LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "Thiên Long Bát Bộ _ Kim Dung _ Bản mới": http://123doc.vn/document/562233-thien-long-bat-bo-kim-dung-ban-moi.htm
www.VietKiem.com
i
LỜI NÓI ĐẦULỜI NÓI ĐẦU
Nguyễn Duy Chính
Sau khi hỏi ý kiến độc giả, một số đông đã đề nghò chúng tôi dòch bộ
truyện dài Thiên Long Bát Bộ. Bộ truyện này cùng với Lộc Đỉnh Ký là
hai bộ truyện dài nhất của Kim Dung. Bản chúng tôi dòch là bản đã được
sửa chữa, tái bản lần thứ hai do Viễn Ảnh công ti tại Đài Bắc ấn hành
tháng 8 năm 1981 bao gồm 5 quyển, 50 chương, 2124 trang.
Người ta vẫn bảo rằng Thiên Long Bát Bộ là truyện dài nhiều tình
tiết nhất, đông nhân vật, mỗi vai có một đặc tính riêng không người nào
giống người nào và có đến năm sáu người có thể coi như vai chính. Tuy
thế, trong khi còn đăng tải trên mặt báo, Thiên Long Bát Bộ cũng đã gây
ra nhiều mâu thuẫn, đặt ra nhiều câu hỏi cho độc giả và nhiều đoạn không
có câu trả lời. Do đó, bộ truyện này đã được Kim Dung sửa đổi nhiều chi
tiết, mặc dầu nội dung không khác nhưng đã tạo nên những nét chấm phá
mới khiến cho nó được xếp vào một trong những kỳ thư của nhà văn
Hương Cảng.
Theo Trần Thế Tương, một học giả quá cố Trung Hoa mà Kim Dung
rất kính trọng, Thiên Long Bát Bộ là một bộ truyện phải đọc đi đọc lại từ
đầu chí cuối nhiều lần mới thấy hết được cái hay của nó. Những lời phê
bình của học giả này đã được Kim Dung coi như là nói lên được tâm sự
của ông và chính vì thế, Thiên Long Bát Bộ có thể nói là một bộ truyện
mà Kim Dung rất tâm đắc. Trần tiên sinh là người duy nhất được Kim
Dung đề tặng trong bản mới lần in thứ hai này, một biệt lệ cho bất cứ tiểu
thuyết nào của Trung Hoa.
Cũng như Ỷ Thiên Đồ Long Ký, Kim Dung đã dụng công để đặt đề
tựa cho mỗi chương thành một câu trong một bài thơ. Bộ Thiên Long Bát
Bộ bao gồm năm bài thơ, mỗi bài mười câu nhưng Ỷ Thiên Đồ Long Ký
theo lối ca trù (Bá Lương Đài thể) còn Thiên Long Bát Bộ thì là năm bài,
mỗi quyển một bài theo lối từ. Kim Dung tiên sinh tự nhận rằng mình rất
kém về văn chương thi ca, việc làm của ông là một nỗ lực hết sức gắng
gượng – và chúng tôi cũng vậy, rất e ngại khi phải dòch những phần thi từ
đó ra tiếng Việt nên thường lần lữa không hoàn tất. Nếu có dòch thì chỉ để
}Ïïê£ ÛÕ£Ç °á® °Ỉ ËÇ¥£ ®áë: ?ï© õ¥£Ç ËÇ¥A,£ õ¥A ¬ÏÍ£Ï ðNëÏ
www.VietKiem.com
ii
cho khỏi bò thiếu sót nhưng chắc chắn có rất nhiều lủng củng, xin độc giả
cũng lượng tình cho.
Rút kinh nghiệm của thời gian qua, chúng tôi mong độc giả góp ý để
tiếp tục sửa chữa thường xuyên và thêm bớt những gì cần phải bổ túc. Rất
đông thân hữu đã góp ý và hiệu đính giùm một số sai lầm trong bộ Ỷ
Thiên Đồ Long Ký, nhân dòp này chúng tôi cũng xin cảm tạ chung các vò
đó. Một số bạn bè giúp dòch một vài đoạn thơ văn, có người đề nghò sửa
lại một vài chữ khó hiểu, và nhất là bạn DPLT đã chòu khó tìm tòi, tra cứu
sách vở chữ Hoa để giúp người dòch những phần thi từ còn bỏ dở.
Như đã thưa từ trước – đây chỉ là một việc làm cá nhân trong những
thì giờ eo hẹp của đời sống hết sức bận rộn – sau tất cả những nỗ lực phải
dành cho công việc và gia đình, việc dòch sách là một cái thú tiêu khiển
nên sẽ rất thư thả theo chương trình hai tuần một chương như năm qua.
Nếu đúng theo lòch trình đó, bộ truyện này sẽ có thể hoàn tất vào cuối
năm 2003 hay đầu năm 2004. Một số biên khảo cũng sẽ được tiến hành vì
có thể nói, Thiên Long Bát Bộ là một chuyến du hành khắp nước Trung
Hoa trong thời Tống, một giai đoạn mà nhiều nước sống bên cạnh nhau,
vẫn bang giao nhưng cũng đầy xung đột. Cứ theo những nhà chuyên khảo
về Kim Dung đây là bộ truyện mà Kim Dung dụng công hơn cả, chẳng
khác gì một bức tranh trải dài hàng dặm với tất cả những chi tiết ly kỳ
khiến cho người đọc phải say mê không sao dứt ra được.
Thời Bắc Tống là một giai đoạn hết sức thành tựu về mặt văn
chương, nghệ thuật của Trung Hoa mặc dầu có nhiều suy sụp về chính trò
và quân sự. Nước Tàu lúc đó được chia cắt thành nhiều quốc gia luôn luôn
biến động lúc thì liên kết đồng minh, lúc lại nhòm ngó, thôn tính lẫn nhau.
Phía Bắc là nước Liêu của người Khiết Đan đóng đô ở Lâm Hoàng
(Thượng Kinh). Phía Tây Bắc là Tây Hạ đóng đô ở Linh Châu. Nhà Tống
ở phía Đông Nam, kinh đô là Khai Phong. Chính Tây là Thổ Phồn tức
miền Ba Thục bây giờ. Tây Nam là Đại Lý và chính Nam là nước ta.
Qui mô đó khiến chúng ta được làm một cuộc du ngoạn theo cả thời
gian và không gian để đi ngang qua Đại Lý, Tống, Liêu, Tây Hạ, Thổ
Phồn với tất cả những đặc trưng về văn hóa của thời đại và sắc thái đòa
phương. Nhiều nhân vật chính liên tiếp mà tuyệt nhiên không có một nhân
}Ïïê£ ÛÕ£Ç °á® °Ỉ ËÇ¥£ ®áë: ?ï© õ¥£Ç ËÇ¥A,£ õ¥A ¬ÏÍ£Ï ðNëÏ
www.VietKiem.com
iii
vật nào hoàn toàn nổi bật và chi phối toàn cục khiến chúng ta có cảm
tưởng đây là nhiều truyện được nối lại với nhau. Cách dựng truyện đó đã
tạo nên một nét đặc thù và đưa Kim Dung lên một tầm vóc riêng mà
không phải ai cũng có được.
Mặc dù trên tổng quát bộ truyện không khác khi còn đăng trên mặt
báo bao nhiêu nhưng nếu đi vào chi tiết thì q độc giả sẽ thấy Kim Dung
đã thay đổi rất nhiều. Những chi tiết rườm rà và không liên tục đều bò cắt
bỏ, trong đó có khoảng 40,000 chữ do Nghê Khuông viết thay Kim Dung
khi ông đi xa cũng bò loại đi và nhiều đoạn mới được thêm vào. Những tên
nhân vật cũng nhiều thay đổi và chắc chắn nhiều người sẽ đặt câu hỏi về
việc đó. Tuy nhiên, một cách thường tình thì bản cuối cùng bao giờ cũng
là bản mà tác giả vừa ý nhất.
Bộ này được viết lần đầu năm 1963, đăng liên tục trên Minh Báo ở
Hongkong và Nam Dương thương báo ở Singapore, tổng cộng bốn năm
mới hoàn thành. Bản tu đính – tức bản đã được Kim Dung sửa lại hoàn tất
tháng 10 năm 1978 và ấn bản lần đầu vào năm 1979.
Mỗi câu chuyện xoay quanh một chủ đề, Ỷ Thiên Đồ Long Ký là câu
chuyện của kiếm Ỷ Thiên và đao Đồ Long
1
còn Thiên Long Bát Bộ thì
nói lên cái phức tạp và đa dạng của con người. Trước đây khi dòch ra tiếng
Việt người ta đã chia ra thành nhiều bộ nhỏ hơn (có lẽ vì mục tiêu thương
mại) như Lục Mạch Thần Kiếm, Thiên Long Bát Bộ, Nhất Dương Chỉ
nhưng nguyên tác của Kim Dung chỉ có một Thiên Long Bát Bộ mà thôi.
Kim Dung đã giải thích cái tên này như sau:
Thiên Long Bát Bộ là chữ lấy từ kinh Phật. Trong kinh của Phật Giáo
đại thừa có kể lại khi đức Phật thuyết pháp cho các bồ tát, tì khưu thường
có tám loại động vật đến nghe. Kinh Pháp Hoa, trong phẩm Đề Bà Đạt Đa
có chép:
1
không hiểu sao nhiều người lại đổi thành Đồ Long Kiếm trong đó có cả một tờ báo
đăng bản dòch mới ???
}Ïïê£ ÛÕ£Ç °á® °Ỉ ËÇ¥£ ®áë: ?ï© õ¥£Ç ËÇ¥A,£ õ¥A ¬ÏÍ£Ï ðNëÏ
www.VietKiem.com
iv
Thiên long bát bộ, nhân dữ phi nhân, giai dao kiến bỉ Long Nữ
thành Phật. (Trong tám loại chúng sinh trên trời, người cũng như
không phải người đều thấy được Long Nữ thành Phật)
2
Phi nhân là nói về những giống trông thì hình dáng như người nhưng
lại không phải người. Tám hạng đó đều là “phi nhân” là những hạng thần
vật mà Thiên và Long đứng đầu nên được gọi là Thiên Long Bát Bộ. Tám
loại đó gồm có: Thiên, Long, Dạ Xoa, Càn Thát Bà, A Tu La, Ca Lâu La,
Khẩn Na La, Ma Hầu La Gia
3
ø.
- Thiên là thiên thần, trong Phật giáo không phải là cao hơn hết
nhưng chỉ được hưởng phúc báu lâu dài, to lớn hơn người mà thôi.
Thiên thần vẫn còn trong cõi sinh tử, có sống có chết. Trước khi
chết thiên thần sẽ có năm triệu chứng: quần áo mủn nát, hoa trên
đầu héo hon, thân thể ô uế, nách chảy mồ hôi, đứng ngồi không yên
là thời kỳ đau buồn nhất của các thiên thần. Đế Thích là lãnh tụ của
mọi thiên thần.
- Long là long thần, nhưng rồng trong kinh Phật không có chân,
trông giống như một con mãng xà lớn. Quan niệm về rồng và về
Long Vương của Trung Hoa chính là vay mượn từ trong kinh Phật
mà ra. Người Ấn Độ ngày xưa rất sùng bái Long Vương, cho rằng
rồng là chúa tể các loài trong nước nên người Trung Hoa thường
dùng chữ long để chỉ những gì cao q và đức hạnh.
- Dạ Xoa là một loại q thần (nguyên nghóa dạ xoa là thần ăn được
q), rất mẫn tiệp, nhẹ nhàng, chia làm ba giống ở trên đất, trên
chốn không hư và trên trời. Ngày nay nói đến dạ xoa chỉ hàm một
nghóa ác q (chắc tại ảnh hưởng của truyện Tây Du Ký) nhưng
trong kinh Phật thì cón hiều dạ xoa rất tốt. Dạ Xoa Bát Đại Tướng
có nhiệm vụ bảo hộ chúng sinh.
2
Trong kinh khi đó chư đệ tử của Phật cho rằng Long Nữ là đàn bà không thể nào
thành Phật được nhưng Long Nữ biến thành đàn ông bay qua cõi Vô Cấu thành Phật
ngay lập tức.
3
Theo mặt chữ Hán có khác đôi chút nhưng đây chúng tôi dòch theo bản Kinh Diệu
Pháp Liên Hoa của chùa Khánh Anh (Paris) in lần 6 1998 trang 281
}Ïïê£ ÛÕ£Ç °á® °Ỉ ËÇ¥£ ®áë: ?ï© õ¥£Ç ËÇ¥A,£ õ¥A ¬ÏÍ£Ï ðNëÏ
www.VietKiem.com
v
- Càn Thát Bà là một giống không ăn thòt, không uống rượu chỉ sống
bằng mùi hương là một trong những nhạc thần phục thò Đế Thích,
thân thể có mùi thơm. Theo nghòa Phạn văn, Càn Thát Bà có nghóa
là biến ảo khôn lường vì mùi hương và âm nhạc đều mênh mang
không sao cân đo được.
- A Tu La là một loại thần đặc biệt, đàn ông thì thật xấu xa còn đàn
bà thì thật xinh đẹp. A Tu La Vương thường đánh nhau với Đế Thích
vì một bên có đồ ăn, một bên có mỹ nữ nên thường muốn chiếm
đoạt của nhau. A Tu La tính tình đố kỵ thích tranh giành là một
trong những ẩn dụ của nhà Phật để nói về tính xấu xa của con
người.
- Ca Lâu La là một giống chim lớn, đầu có một cái bướu to gọi là
Như Ý Châu. Loài chim này tiếng kêu bi thảm, trong thần thoại
Trung Hoa gọi là Đại Bàng Kim Sí Điểu (chim đại bàng cánh vàng)
mà danh tướng Nhạc Phi là hóa thân đầu thai. Giống chim này thích
ăn rồng, mỗi ngày phải bắt được một long vương hay 500 con rồng
con để ăn thòt. Vì nó ăn thòt rồng (độc xà) nhiều quá nên khi chết
chất độc xông lên cháy tiêu thành tro, chỉ còn một trái tim xanh
biếc.
- Khẩn Na La giống người mà không phải là người, đầu có sừng,
giỏi múa hát cũng là nhạc thần của Đế Thích.
- Ma Hầu La Gia là một vò thần rắn cực lớn, thân hình là người
nhưng đầu là đầu rắn.
Thiên Long Bát Bộ lấy đòa bàn là nước Đại Lý đời Bắc Tống (vào
khoảng đời Tiền Lê và đời Lý bên mình). Nước Đại Lý nằm ở phía Tây
Trung Hoa, Tây Bắc nước ta đòa bàn tỉnh Vân Nam bây giờ, nổi tiếng với
nhiều loại kỳ hoa dò thảo, đặc biệt là trà gồm cả trà uống (tea) và cây hoa
trà (camelia). Theo sử sách, khoảng năm 937 Đoàn Tư Bình sau khi chiếm
được nước Nam Chiếu lập nên nước Đại Lý. Đại Lý là một quốc gia theo
Phật giáo Mật tông (Acarya), từ vua tới dân đều sùng đạo, vua thường tại
vò một thời gian rồi xuất gia làm sư. Truyền thống đó ảnh hưởng đến nước
ta và đời Lý đời Trần nhiều người cũng nhường ngôi rồi đi tu, làm Thái
Thượng Hoàng.
}Ïïê£ ÛÕ£Ç °á® °Ỉ ËÇ¥£ ®áë: ?ï© õ¥£Ç ËÇ¥A,£ õ¥A ¬ÏÍ£Ï ðNëÏ
www.VietKiem.com
vi
Mật tông được truyền vào Trung Hoa do ba nhà sư Thiên Trúc là
Thiện Vô Úy (Subhnakarasimha), Kim Cương Trí (Vajrabodhi) và Bất
Không Kim Cương (Amoghavajra) vào khoảng đầu thế kỷ thứ 8. Mật tông
chú trọng đến niệm kinh, bắt ấn, sử dụng Mạn đà la và quán đỉnh. Giáo
pháp được thầy truyền bằng lời qua trò nên không được phổ biến rộng rãi.
Nước Đại Lý kéo dài 316 năm, 22 đời vua trong đó có mười người bỏ
ngôi đi tu, hai người được đề cập trong Thiên Long Bát Bộ là Bảo Đònh
Đoàn Chính Minh và Trung Tông Đoàn Chính Thuần. Một người khác
cũng được Kim Dung nói đến là Cảnh Tông Đoàn Chính Hưng (Kim Dung
lại viết là Đoàn Trí Hưng) hay Đoàn Hoàng Gia Nam Đế trong Anh Hùng
Xạ Điêu. Ông này cũng là con cháu họ Đoàn trong Thiên Long Bát Bộ.
Thiên Long Bát Bộ được đặt trong bối cảnh Bắc Tống, đời vua Triết
Tông Nguyên Tá, niên hiệu Thiệu Thánh khoảng cuối thế kỷ thứ 11. Kim
Dung dùng cái tên Thiên Long Bát Bộ là để chỉ những biến hóa phức tạp
của câu chuyện, ly kỳ chẳng khác gì những chuyện cổ tích của Ấn Độ mà
Phật Giáo mượn làm ẩn dụ. Phật giáo của giai đoạn này tại miền nam
Trung Hoa là Phật giáo Mật Tông nhiều thần bí pha trộn đủ màu sắc, nặng
phần nghi thức, đôi khi mê tín mặc dầu những khu vực chòu ảnh hưởng của
văn hóa Trung Hoa chuyên chở khá nhiều tính nghệ thuật, điển hình là
những điêu tượng và tranh vẽ mà người ta phát hiện ở Vân Nam, Tân
Cương, nhất là tại Đôn Hoàng. Chính vì màu sắc mê tín của thời sơ khai,
Nho giáo, các tôn giáo bản đòa và Phật giáo đã có những xung khắc đáng
kể. Hàn Dũ đời Đường (768 - 824) đã dâng sớ xin ngăn cấm đạo Phật và
đã dẫn tới việc phá hủy 5000 chùa lớn và 40,000 am nhỏ. Mấy trăm ngàn
tăng só và nữ ni bò bắt buộc phải hoàn tục. Điều đó cũng không phải là
không hay vì chính từ đó Thiền tông Trung Hoa có cơ hội nảy nở, xây
dựng những cơ sở triết học thanh thoát hơn và tạo ra hẳn một trường phái
mới, tổng hợp được nhiều ưu điểm, nhấn mạnh vào việc “kiến tính thành
Phật” và xa rời việc thờ cúng thần tượng và nghi lễ.
Tuy nhiên, Kim Dung lạiõ khai thác được những hình thái thần bí của
tôn giáo làm chất liệu khiến câu chuyện trở nên hấp dẫn hơn. Quan Âm
bồ tát đã được thế tục hóa qua một vương phi tự hiến thân cho một người
ăn mày để sinh ra một đứa con hoang giải quyết hầu như toàn bộ những
khúc mắc triền miên từ đầu đến cuối. Lẽ dó nhiên, chi tiết tưởng tượng kia
}Ïïê£ ÛÕ£Ç °á® °Ỉ ËÇ¥£ ®áë: ?ï© õ¥£Ç ËÇ¥A,£ õ¥A ¬ÏÍ£Ï ðNëÏ
www.VietKiem.com
vii
khiến cho câu chuyện thêm li lỳ, tuyệt nhiên không phải là một cách giải
thích những căn bản giáo lý.
Ngoài Phật giáo Mật Tông đã đóng một vai trò khá quan trọng làm
nền tảng cho nhiều tình tiết của câu chuyện, hai đề tài khác chúng ta cũng
cần biết thêm, mỗi đề tài đều bao quát đáng trở thành một nghiên cứu
riêng. Trong phần giới thiệu này chúng tôi chỉ đề cập đến một cách khái
quát.
Thứ nhất là ngoài môn Nhất Dương Chỉ, họ Đoàn Đại Lý còn một
tuyệt kỹ khác là Lục Mạch Thần Kiếm, một loại kiếm khí dùng sáu kinh
mạch của hai bàn tay để sử dụng.
- Thủ thái âm phế kinh bắt đầu ở trung tiêu, đi vòng
xuống ruột già rồi chạy lên ngực, yết hầy đi ra cánh tay và chấm
dứt ở đầu ngón tay cái.
- Thủ dương minh đại trường kinh bắt đầu từ đầu ngón
tay đeo nhẫn chạy lên vai rồi chia thành hai nhánh, một nhánh
xuống ruột già, một nhánh lên đầu chấm dứt ở cạnh mũi.
- Thủ thiếu âm tâm kinh bắt đầu từ tim chia ra ba nhánh,
một nhánh qua hoành cách mạc xuống ruột non, một nhánh theo
thực quản lên mắt, và một nhánh đi qua phổi, sang tay tới ngón
tay út.
- Thủ thái dương tiểu trường kinh bắt đầu từ ngoài ngón
tay út chạy theo tay lên vai gặp đốc mạch ở huyệt đại truy chi
thành hai nhánh, một nhánh đi xuống ruột non, một nhánh chạy
lên mặt đi vào tai.
- Thủ quyết âm bao tâm kinh bắt đầu từ ngực nối liền
tam tiêu rồi chạy ra cánh tay tới ngón tay giữa.
- Thủ thiếu dương tam tiêu kinh khởi đầu từ ngón tay đeo
nhẫn chạy theo tay lên vai chia thành hai nhánh một nhánh nối
liền tam tiêu, một nhánh chạy lên cổ vòng qua tai rồi ngừng lại
tại mắt.
}Ïïê£ ÛÕ£Ç °á® °Ỉ ËÇ¥£ ®áë: ?ï© õ¥£Ç ËÇ¥A,£ õ¥A ¬ÏÍ£Ï ðNëÏ
www.VietKiem.com
viii
Thủ thái âm PHẾ kinh, thủ quyết âm TÂM BAO kinh và thủ thiếu
âm TÂM kinh là ba đường kinh ÂM nằm ở bên trong cánh tay, gọi là
THỦ TAM ÂM thuộc lý (bên trong) dẫn chân khí từ ngực chạy vào tay.
Thủ dương minh ĐẠI TRƯỜNG kinh, thủ thiếu dương TAM TIÊU
kinh, và thủ thái dương TIỂU TRƯỜNG kinh nằm ở mặt ngoài cánh tay
gọi là THỦ TAM DƯƠNG, thuộc biểu (bên ngoài) từ tay chạy lên đầu.
Thứ hai một đặc sản của nước Đại Lý là hoa trà cũng được nhắc tới
khá nhiều. Khi đề cập tới vùng Vân Nam, người Trung Hoa vẫn thường tự
hào là ở đây có tám loại danh chủng nổi tiếng trên thế giới gồm có sơn trà
(camelia), đỗ quyên (azalea), mộc lan (magnolia obovata), báo xuân, bách
hợp, phương lan, long đảm, lục nhung hao.
Sơn trà của Đại Lý đã biến câu chuyện trở nên thơ mộng và thú vò
khi chúng ta nghe Đoàn Dự luận về hoa trà với Vương phu nhân sau đây:
Vương phu nhân vẻ mặt đắc ý, nói:
- Đoàn công tử, nước Đại Lý của cậu hoa trà rất nhiều, nhưng
nếu so sánh với của ta chắc không thể bì kòp.
Đoàn Dự gật đầu:
- Những hoa trà loại này dân Đại Lý chúng tôi chẳng ai trồng
cả.
Vương phu nhân cười khanh khách:
- Thật ư?
Đoàn Dự nói:
- Những người dân quê mùa tầm thường ở Đại Lý cũng biết các
loại hoa này phẩm chất kém cỏi, trồng chẳng cao sang gì.
Vương phu nhân mặt biến sắc, giận dữ nói:
- Ngươi nói sao? Ngươi bảo hoa trà ta trồng là loại tục phẩm ư?
Nói như thế chẳng hóa, chẳng hóa khinh người quá lắm.
Đoàn Dự nói:
- Phu nhân tin hay không tin cũng tùy ở người.
Chàng vừa nói vừa chỉ một cây hoa trà ngũ sắc trước lầu:
}Ïïê£ ÛÕ£Ç °á® °Ỉ ËÇ¥£ ®áë: ?ï© õ¥£Ç ËÇ¥A,£ õ¥A ¬ÏÍ£Ï ðNëÏ
www.VietKiem.com
ix
- Giá thử như cây này, bà tưởng nó q lắm ư. Hứ, đẹp thật, cái
lan can này thật là đẹp, thật là đẹp.
Chàng tấm tắc khen cái lan can đẹp mà hoa thì chẳng nhắc đến
một câu khác nào người xem chữ viết, không nhắc đến chữ mà chỉ
khen lấy khen để mực đen và giấy tốt.
Cây hoa trà đó vừa trắng vừa đỏ, vừa tía vừa vàng, sắc hoa thật
là rực rỡ, từ trước tới nay Vương phu nhân vẫn coi là trân phẩm.
Nay thấy Đoàn Dự có vẻ xem thường nên lông mày bà nhướng lên,
mắt lộ sát ý. Đoàn Dự nói:
- Xin hỏi phu nhân, giống hoa này ở Giang Nam gọi tên là gì?
Vương phu nhân hậm hực đáp:
- Chúng tôi chẳng gọi tên gì đặc biệt, chỉ gọi là hoa trà Ngũ
Sắc.
Đoàn Dự mỉm cười:
- Đại Lý chúng tôi có đặt cho nó một cái tên, gọi là Lạc Đệ Tú
Tài (thư sinh thi hỏng).
Vương phu nhân hừ một tiếng:
- Cái tên sao khó nghe làm vậy, chắc ngươi tiện mồm đặt ra
chứ gì. Cây hoa đẹp đẽ như thế, sao lại giống gã thư sinh thi hỏng?
- Phu nhân thử nhìn lại xem, cây hoa này cả thảy tất cả mấy
màu.
Vương phu nhân nói:
- Ta đã đếm qua, cũng phải có đến 15, 16 màu khác nhau.
Đoàn Dự nói:
- Cả thảy đúng ra là 17 màu. Đại Lý có một loại hoa q giá
nổi tiếng tên gọi Thập Bát Học Só. Đó là thiên hạ cực phẩm, trên
cây có đủ 18 đóa hoa, mỗi đóa một màu khác nhau, hồng thì toàn
hồng, tía thì toàn tía, không một mảy lẫn lộn. Nhưng cả 18 đóa hoa
mỗi đóa hình trạng khác nhau, mỗi đóa một vẻ, nở thì cùng nở, tàn
thì cùng tàn, phu nhân đã thấy bao giờ chưa?
}Ïïê£ ÛÕ£Ç °á® °Ỉ ËÇ¥£ ®áë: ?ï© õ¥£Ç ËÇ¥A,£ õ¥A ¬ÏÍ£Ï ðNëÏ
www.VietKiem.com
x
Vương phu nhân nghe qua thẫn thờ, lắc đầu:
- Trên đời này lại có loại hoa như thế sao? Đến nghe nói tới ta
cũng chưa nghe bao giờ.
Đoàn Dự nói:
- So với Thập Bát Học Só kém một mức là Thập Tam Thái Bảo
là 13 đóa hoa khác nhau trên cùng một cây. Rồi đến Bát Tiên Quá
Hải là 8 đóa khác nhau một cây. Thất Tiên Nữ là 7 đóa. Phong Trần
Tam Hiệp là ba đóa. Nhò Kiều là một trắng một đỏ hai đóa. Nói đến
hoa trà là phải thuần sắc, nếu như trong đỏ có lẫn trắng, trong trắng
lẫn tía thì là hạ phẩm rồi.
Vương phu nhân bỗng nhiên đờ đẫn, nhìn về xa xăm, nói một
mình:
- Sao y không nói cho ta biết nhỉ?
Đoàn Dự nói tiếp:
- Trong Bát Tiên Quá Hải có cả hoa màu tía sậm và màu
hồng nhạt, đó là Lý Thiết Quài và Hà Tiên Cô, nếu thiếu hai
màu đó, dù là tám màu khác nhau cũng không được gọi là Bát
Tiên Quá Hải mà gọi là Bát Bảo Trang, tuy cũng là danh chủng
nhưng so với Bát Tiên Quá Hải còn thua một bậc.
Vương phu nhân nói:
- Nguyên lai như thế.
Đoàn Dự lại tiếp:
- Trở lại Phong Trần Tam Hiệp cũng có chính phẩm và phó
phẩm. Nếu là chính phẩm, trong ba đóa thì đóa màu tía phải to nhất,
đó là Cầu Nhiêm Khách, đóa màu trắng nhỏ hơn, đó là Lý Tònh,
đóa màu hồng nhỏ nhất nhưng cũng kiều diễm nhất đó là Hồng Phất
Nữ. Nếu như hoa màu hồng lại to hơn hoa màu tía, hoa màu trắng
thì là phó phẩm, hai đằng một trời một vực.
Người ta đã bảo quen thuộc như đồ trong nhà mình. Trong nhà
Đoàn Dự có tất cả những loại này nên chàng nói ra vanh vách đâu
ra đấy. Vương phu nhân nghe thật thích thú thở dài:
}Ïïê£ ÛÕ£Ç °á® °Ỉ ËÇ¥£ ®áë: ?ï© õ¥£Ç ËÇ¥A,£ õ¥A ¬ÏÍ£Ï ðNëÏ
www.VietKiem.com
xi
- Đến phó phẩm ta cũng chưa được nhìn qua nói gì chính phẩm
!
Đoàn Dự chỉ vào cây hoa trà ngũ sắc nói:
- Còn loại hoa trà này, nếu luận về sắc so với Thập Bát Học Só
còn kém một, lại không thuần, nở thì khi sớm khi muộn, hoa thì đóa
nhỏ đóa to. Chẳng khác gì Đông Thi giả nhăn mặt, học đòi làm
Thập Bát Học Só thì không xong. Vì thế chúng tôi đặt cho cái tên
Lạc Đệ Tú Tài.
4
Quả thật khi đọc xong đoạn này, chúng tôi cũng tò mò đi tìm tài liệu
để xem những gì Kim Dung viết ra là có thực hay chỉ do óc tưởng tượng
phong phú của ông nhưng đến nay vẫn chưa có kết quả như ý. Theo những
sách vở chúng tôi có trong tay, đặc biệt là cuốn sách viết rất công phu
Vân Nam Phong Vật Chí (Dư Gia Hoa, Vân Nam Nhân Dân xb 1984)
trong đó có những chương nghiên cứu khá công phu về hoa trà nhưng
không thấy nói đến những chủng loại mà Kim Dung đã đề cập.
Trên thế giới hiện nay có chừng hơn tám mươi loại hoa trà (không kể
những giống được lai tạo) thì Vân Nam đã có khoảng ba mươi lăm loại.
Trong những loại hoa trà danh tiếng ở Vân Nam người ta thấy có đồng tử
diện, tuyết sư, tùng tử lân, tử bào, kim đái, ngân đái, mẫu đơn trà, hận
thiên cao, điệp sí, liễu diệp ngân hồng, tảo đào hồng, kim biên mẫu đơn,
thông thảo phiến mỗi loại có một đặc điểm.
Hiện nay tại nhiều danh thắng, cổ tích tại hai tỉnh Vân – Q còn
nhiều cây trà cổ thụ, mỗi năm ra hàng vạn đóa hoa, chẳng hạn như tại
chùa Ngọc Phong bên bờ sông Lệ chân núi Ngọc Long còn một cây trà
kép dính liền hai loại với nhau nên màu sắc rất phong phú. Cây trà này
trồng từ đời Minh Thành Hóa (thế kỷ thứ 15) tính ra đã hơn 500 năm được
mệnh danh là “đệ nhất hoàn cầu”. Tần Nhân Xương, một thực vật gia
Trung Hoa đã nói:
4
Thiên Long Bát Bộ, tập 2, Viễn Ảnh xuất bản, Đài Bắc 1981, trang 495-7
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét