LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "một số giải pháp chuyển dịch cơ cấu ngành thuỷ sản thực hiện chiến lược phát triển thuỷ sản đến năm 2010": http://123doc.vn/document/1053629-mot-so-giai-phap-chuyen-dich-co-cau-nganh-thuy-san-thuc-hien-chien-luoc-phat-trien-thuy-san-den-nam-2010.htm
ớc và xuất khẩu. Đồng thời phải kết hợp tối u giữa cơ cấu ngành với cơ cấu
vùng lãnh thổ và cơ cấu các thành phần kinh tế.
Chuyển dịch cơ cấu ngành của nền kinh tế thành công hay thất bại phụ
thuộc rất nhiều vào khâu quyết định chủ trơng chuyển dịch và tổ chức thực
hiện các mục tiêu, nhiệm vụ đã xác định. ở đây, nhà nớc có vai trò quyết định
trong việc hoạch định chủ trơng và chính sách kinh tế vĩ mô, còn các doanh
nghiệp thì có vai trò quyết định việc thực thi phơng hớng, nhiệm vụ chuyển
dịch.
b) Chuyển dịch cơ cấu ngành thuỷ sản:
Chuyển dịch cơ cấu ngành Thuỷ Sản là sự thay đổi cơ cấu ngành Thuỷ
Sản từ trạng thái này sang trạng thái khác hợp lý và hiệu quả hơn dới tác động
của nhiều yếu tố (Thị trờng, giá cả, kinh tế, xã hội) theo mục tiêu đặt ra
trong từng thời kỳ nhất định. Trong qúa trình chuyển dịch, cơ cấu ngành Thuỷ
Sản có sự thay đổi tỉ lệ cả về mặt lợng và mặt chất. Quá trình chuyển dịch cơ
cấu ngành Thuỷ Sản ở Việt Nam đợc gắn liền với Công Nghiệp Hoá và Hiện
Đại Hoá theo hớng xuất khẩu.
Mục tiêu chuyển dịch cơ cấu ngành Thuỷ Sản ở mỗi thời kỳ khác nhau
không giống nhau, nó nhằm vào sự phát triển chung của ngành Thuỷ Sản và sự
phát triển bền vững của ngành. Vấn đề phát triển bền vững của ngành Thuỷ
Sản những năm gần đây đợc đề cập rất lớn và cũng do vậy chuyển dịch cơ cấu
ngành Thuỷ Sản cũng diễn ra mạnh mẽ hơn: chuyển dịch cơ cấu ngành không
chỉ đợc đề cập ở các tiểu ngành cấu thành nên ngành mà còn ở cả trong nội bộ
của các tiểu ngành, các lĩnh vực sản xuất kinh doanh. Chủ trơng chuyển dịch
cơ cấu ngành Thuỷ Sản của Bộ Thuỷ Sản và nhà nớc là: cơ cấu lại hợp lý giữa
các tiểu ngành tạo sự phát triển cân đối giữa các bộ phận trong ngành, chuyển
dịch cơ cấu giữa nuôi trồng và khai thác thuỷ sản, đẩy mạnh chế biến thơng
mại thuỷ sản theo hớng xuất, đa ngành Thuỷ Sản trở thành ngành mũi nhọn
trong công cuộc phát triển đất nớc. Nét đặc biệt trong chuyển dịch cơ cấu
ngành Thuỷ sản Việt Nam là chú trọng cả nuôi trồng, khai thác, xuất khẩu
thuỷ sản.
Trong nuôi trồng chú ý cải tạo giống, khai thác bảo vệ môi trờng cùng
nguồn lợi thuỷ sản. Trong đánh bắt, khai thác chú trọng kết hợp khai thác gần
bờ và xa bờ, kết hợp khai thác với bảo vệ nguồn lợi. Trong chế biến chú trọng
vào đầu t đổi mới kỹ thuật, công nghệ, nâng cao chất lợng sản phẩm dịch vụ
xuất khẩu.
5
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thành Lân
2. Sự cần thiết của chuyển dịch cơ cấu ngành thuỷ sản.
2.1. Nhu cầu khách quan của chuyển dịch cơ cấu ngành Thuỷ Sản.
Quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành Thuỷ Sản trớc hết đợc bắt đầu từ
yêu cầu tăng trởng của ngành Thuỷ Sản. Tăng trởng ở đây không phải là sự gia
tăng sản lợng đơn thuần mà đó là sự gia tăng giá trị đợc tạo ra từ quá trình sản
xuất của các lĩnh vực, các tiểu ngành trong ngành thuỷ sản. Trớc kia, ngành
Thuỷ sản Việt Nam có đợc sự phát triển là nhờ phần lớn vào sự phát triển của
ngành khai thác hải sản. Ngày nay, đứng trớc nhu cầu phát triển ngành Thuỷ
sản ngày càng cao, nó đặt ra những nhu cầu mới cần phải chuyển dịch cơ cấu
ngành. Tức là, cần phát triển đồng thời hợp lý các tiểu ngành, các lĩnh vực sản
xuất kinh doanh để tạo ra một sự phát triển đồng bộ. Sản lợng của toàn ngành
không chỉ bó buộc do khai thác đem lại. Đóng góp giá trị ngành Thuỷ sản có
mặt của nhiều lĩnh vực: khai thác, nuôi trồng, chế biến và thơng mại thuỷ sản.
Đặc biệt nhấn mạnh phát triển chế biến thuỷ sản để tăng giá trị gia tăng trên
một đơn vị sản phẩm thuỷ sản; nhấn mạnh xuất khẩu để mở rộng cầu, phát
triển cung. Trên cơ sở thực tiễn, nó đòi hỏi ngành cần có sự thay đổi, biến đổi
cơ cấu trong nội bộ ngành để ngành có thể phát triển mở rộng đảm bảo phát
triển bền vững. Tài nguyên biển là một dạng tài nguyên có thể tái sinh nhng
cũng là hữu hạn. Trong thực tế, sự phát triển của nghề khai thác thuỷ sản ở các
vùng biển gần bờ nơi có điều kiện thuận lợi nhất đã bị tận dụng hết, nhiều nơi
đã sử dụng quá mức, có nơi đã làm cho nguồn lợi bị suy giảm nghiêm trọng
kéo theo là sự giảm sút về hiệu quả thu nhập, và đi theo nó là sự tăng nguy cơ
phá sản đối với các nghề khai thác cũng nh những cộng đồng ng dân khai
thác. Cùng với việc khai thác qua mức là hậu quả về môi trờng đè nặng lên sự
phát triển bền vững của ngành Thuỷ Sản cũng nh sự phát triển bền vững của
nền kinh tế.
Xuất phát từ yêu cầu khai thác lợi thế của ngành: Tiềm năng để phát
triển ngành thuỷ sản Việt Nam là rất lớn cả về điều kiện tự nhiên và nguồn lợi
thuỷ sản. Ngành thuỷ sản Việt Nam có đợc những lợi thế phát triển hơn hẳn
những ngành khác, đặc biệt trong cơ cấu nông - lâm - ng nghiệp. Xuất phát từ
những lợi thế phát triển ngành nó đã đặt ra những yêu cầu cần phải chuyển
dịch cơ cấu ngành, phát huy hết lợi thế trên từng tiểu ngành, từng lĩnh vực sản
xuất kinh doanh, từng sản phẩm tiêu thụ. Ngành thuỷ sản trong giai đoạn gần
đây đã chiếm một vị trí quan trọng trong phát triển nền kinh tế đặc biệt trong
kim ngạch xuất khẩu. Ngành thuỷ sản muốn phát triển cần phải xây dựng một
6
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thành Lân
cơ cấu ngành hợp lý đáp ứng đợc các nhu cầu về phát triển ngành trong thời
gian tới.
Yêu cầu khách quan của sự nghiệp CNH-HĐH: Ngành thuỷ sản cũng
nh các ngành khác trong nền kinh tế đều đứng trớc những nhu cầu khách quan
của sự nghiệp CNH HĐH đất nớc. Ngành Thuỷ sản phải chuyển từ sản xuất
nhỏ sang sản xuất lớn, đa các thành quả của khoa học kỹ thuật vào sản xuất
nhằm hiện đại hoá các công đoạn sản xuất, dây chuyền sản xuất nâng cao chất
lợng sản phẩm thuỷ sản. Muốn vậy, cần phải xây dựng và hình thành nên một
cơ cấu ngành hợp lý hiệu quả với sự phát triển cân đối của các tiểu ngành.
Chuyển dịch cơ cấu ngành Thuỷ sản hiện nay đợc gắn với quá trình công
nghiệp hoá và hiện đại hoá theo hớng xuất khẩu.
Chiến lợc phát triển vì con ngời chỉ ra rằng: mọi sự phát triển và tăng tr-
ởng muốn thực hiện đợc đều phải có các tác động thúc đẩy. Động lực đó là gì
nếu không phải là chính quyền lợi của con ngời?. Bởi vì chính con ngời mới
làm nên lịch sử, nếu không tạo ra cho con ngời sự kích thích bằng chính lợi
ích của họ thì sẽ không có sự tham gia tích cực nào của con ngời vào các hoạt
động nhằm đa nền sản xuất, kinh tế xã hội phát triển nhanh đợc. Do vậy,
chăm lo đến lợi ích của con ngời, mọi yếu tố liên quan đến con ngời phải đợc
đặt lên hàng đầu trong mọi quốc sách. Ngành Thuỷ Sản góp phần tạo công ăn
việc làm và thu nhập cho hàng triệu ngời dân Việt Nam. Nhiều cộng đồng dân
c, nhất là các cộng đồng dân c ven biển, trên vùng đầm phá có cuộc sống phải
dựa vào ngành thuỷ sản, trong số họ, đại bộ phận là dân nghèo. Nhờ chuyển từ
sản xuất chỉ cho tiêu dùng trong nớc sang xuất khẩu, nhờ quá trình chuyển
dịch từ khai thác sang nuôi trồng, nhờ tác động của sự phát triển kinh tế nên
giá cả và vị trí của các sản phẩm thuỷ sản tăng lên làm cho việc sản xuất các
mặt hàng thuỷ sản tăng lên, đời sống của ngời sản xuất thuỷ sản đợc cải thiện,
nhiều công việc mới đợc mở ra do phát triển khai thác, nuôi trồng, chế biến
dịch vụ cho nghề cá. Vậy nhu cầu khách quan của chuyển dịch cơ cấu ngành
Thuỷ Sản còn xuất phát từ chiến lợc phát triển vì con ngời của Việt Nam.
Kinh nghiệm phát triển ngành Thuỷ Sản của các nớc cho thấy rằng: để
phát triển ngành Thuỷ Sản thì cần phải chuyển dịch cơ cấu ngành: thiết lập
một cơ cấu ngành hợp lý đảm bảo sự phát triển cân đối giữa các bộ phận đặc
biệt phải đề cao công nghệ chế biến vì chế biến là khâu làm tăng giá trị của
sản phẩm thuỷ sản mà không phụ thuộc vào nguồn lợi thuỷ sản vì nguồn lợi
thuỷ sản không phải là vô hạn. ở nhiều quốc gia có ngành Thuỷ Sản phát triển
mạnh, giá trị đóng góp lớn trong GDP ngành lại là do khai thác xa bờ và nuôi
7
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thành Lân
trồng thuỷ sản đem lại. Điều này khác hẳn với Việt Nam vì khả năng đánh bắt
xa bờ của Việt Nam còn ở mức thấp. Đối với Việt Nam, khai thác gần bờ đã
tới trần, khai thác xa bờ cha thực sự phát triển, vậy để nâng cao sản lợng khai
thác chỉ còn cách chuyển từ khai thác gần bờ sang khai thác xa bờ kết hợp với
đẩy mạnh nuôi trồng thuỷ sản. Đó cũng chính là nội dung của chuyển dịch cơ
cấu ngành thuỷ sản trong giai đoạn hiện nay.
2.2. Vai trò của chuyển dịch cơ cấu ngành Thuỷ sản trong giai đoạn hiện nay.
Chuyển dịch cơ cấu ngành Thuỷ Sản có vai trò to lớn không chỉ đối với
sự phát triển của ngành Thuỷ Sản mà còn có ý nghĩa đối với sự phát triển của
nền kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của đất nớc. Đặc biệt trong chuyển
dịch cơ cấu kinh tế nông - lâm - ng nghiệp. Vai trò đó đợc thể hiện ở một số
nội dung chính sau:
a) Chuyển dịch cơ cấu ngành Thuỷ Sản có vai trò trong sự phát triển của
ngành Thuỷ Sản:
Chuyển dịch cơ cấu ngành là sự thay đổi cơ cấu từ trạng thái này sang
trạng thái khác hợp lý và hiệu quả hơn, dới sự định hớng có mục đích và dựa
trên cơ sở phân tích đầy đủ căn cứ lý luận và thực tiễn. Mục đích cao nhất của
chuyển dịch cơ cấu ngành là đạt tới một cơ cấu mà ở đó tạo đợc sự phát triển
cho bản thân ngành cũng nh toàn bộ nền kinh tế. Nên nó có vai trò hết sức
quan trọng để đảm bảo bền vững đối với ngành và nền kinh tế. Đến lợt nó, khi
ngành, nền kinh tế phát triển ở một mức độ nào đó thì có tác dụng trở lại đến
quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành, đặt ra những yêu cầu mới cũng nh tạo
mọi điều kiện để cơ cấu ngành chuyển dịch ngày càng hợp lý hơn.
Chuyển dịch cơ cấu ngành và phát triển ngành có vai trò qua lại bổ
xung cho nhau trong quá trình phát triển để đạt đợc trình độ cao hơn. Đối với
ngành thuỷ sản, chuyển dịch cơ cấu ngành cũng có vai trò quan trọng trong sự
phát triển của ngành.
Ngành Thuỷ Sản muốn phát triển đòi hỏi phải có một cơ cấu ngành hợp
lý, tạo ra những động lực cho sự phát triển. Điều đó có nghĩa là tác động của
quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành tạo ra những ngành mới, các lĩnh vực sản
xuất mới nhằm nâng cao sản lợng, giá trị của ngành Thuỷ Sản. Trớc kia, sản l-
ợng của ngành phần lớn là do khai thác đem lại, sản lợng từ nuôi trồng chỉ
chiếm tỉ trọng rất nhỏ. Trong khi đó chúng ta lại khai thác tới trần ở các khu
vực gần bờ, một số nơi có nguồn lợi nhất đã khai thác quá mức. Do vậy, cần
mở rộng khai thác ra xa bờ để không những đảm bảo nhu cầu trong nớc mà
còn tăng sản lợng để xuất khẩu. Chính quá trình chuyển dịch cơ cấu đã làm
8
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thành Lân
tăng sản lợng của toàn ngành Thuỷ Sản bằng nhiều con đờng hợp lý hơn: khai
thác gần bờ kết hợp với khai thác xa bờ, khai thác kết hợp với nuôi trồng. Và
từ đây, giá trị của toàn ngành đợc nâng lên ngoài do việc tăng sản lợng mà còn
do mở rộng chế biến thơng mại thuỷ sản đem lại.
Chuyển dịch cơ cấu ngành thuỷ sản có vai trò trong tăng trởng của
ngành, GDP của ngành Thuỷ Sản trong hơn 10 năm gần đây không ngừng tăng
lên: năm 1991 là 2.272 tỉ đồng, năm 1995 là 6.664 tỉ đồng đã tăng lên 3 lần so
với năm 1991, năm 2002 là 20.340 tỉ đồng đã tăng xấp xỉ 3,1 lần so với năm
1995. Đó là thành công rất lớn của ngành Thuỷ Sản trong giai đoạn vừa qua
mà vai trò không thể không kể đến đó là do chuyển dịch cơ cấu ngành.
Không chỉ tác động đến tăng trởng của ngành, chuyển dịch cơ cấu
ngành còn có vai trò trong việc đảm bảo sự phát triển bền vững của ngành.
Trong nội dung của chuyển dịch cơ cấu ngành thuỷ sản, chúng ta đẩy mạnh
phát triển nuôi trồng thuỷ sản là một hớng đi không những đảm bảo phát triển
ngành thuỷ sản mà còn tác động đến vấn đề bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản, tạo sự
phát triển lâu dài cho ngành thuỷ sản.
b) Chuyển dịch cơ cấu ngành thuỷ sản góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ
cấu ngành kinh tế cả nớc:
Xu hớng chuyển dịch nông- lâm- ng nghiệp là tăng tỷ trọng các ngành
lâm nghiệp - ng nghiêp (Thuỷ sản) đặc biệt là ng nghiệp, đa ngành thuỷ sản
trở thành một ngành mũi nhọn trong quá trình phát triển kinh tế, giảm tơng
đối tỷ trọng ngành nông nghiệp. Muốn vậy, theo tinh thần của Nghị quyết 09
NQ-CP của Chính phủ về chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi trong nông
nghiệp, chúng ta cần chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu trong ngành thuỷ sản, từng
bớc tạo ra một cơ cấu hợp lý trong ngành để đảm bảo sự phát triển và đóng
góp vai trò trong quá trình chuyển dịch nông- lâm- ng nghiệp hiện nay của đất
nớc. Chuyển dịch cơ cấu ngành thuỷ sản có tác động trực tiếp đến chuyển dịch
cơ cấu nông nghiệp, gắn liền với quá trình công nghiệp hoá- hiện đại hoá nông
nghiệp nông thôn. Vai trò của chuyển dịch cơ cấu ngành thuỷ sản còn thể hiện
ở vấn đề phát triển phối hợp giữa các tiểu ngành trong nghề nông nghiệp
(Theo nghĩa rộng) ở khâu sử dụng đất, nguồn nớc và không gian lãnh thổ.
Trong quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành thuỷ sản, diện tích nuôi
trồng thuỷ sản ngày càng mở rộng đóng góp một phần không nhỏ và chuyển
dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn, nhờ việc chuyển một bộ phận diện
tích đất đai đang canh tác nông nghiệp, trồng lúa, làm muối kém hiệu quả
sang nuôi trồng thuỷ sản. ở nhiều địa phơng trên nhiều miền của đất nớc mở
9
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thành Lân
rộng diện tích có thể nuôi trồng đợc thuỷ sản cả ở các ao hồ chứa nớc, sông
ngòi, các vùng ngập mặn ven biển. Gần đây, phong trào nuôi tôm trên cát phát
triển mạnh ở các tỉnh miền trung. Các nhà máy chế biến thuỷ sản mọc lên ở
nhiều nơi, tăng cả về số lợng và năng suất chế biến. Quá trình chuyển dịch cơ
cấu ngành Thuỷ Sản mạnh mẽ nay đã tạo ra sự dịch chuyển trong cơ cấu kinh
tế trên cả ba bộ phận: cơ cấu ngành, cơ cấu lãnh thổ và cơ cấu thành phần kinh
tế.
Chuyển dịch cơ cấu ngành Thuỷ Sản có giá trị nâng cao GDP của ngành
Thuỷ Sản từ đó có tác dụng nâng cao tỉ trọng của ngành Thuỷ Sản trong cơ
cấu nông lâm ng nghiệp, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành
của cả nớc. Vai trò của chuyển dịch cơ cấu ngành thuỷ sản đối với chuyển
dịch cơ cấu kinh tế nông- lâm- ng nghiệp là rất quan trọng, nó đảm bảo sự
phát triển của ngành nông nghiệp trong tổng thể các ngành kinh tế của cả nớc
c) Chuyển dịch cơ cấu ngành thuỷ sản góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ
cấu lao động và giải quyết việc làm, tăng thu nhập:
Ngành Thuỷ Sản là một trong những ngành thu hút lợng lao động tơng
đối lớn trong nền kinh tế, mỗi năm giải quyết công ăn việc làm cho hàng vạn
ngời lao động góp phần giải quyết việc làm và tăng thu nhập cho ngời dân. Do
việc chuyển dịch cơ cấu ngành nên ngành có khả năng mở rộng thu hút lao
động vào ngành trên nhiều lĩnh vực sản xuất kinh doanh: khai thác, nuôi trồng,
chế biến, thơng mại thuỷ sản và dịch vụ hậu cần cho khai thác hải sản.
Bảng 1: Tình hình thu hút thêm lao động qua các năm vào ngành thuỷ
sản giai đoạn 1991 - 2002
Đơn vị: ngời.
Năm
Ngành
1991 1995 2000 2001 2002
Toàn ngành 50.000 90.000 98.000 125.000 120.000
Khai thác 37.000 72.000 78.500 89.700 82.250
Nuôi trồng 9.420 12.500 12.000 27.200 25.200
Chế biến-DVTS 3.580 3.500 7.500 8.100 12.550
Nguồn: Bộ thuỷ sản.
Ngành Thuỷ Sản ngày càng thu hút thêm nhiều lao động, chiếm tỉ trọng
ngày càng lớn trong việc giải quyết việc làm hàng năm (mỗi năm Việt Nam
cần giải quyết việc làm cho 1,2 - 1,4 triệu ngời lao động trong giai đoạn 1996-
2000). Giá trị sản xuất của ngành qua các năm rất lớn: năm 2000 là 21.777,4
10
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thành Lân
tỉ đồng, năm 2001 là 25.568,9 tỉ đồng, điều này góp phần tăng thu nhập cho
ngời dân.
Ngoài ra, chuyển dịch cơ cấu ngành Thuỷ Sản còn có vai trò thúc đẩy
mở rộng thị trờng tiêu thụ, thu ngoại tệ, bảo vệ môi trờng, nguồn lợi thuỷ sản
nhằm phát triển bền vững.
II- Các nhân tố ảnh hởng đến chuyển dịch cơ cấu ngành
thuỷ sản.
1. Nhóm nhân tố về tài nguyên và điều kiện tự nhiên.
Điều kiện tự nhiên ở Việt Nam rất có ý nghĩa trong việc phát triển
ngành thuỷ sản, đặt biệt trong hình thành cơ cấu ngành hợp lý, khai thác tài
nguyên có hiệu quả đảm bảo phát triển bền vững. Việt Nam có bờ biển dài,
trong nội địa có nhiều ao hồ kênh rạch chằng chịt là những tiềm lợi để phát
triển ngành thuỷ sản, song để xây dựng nên một cơ cấu ngành hợp lý lại phụ
thuộc vào nhiều yếu tố tự nhiên. Hiện nay xu hớng là phát triển nghề cá ra
khơi, hạn chế song do yếu tố thời tiết, khí hậu lại hay có bão nên nghề khơi
gặp nhiều khó khăn. Chính sự khó khăn trong phát triển nghề khơi nên từ trớc
đến nay nghề đã phát triển quá mức làm cho nguồn lợi hải sản gần bờ cạn
kiệt nghiêm trọng. Cơ cấu trong khai thác không hợp lý gây ảnh hởng đến
năng suất khai thác và môi trờng sinh thái. Đây chính là nguyên nhân làm hạn
chế quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành thuỷ sản trong khai thác hiện nay.
Vấn đề đặt ra là từ việc nghiên cứu về điều kiện tự nhiên chúng ta phải đa ra
các biện pháp làm hạn chế ảnh hởng của các yếu tố tự nhiên đến tốc độ
chuyển dịch cơ cấu nghề khai thác hải sản. Yếu tố điều kiện tự nhiên còn ảnh
hởng đến mục tiêu phát triển nuôi trồng thuỷ sản trong chiến lợc xây dựng
một cơ cấu ngành hợp lý trong tơng lai. Điều kiện tự nhiên một mặt có vai trò
đảm bảo sinh tồn, phát triển của các loài thuỷ sinh vật, mặt khác với điều kiện
tự nhiên nh ở Việt Nam cũng là nguyên nhân( Nhiệt đới, nóng ẩm, ma nhiều)
gây ra các dịch bệnh đối với cây trồng, vật nuôi. Mỗi năm có khoảng 5- 9 cơn
bão gây ảnh hởng rất lớn tới các khu nuôi trồng thuỷ sản, làm tràn, vỡ các bờ
ngăn, khó khăn trong việc thoát nớc, thay nớc trong các mùa lũ. Kết quả là
nuôi trồng thuỷ sản kém hiệu quả, do chi phí ngăn lũ, ngăn bãom chống dịch
bệnh quá lớn.
Một điểm quan trọng của ngành Thuỷ Sản là đại bộ phận các lĩnh vực
sản xuất từ khai thác đến nuôi trồng đều là sự chiếm hữu và lợi dụng tự nhiên,
do đó ngành chịu ảnh hởng trực tiếp của những điều kiện tự nhiên nh là điều
kiện tiên quyết của sản xuất. Các nhân tố về tài nguyên và điều kiện tự nhiên
11
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thành Lân
ảnh hởng rất lớn đến chuyển dịch cơ cấu ngành Thuỷ Sản. Ngay từ ban đầu,
các yếu tố này đã hình thành nên cơ cấu ngành Thuỷ Sản đầu tiên với tỉ trọng
khai thác chiếm phần lớn. Dần dần, ngành khai thác gặp phải những khó khăn
cộng thêm những đòi hỏi, những yêu cầu phải chuyển dịch cơ cấu ngành nên
cơ cấu ngành Thuỷ Sản có sự biến đổi, chuyển dịch theo hớng có lợi hơn, hợp
lý hơn. Quá trình chuyển dịch này phụ thuộc nhiều vào các nguồn lợi thuỷ sản
và điều kiện tự nhiên. Chúng ta không thể thiết lập các khu nuôi trồng thuỷ
sản, chế biến thuỷ sản tại các nơi, các vùng miền không có nguồn lợi về thuỷ
sản cũng nh điều kiện tự nhiên để có thể phát triển đợc ngành thuỷ sản, vì các
sinh vật thuỷ sinh chỉ có thể tồn tại và phát triển sinh sống trên những môi tr-
ờng sống nhất định mà thôi.
Các nhân tố về tài nguyên và điều kiện tự nhiên còn ảnh hởng đến tốc
độ chuyển dịch cơ cấu ngành Thuỷ Sản. Nó có tác động thúc đẩy hoặc kìm
hãm qúa trình chuyển dịch cơ cấu ngành Thuỷ Sản. Nguồn tài nguyên và điều
kiện tự nhiên của một nớc nh nớc ta hiện nay vừa giàu có và phong phú để có
thể khai thác triệt để, vừa có những mặt hạn chế và những rủi ro do sự thay đổi
bất thờng của thời tiết, khí hậu gây ra. Chẳng hạn, muốn chuyển dịch cơ cấu
ngành thuỷ sản bằng cách đẩy mạnh khai thác xa bờ nhng thực tế nguồn lợi xa
bờ không lớn cộng thêm điều kiện về khí hậu, thời tiết (luôn có bão, gió
xoáy) không tốt thì quá trình chuyển dịch cơ cấu sẽ bất khả thi. Đây là một
ví dụ điển hình ảnh hởng của các nhân tố tài nguyên, điều kiện tự nhiên đến
quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành Thuỷ Sản.
Sản phẩm của ngành Thuỷ Sản có đặc tính mau ơn, chóng thối, nhất là
trong điều kiện khí hậu nóng ẩm, nhiệt đới nh ở Việt Nam. Vì vậy, chính sách
chuyển dịch cơ cấu phải xác định đúng thế mạnh cũng nh những điểm bất lợi
của đất nớc, của mỗi tiểu ngành, mỗi lĩnh vực sản xuất kinh doanh mới mong
tìm đợc một cơ cấu hợp lý, tối u. Việc định vị một cơ cấu ngành hợp lý trên cơ
sở các nguồn tài nguyên, các điều kiện tự nhiên là cơ sở để phát triển ngành
thuỷ sản vững mạnh.
2. Nhóm nhân tố về nhu cầu của thị trờng, giá cả sản phẩm.
Thị trờng, đặc biệt là nhu cầu về tình hình cạnh tranh trên thị trờng
(trong và ngoài nớc) là yếu tố có ảnh hởng trực tiếp và quyết định đầu tiên đến
cơ cấu ngành Thuỷ Sản. Chính nhu cầu, cơ cấu nhu cầu và xu thế vận động
của chúng đặt ra những mục tiêu cần vơn lên để thoả mãn, là cơ sở để đảm
bảo tính thực thi và hiệu quả của các phơng án lựa chọn cơ cấu ngành Thuỷ
sản trong cơ cấu kinh tế. Thị trờng là một yếu tố khách quan đối với việc
12
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thành Lân
chuyển dịch cơ cấu ngành Thuỷ Sản. Chúng ta sản xuất, chế biến, phục vụ cho
nhu cầu của thị trờng tiêu thụ trong nớc và quốc tế có đặc điểm luôn biến
động theo thu nhập, thị hiếu và tập quán sử dụng thực phẩm. Bởi vậy, cơ cấu
ngành Thuỷ Sản phải linh hoạt để đáp ứng đợc các nhu cầu của thị trờng đa
dạng và luôn biến động đó.
Giá cả là một phạm trù kinh tế tồn tại khách quan trong nền kinh tế
hàng hoá, giá cả có vai trò quan trọng trong việc kích thích hoặc hạn chế tiêu
dùng và từ đó kích thích hoặc kìm hãm sản xuất. Sự vận động của giá cả sẽ
định hớng cho sự biến động, thay đổi, xu thế chuyển dịch cơ cấu ngành Thuỷ
Sản. Chính giá cả sản phẩm quyết định lợi ích của ng dân trong việc khai thác,
nuôi trồng, kinh doanh nghề biển. Ng dân sẽ tập trung kinh doanh những mặt
hàng cho giá cả sản phẩm cao, thu lại lợi ích lớn, hạn chế đầu t vào việc kinh
doanh những mặt hàng quá thấp, lợi ích thu đợc không cao. Từ đây lợi ích cá
nhân đợc đề cao, lợi ích xã hội không đợc đề cập, dẫn đến một cơ cấu ngành
không hợp lý, không đảm bảo phát triển bền vững của ngành. Mặt khác sự
chênh lệch giá cả giữa các mặt hàng cũng tạo ra sự thay đối cơ cấu ngành có
thể là tiêu cực, có thể là tích cực. Chẳng hạn trong giai đoạn giá còn cố định
hoàn toàn do nhà nớc định đoạt (giai đoạn trớc năm 1981), tỉ lệ chênh lệch giá
giữa các loài hải sản rất ít. Việc khai thác các loài hải sản có giá trị cao tốn phí
rất lớn và cho sản lợng thấp nên không khuyến khích ng dân tập trung khai
thác các loài hải sản quí mà chạy theo sản lợng. Từ đây, cơ cấu nghề nghiệp
khai thác đem lại sản lợng lớn nh lới vó ánh sáng, mành ánh sángcơ cấu đối
tợng khai thác và nuôi trồng cũng có sự chuyển dịch: đẩy mạnh khai thác nuôi
trồng các loài hải sản cho năng suất cao, sản lợng lớn. Kéo theo nó là cơ cấu
chế biến, cơ cấu đội tàu khai thác, cơ cấu thị trờng cũng có sự thay đổi theo.
Khi cơ chế giá cả thay đổi thích ứng với điều kiện thị trờng mới thì tác động
làm cho cơ cấu ngành Thuỷ Sản thay đổi theo. Và quá trình chuyển dịch cơ
cấu ngành Thuỷ Sản theo sự tác động của giá cả ngày càng nhạy cảm hơn theo
xu thế tự do.
3. Nhóm nhân tố về cơ chế, thể chế.
Cơ chế, thể chế là các nhân tố vĩ mô ảnh hởng tác động đến cơ cấu và
chuyển dịch cơ cấu trong các ngành trong nền kinh tế trong đó có ngành thuỷ
sản. Cơ chế, thể chế vừa là các định hớng vừa là nhân tố tác động trực tiếp đến
cơ cấu ngành thuỷ sản. Nhà nớc thiết lập cơ chế, thể chế, ban hành các chính
sách nhằm tác động vào sự phát triển của các tiểu ngành, các lĩnh vực sản
13
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thành Lân
xuất, kinh doanh để từ đó điều chỉnh, thay đổi dần cơ cấu, thúc đẩy quá trình
chuyển dịch cơ cấu, nhanh chóng đạt tới cơ cấu hợp lý, hiệu quả.
Những định hớng chiến lợc và vai trò quản lý kinh tế vĩ mô của Nhà n-
ớc cũng có vai trò rất quan trọng đối với việc hình thành và chuyển dịch cơ
cấu ngành Thuỷ Sản. Trong trờng hợp phó mặc cho sự tác động của thị trờng
thì sự hình thành cơ cấu ngành mong muốn sẽ quá chậm. Ngợc lại, những
định hớng thiếu cơ sở khách quan có sự can thiệp quá sâu của Nhà nớc trong
quá trình thực hiện đều dẫn đến chỗ hình thành cơ cấu ngành kém hiệu quả,
khả năng chuyển dịch cơ cấu ngành xét về hiệu quả kinh tế xã hội không
đạt.
Nhóm nhân tố về cơ chế, thể chế có ảnh hởng đến chuyển dịch cơ cấu
ngành Thuỷ Sản ở nhiều khía cạnh khác nhau, tác động trực tiếp hoặc gián
tiếp đến quá trình chuyển dịch và tốc độ chuyển dịch cơ cấu ngành. Chính
sách phát triển ngành Thuỷ Sản của Nhà nớc là một nhân tố trực tiếp tác động
đến cơ cấu ngành. Một bản Quy hoạch tổng thể phát triển ngành Thuỷ Sản
chi tiết với lộ trình và tiến độ thực thi sẽ là vô cùng quan trọng để định hình cơ
cấu ngành trong tơng lai. Điều này không những nhằm xác định các tiểu
ngành, các lĩnh vực sản xuất kinh doanh mũi nhọn cần u tiên, mà còn là căn
cứ để phân phối các nguồn lực một cách hữu hiệu. Mặt khác, nó cho phép tạo
ra các tháp trụ cho nền nông nghiệp (bao gồm nông lâm ng nghiệp) mà
các nớc trong giai đoạn đầu của quá trình phát triển đã làm. Đồng thời còn tạo
ra đợc hình ảnh của ngành Thuỷ Sản nớc ta trên khu vực và quốc tế trong quá
trình hội nhập.
4. Nhóm nhân tố về khoa học công nghệ.
Sự tiến bộ nhanh chóng của công nghệ và kỹ thuật cùng với cơ hội phổ
biến và chuyển giao nhanh chóng của chúng làm cho cơ cấu ngành Thuỷ Sản
nói riêng và cơ cấu kinh tế nói chung mang tính uyển chuyển cao. Điều này
không những tác động tới cơ cấu toàn ngành mà còn tác động trực tiếp đến
từng doanh nghiệp, công ty, từng hộ ng dân tham gia vào hoạt động thuỷ sản
trên toàn bộ các mặt: khai thác, nuôi trồng, chế biến, thơng mại và dịch vụ
thuỷ sản.
Khoa học - công nghệ - kỹ thuật ảnh hởng đến cơ cấu sản xuất, cơ cấu
kinh tế, cơ cấu thị trờng trong ngành Thuỷ Sản. Sự bùng nổ của khoa học
kỹ thuật mới làm cho sự phát triển của ngành Thuỷ Sản không chỉ chạy theo
sản lợng mà còn chạy theo giá trị. Chính khoa học công nghệ đã tác động
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét