Thứ Bảy, 19 tháng 4, 2014

phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm ở nước ta


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm ở nước ta": http://123doc.vn/document/1051966-phuong-huong-va-giai-phap-nang-cao-hieu-qua-quan-ly-chat-luong-ve-sinh-an-toan-thuc-pham-o-nuoc-ta.htm


Chất lợng là một tập hợp các đặc tính của một thực thể đối tợng tạo cho
thực thể đối tợng đó khả năng thoả mãn những nhu cầu đã nêu ra hoặc tiềm
ẩn.. Cần hiểu rõ những khía cạnh sau đây của định nghĩa:
- Các nhu cầu của ngời tiêu dùng có thể đợc quy định rõ trong một số tr-
ờng hợp, mà cũng có thể tồn tại dới dạng tiềm ẩn cần đợc tìm ra và xác định
trong những trờng hợp khác.
- Các khía cạnh cụ thể của các nhu cầu thờng đợc thể hiện thông qua các
đặc tính với những chuẩn cứ quy định, có thể bao gồm các khía cạnh về tính
năng sử dụng, độ tin cậy, an toàn, môi trờng, kinh tế thẩm mỹ và các phơng tiện
khác.
- Các nhu cầu này thờng mang tính tập hợp từ nhu cầu riêng biệt của ngời
tiêu dùng và thờng đợc tiêu chuẩn hoá bằng các tiêu chuẩn của nhà nớc nhằm
đảm bảo quyền lợi của ngời tiêu dùng.
5. Định nghĩa của ISO 9000: 2000.
Chất lợng là mức độ của tập hợp các đặc tính vốn có phù hợp với yêu cầu.
Theo định nghĩa này thì chúng ta cần hiểu:
- Đặc tính là đặc trng để phân biệt và một đặc tính có thể là vốn có hoặc có
thể gắn thêm vào, có thể định tính hoặc định lợng.
- Yêu cầu là nhu cầu hay mong đợi đã đợc công bố đợc ngầm hiểu chung
hoặc bắt buộc.
- Sự thoả mãn của khách hàng là sự đảm nhận của khách hàng về mức độ
đáp ứng yêu cầu.
II. Quản lý chất lợng.
Quản lý chất lợng là tập hợp các hoạt động chức năng quản lý chung nhằm
xác định chính sách chất lợng, mục đích chất lợng và thực hiện chúng bằng
những phơng tiện nh: Lập kế hoạch, tổ chức, đảm bảo chất lợng và cải tiến chất
lợng trong khuôn khổ một hệ thống chất lợng.
5
Phần II: Chất lợng vệ sinh an toàn
thực phẩm và thực trạng quản lý chất l-
ợng vsattp ở nớc ta hiện nay
I. Chất lợng thực phẩm và sự cần thiềt phải quản lý
chất lợng vệ sinh an toàn thực phẩm
1. Thực phẩm các đặc điểm của thực phẩm .
Thực phẩm là một loại hàng hoá đặc biệt trong nhóm nhu yếu phẩm đáp
ứng nhu cầu hàng ngày của con ngời, đợc sử dụng lặp đi lặp lại nhiều lần.
Thực phẩm bao gồm rất nhiều loại:
- Thực phẩm tơi sống: Thịt , cá, rau, quả.
- Thực phẩm qua chế biến: Đồ khô, đồ hộp,
Thực phẩm có các đặc điểm:
- Giàu các chất dinh dỡng, các vitamin, các khoáng chất, đảm bảo nhu
cầu về năng lợng của con ngời khi tiêu dùng nó. Ví dụ nh các loại:
+ Thịt cung cấp nhiều chất đạm, chất béo, canxi,
+ Tôm cá cung cấp nhiều chất đạm, khoáng chất, vitamin,
+ Rau quả cung cấp nhiều vitamin nh vitaminA, cung cấp nhiều chất đạm,
muối khoáng,
- Thực phẩm rất khó bảo quản trong thời gian lâu. Nếu để trong thời gian
lâu nó sẽ bị biến chất không còn bảo đảm các chất dinh dỡng ban đầu mà thay
vào đó là các chất độc tố gây ảnh hởng đến sức khoẻ của ngời sử dụng nó và
còn gây ô nhiễm ra môi trờng xung quanh. Ví dụ nh:
+ Cá để lâu sẽ bị ơn không những gây ra mùi tanh khó chịu ảnh hởng đến
môi trờng xung quanh, mà còn bị mất chất thịt cá không còn đợc ngon nh ban
đầu mà nó bị mủn ra khi chế biến không còn vị ngọt của cá nữa,
6
+ Thịt để lâu sẽ bị ôi không còn đảm bảo độ tơi ngon nh thịt ban đầu. Nhất
là trong những ngày trời nóng thì rất nhanh bị ôi thiu.
+ Rau xanh để lâu sẽ bị thối, úa mất đi các vitamin và các chất vốn có
thậm chí còn bị một số loại nấm độc xâm nhập gây hại cho sức khoẻ của ngời
sử dụng.
+ Hoa quả để lâu sẽ bị mất đi màu sắc ban đầu và bị biến chất, các chất đ-
ờng trong hoa quả bị phân huỷ thành các loại men nh men rợu,
- Dễ bị xâm nhập và vi sinh hoá bởi các vi sinh vật, đặc biệt là thực phẩm
tơi sống. Sở dĩ nh vậy là do thực phẩm có chứa nhiều chất dinh dỡng, nhiều
vitamin, khoáng chất dễ bị vi khuẩn phá huỷ. Chính vì vậy mà thực phẩm rất
hay bị ôi thiu.
- Đợc con ngời tiêu dùng trực tiếp hàng ngày với số lợng lớn. Bất cứ một
con ngời bình thờng nào cũng có nhu cầu về ăn uống thì mới đảm bảo tồn tại.
Và để tái tạo sức lao động thì hàng ngày con ngời phải đợc cung cấp một lợng
Calo nhất định để đảm bảo nhu cầu về năng lợng, Hơn nữa ngày nay thực
phẩm không chỉ đơn thuần là phục vụ nhu cầu ăn uống hàng ngày của con ngời
mà nó còn phục vụ cho mục đích vui chơi giải trí.
- Thực phẩm là nhân tố dễ mang các mầm bệnh truyền nhiễm khi không
đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm. Nh các loại vi khuẩn gây bệnh ỉa chảy, th-
ơng hàn, đờng ruột,
2. Các chỉ tiêu đánh giá chất lợng thực phẩm và thực phẩm thế nào thì
đợc gọi là đảm bảo chất lợng vệ sinh an toàn thực phẩm.
a. Các chỉ tiêu đánh giá chất lợng thực phẩm.
Đối với ngời Việt Nam, khi đánh giá chất lợng thực phẩm họ thờng sử
dụng trực quan là chính. Và đối với họ thì các tiêu chuẩn để đánh giá chất lợng
thực phẩm dựa trên việc đánh giá màu sắc, mùi vị, độ tơi.
Đối với các nhà thực phẩm khi đánh giá thực phẩm ngời ta căn cứ vào rất
nhiều chỉ tiêu: Độ tơi, độ đồng đều, độ khô sạch, độ nặng, màu sắc mùi vị, cân
nặng, hàm lợng chất dinh dỡng, và thời hạn sử dụng đối với các loại thực phẩm
7
qua chế biến. Thực phẩm phải có ánh bóng cần thiết và mùi vị bình thờng,
nếu có meo mốc, mùi hơi khác so với bình thờng, là thực phẩm cũ chất lợng
kém, sinh tố và dinh dỡng đều bị giảm nhiều.
- Đối với rau quả khi lựa chọn cần chú ý: Chủ yếu căn cứ vào thời vụ và
mức độ tơi. Rau đúng mùa thờng ít sơ, xốp, không cằn cỗi, non, Nói tóm lại
rau quả phải có vẻ bề ngoài tơi tốt, không bị ung nớc, không có mùi lạ, không
sâu, sờ tay vào luôn mát thì mới có khả năng đảm bảo chất lợng.
- Thịt cá thì khi chọn ta cần chú ý đến màu sắc mùi vị,
- Đối với thực phẩm qua chế biến ta cần chú ý đến thời hạn sử dụng, thành
phần của thực phẩm và các nguyên tắc sử dụng,
b. Thực phẩm thế nào đợc coi là đảm bảo chất lợng vệ sinh an toàn thực
phẩm .
- Đảm bảo sức khoẻ cho ngời tiêu dùng bởi vì việc sử dụng thực phẩm
không vệ sinh rất có thể gây ra ngộ độc thực phẩm cho ngời tiêu dùng.
- Hạn chế mức lãng phí và nâng cao sức cạnh tranh. Nếu thực phẩm không
đảm bảo vệ sinh sẽ mất phẩm chất rất nhanh dẫn đến h hỏng, do đó nó sẽ gây ra
lãng phí không đáng cho ngời sản xuất và ngời tiêu dùng, nếu kiểm soát đợc
quy trình sản xuất để ngăn ngừa việc sản xuất ra thực phẩm kém sẽ là giải pháp
hữu hiệu hơn rất nhiều so với việc buông lỏng kiểm soát sau đó mới thực hiện
loại bỏ những sản phẩm kém chất lợng.
- Đảm bảo thực phẩm trong thời hạn sử dụng và tuân thủ các quy định về
bảo quản chất lợng vệ sinh an toàn thực phẩm.
- Tuân thủ những quy định của nhà nớc về vấn đề đảm bảo chất lợng vệ
sinh an toàn thực phẩm.
- Sản phẩm không đợc gây ô nhiễm môi trờng kể cả trong quá trình sản
xuất, tiêu dùng và cả sau khi tiêu dùng.
3. Sự cần thiết phải quản lý chất lợng vệ sinh an toàn thực phẩm.
8
Trong sinh hoạt hàng ngày của con ngời thì việc đảm bảo vệ sinh, an toàn,
sức khoẻ là một vấn đề rất quan trọng để đảm bảo duy trì và phát triển nòi
giống của mình. Muốn làm đợc điều đó thì trớc hết con ngời cần phải ăn uống
có điều độ, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm khi sử dụng Do vậy việc đảm
bảo chất lợng vệ sinh an toàn thực phẩm có một vai trò rất quan trọng đặc biệt
là đối với nớc ta hiện nay. Sở dĩ chúng ta cần thiết phải quản lý chất lợng vệ
sinh an toàn thực phẩm là vì các lý do chủ yếu sau:
- Trớc hết là do chính đặc điểm của thực phẩm phải yêu cầu cần đợc quản
lý để đảm bảo các đặc tính u việt của nó.
- Bảo đảm chất lợng vệ sinh an toàn thực phẩm giữ vị trí quan trọng trong
sự nghiệp bảo vệ sức khoẻ nhân dân, góp phần giảm tỉ lệ mắc bệnh, duy trì và
phát triển nòi giống, tăng cờng sức lao động, học tập, thúc đẩy sự tăng trởng
kinh tế văn hoá xã hội. Nó thể hiện nếp sống văn minh của đất nớc và vấn đề
chất lợng vệ sinh an toàn thực phẩm đang đợc nhiều quốc gia quan tâm, đặc
biệt là khu vực Châu á.
- Công tác bảo đảm chất lợng vệ sinh an toàn thực phẩm vốn là một công
việc hết sức phức tạp, ngay cả ở các nớc công nghiệp phát triển có hệ thống
quản lý chất lợng vệ sinh an toàn thực phẩm tiên tiến thì vẫn xảy ra rủi ro.
- Cùng với sự phát triển của công nghiệp, môi trờng ngày càng bị ô nhiễm,
việc ứng dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật mới trong chăn nuôi, trồng trọt,
sản xuất chế biến thực phẩm làm cho nguy cơ thực phẩm bị nhiễm độc ngày
càng tăng. Để đảm bảo sức khoẻ an toàn cho ngời tiêu dùng thì cần phải quản
lý về chất lợng vệ sinh an toàn thực phẩm.
- Con ngời sử dụng thực phẩm chủ yếu là nhằm đáp ứng nhu cầu về dinh
dỡng để tái tạo sức lao độngvà ngoài ra nó còn có các nhu cầu về chữa bệnh, th-
ởng thức giải trí. Nhng thực phẩm phải đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm thì
mới đáp ứng đợc các nhu cầu này.
- Kinh nghiệm ở các nớc trên thế giới cho thấy:
+Ngộ độc thực phẩm nói riêng, căn bệnh truyền nhiễm qua thực phẩm nói
chung không chỉ có nguy cơ xảy ra ở các nớc kém phát triển mà ngay cả các n-
9
ớc phát triển, nếu chỉ buông lỏng việc quản lý một chút là đã xảy ra sự cố
đau thơng cho đất nớc. Bài học kinh nghiệm ở Nhật Bản cho thấy, vì lúc đầu chỉ
u tiên cho kinh tế thiếu những hoạt động quan tâm đến bảo vệ sức khoẻ mà
nhân dân ở thành phố MINAMATA bị nhiễm độc thuỷ ngân do ăn cá đánh bắt
ở Vịnh nhiễm nớc thải của nhà máy sản xuất acelaldehyde từ nguyên liệu
acetylen có dùng thuỷ ngân để phân giải, làm cho hàng ngàn ngời bị bệnh.
Hoặc là gần đây nhất là vào tháng 7 năm 2000, do sơ xuất trong sản xuất sữa t-
ơi giảm béo đã làm cho 14000 ngời ở 6 tỉnh thành bị ngộ độc, công ty sữa Snơ
Brand phải bồi thờng cho 14000 nạn nhân, mỗi ngời ngày 20000 Yên và tổng
giám đốc buộc phải từ chức.
+ ở ôxtrâylia, mỗi năm có 4,2 triệu ca ngộ độc thực phẩm gây tổn thất 2,6
tỉ đôla ôxtrâylia. ở Mỹ cứ 1000 dân có 175 ca ngộ độc thực phẩm, chi phí cho 1
ca ngộ độc thực phẩm là 1531 đôla Mỹ. ở Anh cứ 1000 dân có 190 ca ngộ độc
thực phẩm, chi phí cho một ca ngộ độc thực phẩm là 789 bảng Anh.
Hiện nay ở Châu Âu ( một thị trờng quan trọng đối với các sản phẩm thực
phẩm xuất khẩu Việt Nam ) phong trào bảo đảm vệ sinh an toàn và chất lợng
thực phẩm, bảo vệ ngời tiêu dùng phát triển mạnh. Có một sự kiện đáng chú ý
đối với các doanh nghiệp đang có kế hoạch xuất khẩu sản phẩm thực phẩm của
mình: Tháng 2/2000, các cấp có thẩm quyền ở Châu Âu đã thoả thuận về việc
biên soạn cuốn sách trắng . Cuốn sách đề ra những đờng lối chính về việc
phát triển sản xuất, phân phối và tiêu thụ thực phẩm trong những năm tới. Tuy
nhiên trong cuốn sách này vệ sinh an toàn rất đợc chú trọng, nó đợc khái quát
từ trang trại đến bàn ăn. Từ tháng 1/1/2001 sản phẩm đợc bán trong EU sẽ đều
phải có chỉ dẫn liên quan ( số liệu con vật bị giết thịt, nơi nuôi dỡng, nơi chế
biến, ) đây sẽ là hộ chiếu cho sản phẩm đó để đợc lu hành trên thị trờng EU.
Thủ tục này sẽ đợc áp dụng với sản phẩm của tất cả các nớc, không kể trong
hay ngoài EU, do đó ngay từ bây giờ, các hãng sản xuất mong muốn phát triển
quan hệ làm ăn với các nớc Châu Âu cần phải có kế hoạch thực hiện các biện
pháp trên.
- Hậu quả của việc không đảm bảo chất lợng vệ sinh an toàn thực phẩm là
rất khủng khiếp và chúng ta không thể lờng trớc đợc mức độ thiệt hại. Vì vậy,
10
để hạn chế đợc các vụ ngộ độc thực phẩm thì tất cả mọi ngời trong mỗi chúng
ta cần phải tự mình đảm bảo chất lợng vệ sinh an toàn thực phẩm cho chính bản
thân mình, cho những ngời xung quanh, cho toàn xã hội.
II. thực trạng quản lý chất lợng vệ sinh an toàn thực
phẩm ở nớc ta hiện nay
1. Thực trạng mất vệ sinh an toàn thực phẩm và nguyên nhân của việc
không đảm bảo chất lợng vệ sinh an toàn thực phẩm ở nớc ta hiện nay.
1.1. Thực trạng mất vệ sinh an toàn thực phẩm.
Thực phẩm trên thị trờng hiện nay rất đa dạng và rất phong phú bên cạnh
những loại thực phẩm truyền thốngđợc sản xuất ở trong nớc còn có các loại sản
phẩm ngoại nhập, các loại thực phẩm không chỉ đảm bảo cung cấp về mặt dinh
dỡng phục vụ cho nhu cầu ăn uống hàng ngày của ngời tiêu dùng mà còn còn
phục vụ cả nhu cầu vui chơi giải trí
Trên thị trờng rau quả rất phong phú đủ các loại đợc vận chuyển từ nhiều
nơi đến. Bên cạnh các loại rau quả đợc trổng theo phong cách truyền thống còn
có các loại rau quả sạch đợc trồng trong các nhà kính đợc bán tại các cửa hàng
rau sạch tại các đô thị. Sự đa dạng của thực phẩm giúp cho ngời tiêu dùng rất dễ
lựa chọn các loại thực phẩm phù hợp với túi tiền và khẩu vị của gia đình mình.
Ngoài các loại thực phẩm tơi sống còn có các loại thực phẩm đã qua chế biến,
đồ ăn liền giúp cho ta có thể tiết kiệm đợc rất nhiều thời gian và sức lực
Thị trờng thịt cá cũng rất sôi động, bên cạnh những loại tơi sống còn có
các loại đã chế biến sẵn chỉ việc ăn nh thịt lợn quay, thịt gà quay, thịt hộp,
Chủ yếu thực phẩm tơi sống đợc cung cấp từ các hộ gia đình và các trang trại
nhỏ với những thứ nuôi trồng theo phơng pháp truyền thống đảm bảo vệ sinh an
toàn thực phẩm. Các loại thực phẩm đóng gói, đóng hộp cũng rất đa dạng với
nhiều loại đợc nhập từ khắp các nơi trên thị trờng. Ví dụ nh công ty bánh kẹo
Hải Châu, Hải Hà hàng năm tung ra thị trờng rất nhiều loại bánh kẹo đáp ứng
nhu cầu của mọi lứa tuổi với chất lợng tốt hợp khẩu vị của ngời tiêu dùng.
11
Tuy nhiên trên thị trờng hiện nay có rất nhiều loại thực phẩm đợc bày bán
không đảm bảo chất lợng vệ sinh an toàn thực phẩm gây ra hàng loạt các vụ
ngộ độc thực phẩm làm tổn hại đến sức khỏe của nhân dân, ảnh hởng đến nền
kinh tế. Các vụ ngộ độc xảy ra chủ yếu tại các bữa ăn gia đình, tại các bữa ăn
đông ngời nh tiệc cới, tân gia, liên hoan, đám ma và các bếp ăn tập thể, nhà
máy xí nghiệp trờng học. Số vụ ngộ độc xảy ra tại các bếp ăn tập thể chiếm tỉ lệ
không cao xong số ngời bị ngộ độc trong một vụ lại lớn. Đáng chú ý là hai vụ
ngộ độc xảy ra trong tháng 9/1999 tại hai bếp ăn tập thể của 2 xí nghiệp thuộc
tỉnh Đồng Nai với số ngời mắc lên đến 243 và bình quân 198 ngời trên một
vụ.Theo số liệu của Bộ Y Tế (tổng hợp từ 60/61 tỉnh thành phổ biến cả nớc)
năm 1997 có 585 vụ ngộ độc với 6421 ca trong đó có 46 trờng hợp tử vong.
Năm 1989 (số liệu 60/61 tỉnh thành phố trong cả nớc) có 270 vụ (trong đó có
168 vụ ngộ độc do vi sinh vật, 70 vụ do hoá chất bảo vệ thực vật, 38 vụ do thức
ăn ngộ độc, 94 vụ cha rõ nguyên nhân) trong đó có 6773 ngời bị nhiễm độc, 41
ca tử vong. Trong năm 2000 cả nớc đã xảy ra 213 vụ ngộ độc thực phẩm với
4233 ngời mắc, trong đó có 59 ngời tử vong. Ngộ độc do ăn phải thực phẩm có
chất độc tự nhiên có 259 ngời (chiếm 6,11%) trong đó có đến 39 ngời tử vong.
Ta có bảng thống kê sau:
Nguyên nhân Số vụ %
Vi sinh vật 70 32,86
Hoá chất 37 17,36
Chất độc tự nhiên 53 24,89
Không rõ nguyên nhân 53 24,89
Và cho đến tháng 7/2001 đã có tới 159 vụ ngộ độc thực phẩm với 3671
ngời mắc, 45 ngời tử vong. Phân tích nguyên nhân cho thấy kết quả sau:
Nguyên nhân Số vụ %
Vi sinh vật 58 36,5
Hoá chất 27 17
Chất độc tự nhiên 55 34,6
12
Không rõ nguyên nhân 19 11,9
Nh vậy số vụ ngộ độc thực phẩm do vi sinh vật là rất lớn chiếm 32,86%
năm 2000 và 36,5% bảy tháng đầu năm 2001. Bên cạnh đó ta thấy ra tăng số vụ
ngộ độc thực phẩm so với năm 2000, điều đó nói lên rằng vấn đề cấp thiết cần
phải giải quyết. Đặc biệt ở các thành phố lớn nh Hà Nội: Riêng ở bệnh viện
Bạch Mai 7 tháng đầu năm 2001 đã tiếp nhận 576 trờng hợp ngộ độc thực
phẩm do nhiều nguyên nhân. Theo Trung tâm Y tế Dự phòng Thành Phố Hồ
Chí Minh có hơn 90% thức ăn đờng phố bị nhiễm ký sinh trùng. Trong 439
mẫu thịt tơi sống chỉ có 1 mẫu là đảm bảo không vi phạm về vi sinh hoá.
Nói chung hiện nay hiện trạng mất vệ sinh an toàn thực phẩm diễn ra ở
mọi nơi, bất cứ lúc nào ta cũng nghe thấy có các trờng hợp bị ngộ độc thực ăn,
bị đi ngoài, thơng hàn do các nguyên nhân không đảm bảo chất lợng vệ sinh an
toàn thực phẩm gây ra. Sự không đảm bảo chất lợng vệ sinh an toàn thực phẩm
là do rất nhiều nguyên nhân gây ra và chúng ta cần phải biết đợc các nguyên
nhân chủ yếu để khắc phục đảm bảo sức khoẻ cho nhân dân và đảm bảo cho
nền kinh tế ổn định.
1.2. Nguyên nhân gây ra hiện tợng không đảm bảo chất lợng vệ sinh an
toàn thực phẩm ở nớc ta hiện nay.
- Thực phẩm không an toàn trớc hết ta phải nói đến nguyên nhân khách
quan bên ngoài, đó là bụi bặm, ruồi nhặng Đặc điểm của nớc ta là một nớc
nhiệt đới nắng nóng và ma nhiều, không khí luôn luôn ẩm thấp tạo điều kiện
cho rất nhiều loại vi khuẩn gây bệnh sinh sôi nảy nở, ở bất cứ chỗ nào cũng
chứa đựng những loại vi khuẩn nguy hiểm gây bệnh cho con ngời, thực phẩm
lúc nào cũng có nguy cơ bị xâm nhập bởi các loại vi khuẩn. Sự xâm nhập của
các loại vi khuẩn làm cho thực phẩm nhanh bị phân huỷ thay đổi thành phần
hoá học, làm cho các chất có lợi bị biến thành các độc tố gây ảnh hởng đến sức
khoẻ của ngời tiêu dùng sản phẩm đó. Thực phẩm bị xâm nhập bởi các vi khuẩn
gây ra các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm đến tính mạng và tài sản của con ngời.
13
Ví dụ nh các loại vi khuẩn gây ra bệnh ỉa chảy, thơng hàn, bệnh sốt suất huyết
gây ra do các loại muỗi
- Sự phát triển của khoa học kỹ thuật và các ngành công nghiệp trong điều
kiện đất nớc đang phát triển cha có đủ khả năng để xử lý các chất thải trong
công nghiệp và trong tiêu dùng gây ra tình trạng ô nhiễm môi trờng nặng nề.
Không khí xung quanh chúng ta chứa một hàm lợng bụi bặm rất lớn, đó là các
loại bụi do công nghiệp thải ra bao gồm tổng hợp các loại nh bụi kim loại, bụi
hoá chất, do đó mà bất cứ một loại thực phẩm nào không đợc bảo quản tốt thì
cũng có nguy cơ bị dính các loại bụi này. Các rác thải trong công nghiệp và
trong sinh hoạt không đợc xử lý nhanh chóng bị phân huỷ trong môi trờng là
điều kiện thuận lợi cho các loại vi khuẩn sinh sôi phát triển.
- Nớc ta là một nớc đang phát triển các điều kiện về giao thông cha phát
triển: Đờng xá thì quá kém, các phơng tiện giao thông không đủ tiêu chuẩn để
vận hành vẫn đợc đem ra sử dụng khắp nơi tạo ra một lợng bụi và khí thải ô
nhiễm môi trờng. Các loại động cơ chạy bằng xăng thải ra không khí một lợng
trì làm cho nguồn nớc , không khí và các loại thực phẩm bị nhiễm trì.
- Trên thị trờng hiện nay có rất nhiều loại thực phẩm với nguồn gốc khác
nhau, bên cạnh những loại thực phẩm đợc sản xuất chế biến ở trong nớc còn có
các loại thực phẩm đợc nhập ở nớc ngoài với chất lợng rất khó kiểm soát. Đặc biệt
là các loại hoa quả nhập từ Trung Quốc vào thị trờng Việt Nam thờng không đảm
bảo vệ sinh an toàn thực phẩm do lạm dụng quá nhiều thuốc bảo vệ thực phẩm tích
chữ trong hoa quả làm cho hoa quả chứa một lợng độc tố.
Ví dụ hiện nay trên thị trờng có rất nhiều loại trái cây đợc nhập từ nhiều
nơi đến nh: từ các hộ gia đình, trang trại của nông dân Việt Nam bán theo mùa
và những loại trái cây nhập ngoại nh táo, lê, nho của Mỹ, Trung Quốc, Ân Độ.
Do các loại trái cây nhập ngoại nên phải bảo quản rất kỹ và phải nhờ vào các
hoá chất đặc biệt, đó là cha kể hiện nay ngời trồng trái cây sử dụng rất nhiều
loại thuốc trừ sâu, các loại thuốc tăng trởng quá liều lợng gây ảnh hởng trực
tiếp đến sức khoẻ của con ngời. Việc sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật
thuộc nhóm Phosphore hữu cơ gây ngộ độc cấp tính, liều lợng cao gây tử vong.
Nhóm Chlore hữu cơ sẽ tích luỹ tác động từ từ, đến khi nào đủ lợng sẽ gây
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét