LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "phân tích và đánh giá rủi ro lợi suất trong hoạt động kinh doanh chứng khoán bằng các công cụ tài chính. áp dụng trong phân tích cổ phiếu ngành vận tải việt nam": http://123doc.vn/document/1047751-phan-tich-va-danh-gia-rui-ro-loi-suat-trong-hoat-dong-kinh-doanh-chung-khoan-bang-cac-cong-cu-tai-chinh-ap-dung-trong-phan-tich-co-phieu-nganh-van-tai.htm
Thị trường chứng khoán là nơi diễn ra các giao dịch mua bán trao đổi
cácloaij chứng khoán.
Chứng khoán ở đây là các loại giấy tờ có giá hay bút toán ghi sổ, nó
cho phép các chủ sở hữu có quyến yêu cầu về thu nhập và tài sản của các tổ
chức phát hành hoặc quyền sở hữu. các quyền này có khác nhau tùy loại
chứng khoán, tính chất của chứng khoán.
Thị trường chứng khoán có thê chia ra các loại như:
+ Thị trường sơ cấp hay còn gọi là thị trường cấp một (Primary
market) : các loại chứng khoán được giao dịch lần đầu tại đây sau khi được
phát hành. Là nơi các nhà phát hành huy động vốn
+ Thị trường thứ cấp (secondary market) là nơi giao dịch của các công
cụ chứng khoán sau khi ra khỏi thị trường cấp một . ở đây xây ra các giao
dịch chủ yếu của các hàng hóa chứng khoán
Thị trường chứng khoán còn được chia thành:
+Thị trường tập trung đó là các sàn giao dịch: các chúng khoán được
liêm yết giá và đầy đủ các thông tin về nhà phát hành
+ Thị trường OTC hay còn gọi là giao dịch ngoài sàn: đây là giao
dịch tự do của các chứng khoán không có sự đảm bảo gặp rủi ro cáo với các
nhà đầu tư khi tham gia thị trường này, đây là thị trường việc định giá chỉ là
sự thỏa thuận của các nhà đầu tư với nhau không có sự đảm bảo….
I.2 Các loại hàng hóa của thị trường chứng khoán.
Bất cứ một thị trường nào cũng có hàng hóa để trao đổi và thị trường
chứng khoán cũng vậy hàng hóa của nó là các công cụ chứng khoán.
Nhưng hàng hóa chứng khoán có những đặc điểm khác biệt của nó . hàng hóa
ở đây chỉ mang giá trị của các nhà phát hành , nói không có giá trị sử dụng và
đây là một hình thức phát triển cao của nền sản xuất lưu thông hàng hóa.
5
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Các loaih hàng hóa cơ bản trên thị trường chứng khoán cũng rất đa
dạng: cổ phiếu, trái phiếu, và các loại chứng khoán phái sinh khác.
- Cổ phiếu:
Cổ phiếu là giấy chứng nhận quyền sở hữu và lợi ích hợp pháp của cổ
đông đối với công ty phát hành.
Cổ phiếu được chia làm hai loại
+ Cổ phiếu thông thường : là loại cổ phiếu không có thu nhập ổn định
tùy thuộc vào lợi nhuận của công ty và chính sách chia cổ tức của công ty.
Giá của cổ phiếu thay đổi tùy vào quyết định của thị trường .Người lắm giữ
cổ phiếu này là người cuối cùng được chia tài sản khi thanh lý công ty. Cổ
đông lắm giữ loại cổ phiếu này có quyền tham gia quyết định vào các chính
sách của công ty thông qua đại hội cổ đông và hội đồng quản trị nếu cổ
đông có đủ điều kiện cần thiết.
+ Cổ phiếu ưu đãi : là loại cổ phiếu có thu nhập cố định và lượng cổ
phiếu này rất ít trong mỗi công ty nó chỉ chiếm một lượng nhỏ trong tổng số
cổ phiếu của công ty. Tuy nhiên sự thay đổi giá của cổ phiếu này phụ
thược vào sự thay đổi của lãi suất trái phiếu kho bạc và tình tình hình tài
chính của công ty. Người lắm giữ cổ phiếu này không có quyền tham gia
quyết định các vấn đề chính sách của công ty chỉ trừ một số trường hợp
đặc biệt
- Trái phiếu công ty: (bond)
Trái phiếu là loại giấy chứng nhận việc vay vốn của một chủ thể
( người phát hành ) đối với một chủ thể khác( người cho vay hay người lắm
giữ trái phiếu) . trái phiếu quy định trách nhiệm hoàn trả gốc và lãi cho người
lắm giữ khi đến thời hạn đáo hạn được ghi trên trái phiếu. trái phiếu công ty là
loại chứng khoán dài hạn do các công ty phát hành với lãi suất khá cao. Đây
là hình thức vay vốn hữu hiệu của công ty trong thời gian ngắn mà công ty có
6
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
thể huy động được một khối lượng lớn thông thị trường. Và trái phiếu công ty
được lưu hành rộng rãi trên thị trường vốn
Trái phiếu có hai loại
+ Trái phiếu thông thường
+ Trái phiếu chuyển đổi: ngoài các chất của trái phiếu thường nó còn
có thể chuyển đổi thành cổ phiếu theo điều kiện của công ty đượcghi trên trái
phiếu
- Các loại chứng khoán chính phủ:
là các công cụ vay nợ của chính phủ phát hành như : trái phiếu chính
phủ, tín phiếu kho bạc, công trái quốc gia …loại chứng khoán này có đặc
điểm là rất an toán hầu như không cố khả năng vỡ nợ của chính phủ.
- Các loại chứng khoán phái sinh (derivatives) : quyền chọn mua
và quyền chọn bán( call – put option), hợp đồng kỳ hạn (forwark ), hợp đồng
tương lai(future)….
- Bất động sản và các tài sản khác
Bất động sản là loại tài sản có giá trị và cũng được các nhà đầu tư
và các tổ chức đầu tư đầu tư tương đối mạnh trên thị trường. Nhưng trong
phạm vi của chuyên đề tôt nghiệp này tài sản bất đống sản là đối tương
không trong phạm nghiên cứu
I.3 Các thành phần tham gia thị trường.
+ Đó là các công ty chứng khoán
+ Các công cổ phần
+ Các quỹ đầu tư
+Các nhà đầu tư
+ Chính phủ
+Các nhà quản lý thị trường
7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
2. Các rủi ro của chứng khoán trên thị trường và phân tán rủi ro.
Công ty (người) quản lý danh mục đầu tư (portfolio manager) khi chịu
trách nhiệm đối với danh mục đầu tư của các tổ chức hay các cá nhân . bản
chất của quản lý danh mục đầu tưchứng khoán là định lượng mối quan hệ
giữa rủi ro và lợi tức kỳ vọng thu được từ danh mục đó. Công việc của nhà
quản lý danh mục đầu tư bao gồm từ việc đánh giá, định giá,phân tích chứng
khoán,lựa chọn đầu tư,theo dõi các kết quả đầu tư và phân bổ vốn đầu tư và
đánh giá kết quả đầu tư.
Rủi ro và lợi nhuận của hàng hoá chứng khoán luôn luôn đi liền với
nhau. thường là các chứng khoán có độ rủi ro cao luôn có những điều kiện
hấp dẫn kèm theo như là lãi suất cao và các điều kiện ưu đãi khác.
Rủi ro với hàng hoá trên thị trường chứng khoán có hai loại một là
rủi ro riêng, hai là rủi ro thị trường hay còn gọi là rủi ro chung.
Rủi ro riêng là rủi ro xuất phát từ bản than của chứng khoán, đó là sự
đổ bể trong kinh doanh, trong dự án đầu tư, sự quản lý yếu kém về nhân sự,
trình độ nhà quản lý hay là rò rỉ thông tin nội bộ …. Luôn gây ra những ảnh
hưởng xấu đến tâm lý của thị trường, của nhà đầu tư dẫn đến biến động về kỳ
vọng lợi suất của chứng khoán trong tương lai hay còn gọi là lòng tin của thị
trương với bản thân chứng khoán sẽ dẫn đến sự thay đổi về giá chứng khoán
trong hiện tại
Rủi ro chung hay còn gọi là rủi ro hệ thống hoặc còn gọi là rủi ro thị
trường. Loại rui ro này do tác động của biến động cuẩ cả hệ thống thị trường
tác động lên giá chứng khoán. Và nó tác động lên tất cả các chứng khoán trên
thị trường nó không tác động riêng lên bất cứ một loại chứng khoán nào.
Trong mô hình CAPM hai loại rủi ro này được trình bày rất rõ ràng.
8
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Mô hình có dạng :
R
t:
chuỗi lợi suất của cổ phiếu hoặc danh mục đang nghiên cứu.
R
f
: lợi suấ tphi rủi ro trên thị trường.
R
m:
lợi suất kỳ vọng của thị trường
β
i
: thước đo mức độ rủi ro củ tài sản.
β
i
= Cov(R
i
,
R
m
)/ σ
2
m
R
t
= R
f
+ β
i
* (R
m
- R
f
) + ε
i
= (1- β
i
)* R
f
+ β
i
* R
m
+ ε
i
=> R
t
= γ
i
+ β
i
* R
M
+ ε
i
Var(R
t
) = β
i
2
*var(R
M
)
.
+ Var(ε
i
)
Trong đó:
Var(R
t
): tổng rủi ro tài sản
β
i
2
*var(R
M
) : rủi ro thị trường hay còn gọi là rủi ro hệ thống
Var(ε
i
) : rủi ro riêng.
Phần bù rủi ro trên thị trường được đo bằng: (R
m
- R
f
)
Rủi ro của tài sản = rủi ro riêng + rủi ro hệ thống.
Một giả định cơ bản nhất của lý thuyết danh mục đầutư là những người
đều mong muốn đạtđược mức lợi suất đầu tư tối đâ ứng với mỗi mức rủi ro
danh mục . Lý thuyết này cũng giả định rằng về cơ bản các nhà đầu tư không
muốn gặp rủi ro, có nghĩa rằng nếu phải chon hai loại tảian để đầu tư một tại
một mức đầu tư lợi suấtlà như nhau thì họ sẽ chọn đầu tư tài sản có rủi ro
thấp hơn. Tuy nhiên không phải tất cả các nhà đầu tư đều có mức e ngại rủi ro
như nhau mà còn phụ thuộc vào mức e ngại rủi ro của mỗi nhà đầu tư và
tương ứng là họ sẽ có những quyết định đầu tư .Tức là mỗi nhà đầu tư có
quyết định đầu tư khác nhau tùy theo mức e ngại rủi ro của họ.
Một nhà đầu tư luôn đặt ra cho mình một mức lợi suất hợp lý đối với
mỗi loại tài sảnmà họ đầu tư : rủi ro luôn có sự tương quan dương với lợi suất
9
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
của tài sản đó, nhà đầu tư đánh giá rủi ro cang lớn thì họ phải đòi hỏi lợi
nhuộn mà tài sản đó đem lại càng cao.
2.1 Mức e ngại rủi ro và hàm hữu dụng.
Trong lý thuyết đầu tư, phân tích và đánh giá rủi ro của tài sản là
phân tích chính của nhà đầu tư nó có ảnh hưởng quyết định tới quyết định
của nhà đầu tư. Các nhà tài chính đã chứng minh một cách định lượng hóa
các đặc điểm quan sát bằng lý thuyết hàn hữu dụng biểu thị mối quan hệ
giữa giá trị hữu dụng của một đơn vịtiền tệ kiếm thêm với mức độ rủi ro
của khoản đầu tư và mức e ngại đầu tư cá nhân.
U = E(r) – 0.5A* σ
2
Trong đó U là giá trị hữu dụng và A là chỉ số biểu thị mức độ e ngại
rủi ro của nhà đầu tư . hằng số 0,5 là con số quy ước theo thông lệ của xác
suất thống kê thể hiệnmối quan hệ giữa lợi suất ước tính bình quân và độ
lệch chuẩn của giá trị bình quan đó.
Để phân tích hành vi ra quyết định đầu tư, theo cách tiếp cận về giá
trị hữu dụng trên, có thể so sánh những giá trị hữu dụng với tỷ suất lợi nhuộn
trong những trường hợp không có rủi ro khi tiến hành lựachọn giữa một
danh mục đầu tư mọt danh mục đầutư rui ro và một danh mục an toàn.Giá
trị hữu dụng của mộtdanh mục đầu tư còn được gọi : tỷ lệ tươngđương chắc
chắn
CE = U = E (r) – 0.5A* σ
2
CE: là tỷ lệ lợi nhuận đạt được chắc chắn của một danh mục đầu tư
không rủi ro được nhà đầu tư chấp nhận và được xem như là có mức độ
hấp dẫn tương đương để so sánh với danh mục đầu tư có rủi ro.
Phân loại theo mức e ngại rủi ro các nhà đầu tư cóthểchia làm ba
loại : ưa thích rủi ro, trung dung và e ngại rủi ro
10
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Những nhà đầu tư thích rủi ro là người xem rủi ro như là một cơ
hội để thu được mức lợi suất cao, một động cơ để họ ra quyết định đầu tư .
Danh mục có rủi ro càng cao làm họ ham thích vì họ hy vọng vào khoản
lợi nhuận mà nó đem lại là rất lớn .
Nhũng nhà đầu tư trung dung thì họ chỉ quan tâm đến yếu tố lợi
nhuận mà tài sản đem .lại
Nhà đầu tư e ngại rủi ro thì họ rất quan tâm đến rủi ro và thích
những tài sản có mức độ rủi ro thấp có hệ số an toàn cao
Nhưng trong thực tế phần lớn các nhà đầu tư thông thường đều là
các nhà đầu tư thuộc loại e ngại rủi ro. Do vậy công việc phân tích và
đánh giá rủi ro lợi suất của tài sản được họ quan tâm hang đầu kết quả
phân tích là yếu tố chính trong quyết định đầu tư của họ và mối quan hệ
rủi ro vàlợi nhuận được xây dựng trên cơ sở số đông này.
2.2 lợi suất và rủi ro của danh mục đầu tư.
a. Lợi suất danh mục
Lợi suất danh mục đầu tư là bình quân gia quyền ( theo tỷ lệ vốn đầu
tư vò tưng loaị tài sản ký hiệu W) của lợi suất thu được từ mỗi chứng khoán
trong danh mục đầu tư. Lợi suất ước tính của danh mục đầu tư được tính.
E(r
p
) = W
1
*E(r
1
) + W
2
E(r
2
) +…… + W
n
* E(r
n
)
b. Rủi ro danh mục đầu tư và đa dạng hóa danh mục đầu tư
Như đã biết, có rủi ro có nghĩa là có khả năng suất hiện nhiều kết quả
khác nhau từ một nguyên nhân ban đầu. Cũngnhư vậy chứng khoán từ
những rủi ro của nó có thể dẫn đến những kết quả khác nhau của nó. Nhưng
khí phân tích rủi ro của danh mục đầu tư người ta không chỉ quan tâm
đến rủi ro của tài sản riêng trong danh mục mà người ta quan tâm đến r ủi ro
c ủa c ả danh m ục
11
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Thực tế cho thấy những chứng khoán có tính rủi ro có khả năng trở
thành những thành tố làm ổn định cho cả danh mục đầu tư, góp phần làm
giảm rủi ro cho toàn danh mục đầu tư. Chính vì vậy nhà đầu tư quan tâm đến
việc đa dạng hóa danh mục đầu tư xác định phần bù rủi ro hệ thống của
chứng khoán.
Đa dạng hóa danh mục đầu tư là phương pháp giảm thiểu rủi ro
trên thị trường chứng khoán.
Một phương pháp cơ bản trong quản lý rủi ro danh mục đó là đa
dạng hóa tài sản trong danh mục đầu tư. Phương pháp này là phương
pháp rất hiệu quả trong quản lý rủi rocủa danh mục. thoe đó việc đầu tư lên
được thực hiện qua nhiều tài sản vốn khác nhau tạothành một danh mục
đầu tư sao cho tổng mức rủi ro trên toàn bộ danh mục đầu tư sẽ bị giới hạn
nhỏlại ,danh mục đầu tư khi chỉ cần thay đổi thêm hay bớt đi một tài sản
thì nó có mức độ rủi ro khác
3. Đôi nét về thị trường chứng khoán việt nam
Thị trường chứng khoán Việt Nam ra đời là tất yếu khách quan phù hợp
với xu thế thời đại, trên con đường xây dựng đất nước kinh tế thị trường có
định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong tình hình đất nước đang trong thời kỳ
quá độ chuyển mình được chúng ta đang đứng trước những cơ hội mới vận
hội mới nhưng chúng ta cũng gặp không ít những khó khăn thử thách. Tập
trung vốn huy động vôn là điều kiện cần để xây dựng đất nước. và thị trường
chứng khoán Việt Nam là một trong những nơi để chúng ta huy động vốn.
Thị trường chứng khoán việt nam mới ra đời và đi vào hoạt động chưa
lâu so với lịch sử của thị trường chứng khoán thế giới. Nhưng bước đầu chúng
ta đã đạt được những kết quả đáng khích lệ. Thị trường dần dần trở thành mộ
kênh huy động vốn có hiệu quả cho các doanh nghiệp. Thị trường thu hút
được nhiều sự quan tâm của các doanh nghiệp,các nhà đầu tư, các tổ chức quỹ
12
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
trong và ngoài nước tham gia hoạt động. Sàn giao dịch bây giờ đã giao dich
năm phiên một tuần (từ thứ 2 đến thứ 6). Sàn Hà Nội ba lần khớp lệnh một
phiên. Sàn thành phố Hồ Chí Minh một lần khớp lệnh một phiên .Và giới hạn
biên độ giao động về Giá cũng hợp lý hơn cho dù vẫn có sự can thiệp của
Ủy ban chứng khoán Nhà nước. thị trường đã thu hút được hơn một trăm cổ
phiếu của các công ty cổ phần, và các quỹ đầu tư tham gia thị trường. Chúng
ta có 19 công ty chứng khoán và17 trong số đó đang hoạt động và 2 trong
giai đoạn cấp phép tính đến ngày 20 tháng 4 năm 2007
Hiện nay thị trường chứng khoán Việt Nam có hai trung tâm: Trung
tâm Hà nội và trung tâm thành phố Hồ Chí Minh và sắp tới đây việc hợp nhất
hai trung tâm thành một thị trường hợp nhất đang được ủy ban chứng khoán
lên kế hoạch thực hiện.
13
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Chương II
Sơ lược các công cụ toán học được áp dụng vào phân tích và
đánh giá rủi ro lợi suất cổ phiếu và ứng dụng trong thực tế
I. Các công cụ toán học được áp dụng vào phân tích và đánh giá rủi ro
lợi suất cổ phiếu.
1. Chuỗi lợi suất giá của cổ phiếu.
Từ chuỗi giá của cổ phiếu theo ngày trên thị trường chúng ta có thể xác
định được lợi suất của giá từng ngày:
Lợi suất được xác định theo 2 công thức.
R
t
= (S
t
– S
t-1
)/ S
t-1
Hoặc .
R
t
= ln(S
t
/S
t-1
)
Trong đó
S
t
: giá của cổ phiếu tại thời điểm t.
S
t-1
: giá cổ phiếu tại tại t-1.
Ta phân tích động thái chuỗi giá cổ phiếu thông qua chuỗi lợi suất giá của
Cổ phiếu đó.
Chuỗi giá của cổ phiếu là chuỗi có phân bố ngẫu nhiên vì vậy chuỗi lợi
suất giá cũng là chuỗi có phân bố ngẫu nhiên. Và chuỗi lợi suất này được hiệu
chỉnh bằng phương pháp hiệu chỉnh chuỗi thời gian trong tài chính
2. Chân tích rủi ro lợi suất thông qua mô tả thống kê : hệ số nhọn và hệ
số bất đối xứng
Hệ số bất đối xứng cho chúng ta biết được mức độ biến động của lợi
suất( tăng giảm lợi suất ) của giá cổ phiếu này so với cổ phiếu khác như thế
nào.
Hệ số nhọn cho biết khả năng xẩy ra rủi ro đối với cổ phiếu là lớn hay
nhỏ từ đó có thể biết được mức độ rủi ro của các cổ phiếu.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét