hàng thơng mại , tổ chức tín dụng làm tốt nghiệp vụ cho vay
cũng chính là thực hiện một trong những chức năng của Ngân hàng Thơng mại,
11
tổ chức tín dụng: chức năng tín dụng ngân hàng, nó sẽ đa lại những kết quả và
thuận lợi mới cho Ngân hàng Thơng mại, tổ chức tín dụng và nền kinh tế.
Trớc hết nó phục vụ việc phân phối lại vốn giữa các ngành kinh tế khác
nhau, góp phần vào việc bình quân hoá tỷ suất lợi nhuận và góp phần tích tụ, tập
trung vốn đối với nền kinh tế.
Nguồn vốn tín dụng là nguồn vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi đợc giải phóng
ra khỏi quá trình tuần hoàn của tái sản xuất và các khoản tiền gửi, tiền tiết kiệm
của các tầng lớp khác nhau trong xã hội đợc tập trung vào các ngân hàng với
một khối lợng rất lớn. Số vốn này đợc các ngân hàng cho các nhà sản xuất vay
bất kể họ sản xuất ở ngành nào. Do vậy mà tín dụng phục vụ việc phân phối lại
vốn giữa các ngành.
Mặt khác, quá trình cạnh tranh trong sản xuất đã dẫn đến các nhà sản xuất
từ bỏ ngành nào có lợi nhuận thấp để chuyển sang sản xuất ở ngành khác có lợi
nhuận cao hơn. Do vậy mà có sự dịch chuyển vốn từ ngành này sang ngành
khác. Sự dịch chuyển vốn này gặp rất nhiều khó khăn nh cơ sở vật chất, nhà x-
ởng, máy móc Đòi hỏi phải có một số lợng vốn lớn mới đáp ứng đợc yêu cầu.
Để giải quyết các khó khăn này, các nhà sản xuất đã dựa vào quan hệ tín dụng.
Tức là họ xin vay vốn tại các ngân hàng để đầu t vào ngành sản xuất có lợi
nhuận cao. Khi có sự tham gia của tín dụng, sự dịch chuyển vốn giữa các doanh
nghiệp đợc giải quyết nhanh chóng đã kích thích quá trình tái sản xuất xã hội,
tăng sức cạnh tranh làm thay đổi lợi nhuận cá biệt vốn có của các ngành tạo nên
tỷ suất lợi nhuận bình quân của toàn bộ nền kinh tế.
Cũng từ việc phân phối lại vốn mà tín dụng đợc đầu t vào các doanh
nghiệp lớn làm cho họ đứng vững trong cạnh tranh và thôn tính đợc các doanh
nghiệp nhỏ. Bởi vậy các doanh nghiệp nhỏ muốn tồn tại phải tập trung vốn lại
với nhau bằng cách hợp nhất lại thành các doanh nghiệp lớn. Do vậy các công
ty cổ phần lần lợt ra đời. Tín dụng càng phát triển, càng đẩy nhanh việc tập
trung vốn vào công ty cổ phần.
Ngoài ra, tín dụng góp phần gia tăng tốc độ tích luỹ vốn. Từng doanh
nghiệp muốn tích luỹ vốn để phát triển sản xuất phải trải qua một thời gian dài.
Nhờ có tín dụng mà các khoản vốn nhàn rỗi đợc tập trung lại vào các ngân hàng
và các ngân hàng đã cho các doanh nghiệp vay kịp thời làm cho sản xuất phát
triển mạnh, nhanh chóng tăng cờng tích luỹ vốn cho từng doanh nghiệp .
Tóm lại làm tốt nghiệp vụ cho vay Ngân hàng Thơng mại - Tổ chức tín
dụng thực hiện chức năng tín dụng ngân hàng tạo cho tổ chức tín dụng có vai
trò nổi bật trên các mặt sau đây:
Một là, thông qua chức năng phân phối lại vốn, tín dụng góp phần thúc
đẩy sản xuất phát triển, tăng trởng kinh tế.
12
Cụ thể: Tín dụng làm cho quy mô sản xuất ngày càng mở rộng, thu lợi
nhuận tối đa cho những nhà sản xuất lớn; tín dụng thúc đẩy quá trình cạnh tranh
tạo ra sức bật cho nền kinh tế.
Hai là; tín dụng đợc coi nh một công cụ trong chính sách tiền tệ quốc gia
để thực hiện điều hoà lu thông tiền làm cho tiền tệ ổn định. Thông qua tín dụng,
Ngân hàng Trung ơng tiến hành việc phát hành thêm tiền vào lu thông hoặc bớt
tiền ra khỏi lu thông tuỳ theo yêu cầu phát triển kinh tế. Nh vậy, yêu cầu quy
luật lu thông tiền tệ đợc tôn trọng.
Ba là, tín dụng là công cụ tài trợ cho các ngành kinh tế kém phát triển.
Nhờ có tín dụng cấp vốn mà nhiều lĩnh vực kinh tế, nhiều ngành kinh tế đã phục
hồi và phát huy đợc thế mạnh. Mặt khác, tín dụng góp phần tác động để tăng c-
ờng chế độ hạch toán kinh tế của các doanh nghiệp.
Bốn là, tín dụng tạo điều kiện phát triển các quan hệ kinh tế với nớc ngoài.
Tín dụng là phơng tiện nối liền kinh tế trong nớc với kinh tế nớc ngoài.

13
Chơng thứ hai
Thực trạng hoạt động nghiệp vụ cho vay của
ngân hàng công thơng Việt Nam.
2.1. Tổng quan về hệ thống tổ chức bộ máy của Ngân hàng Công th-
ơng Việt Nam.
2.1.1. Bộ máy tổ chức của Ngân hàng Công thơng Việt Nam.
Thực hiện nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VI (tháng 12/1986) chuyển nền
kinh tế nớc ta từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trờng có sự quản
lý vĩ mô của Nhà nớc theo định hớng XHCN, ngày 26-3-1988 Hội đồng Bộ tr-
ởng (nay là Chính phủ) ban hành Nghị định số 53/HĐBT về chuyển hoạt động
ngân hàng sang hạch toán kinh doanh và hình thành hệ thống ngân hàng hai
cấp. Từ ngày 1-7-1988 Ngân hàng Công thơng Việt Nam ra đời và đi vào hoạt
động trên cơ sở vụ tín dụng công thơng nghiệp của Ngân hàng Nhà nớc Trung -
ơng, với các chi nhánh hình thành từ Phòng tín dụng công nghiệp, thơng nghiệp
của các Chi nhánh Ngân hàng Nhà nớc Trung ơng. Có thể chia quá trình hình
thành tổ chức bộ máy hoạt động của Ngân hàng Công thơng Việt Nam 10 năm
qua thành 3 giai đoạn:
Giai đoạn thứ nhất: (từ tháng 7/1988 đến cuối năm 1993): Từ chỗ thành
lập 2 chi nhánh Ngân hàng Công thơng làm thí điểm tại Hải phòng và Tiền
Giang, đến 30/10/1988 toàn quốc đã có 32 chi nhánh ngân hàng công thơng
tỉnh, thành phố với 63 đơn vị trực thuộc. Trong giai đoạn này, mô hình tổ chức
hoạt động theo cơ chế: Bộ máy Ngân hàng Công thơng Trung ơng chỉ thực hiện
nhiệm vụ quản lý, chỉ đạo nh một liên hiệp xí nghiệp đặc biệt, các chi nhánh
thực hiện chế độ hạch toán kinh tế độc lập.
Giai đoạn thứ hai: (từ tháng 1/1994 đến tháng 9/1999):
Sau khi pháp lệnh ngân hàng có hiệu lực thi hành (10/1993), theo quyết
định 402/CT ngày 14/11/1993 của Chủ tịch HĐBT, Ngân hàng Công thơng Việt
Nam mới thực sự thành ngân hàng thơng mại có chức năng kinh doanh tiền tệ,
mô hình tổ chức kinh doanh đợc hình thành rõ Ngân hàng Công thơng Việt
Nam là một pháp nhân thực hiện hạch toán kinh tế độc lập, có các chi nhánh
hạch toán phụ thuộc.
Giai đoạn thứ ba (từ tháng 9/1999 đến nay):
Theo uỷ quyền của Thủ tớng Chính phủ, Thống đốc Ngân hàng Nhà nớc
Việt Nam đã ký quyết định số 285/QĐ- NH5 ngày 21/9/1999 thành lập lại
Ngân hàng Công thơng Việt Nam theo mô hình tổng công ty Nhà nớc quy định
tại quyết định 90/TTg ngày 7/3/1997 cuả Thủ tớng Chính phủ. Theo mô hình
này Ngân hàng Công thơng Việt Nam đợc quản lý bởi hội đồng quản trị
(HĐQT), điều hành là Tổng giám đốc có các đơn vị thành viên hoạch toán phụ
thuộc và các đơn vị hạch toán độc lập.
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét