Thứ Sáu, 4 tháng 4, 2014

nâng cao chất lượng cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh cầu giấy


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "nâng cao chất lượng cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh cầu giấy": http://123doc.vn/document/1049305-nang-cao-chat-luong-cho-vay-doi-voi-doanh-nghiep-vua-va-nho-tai-ngan-hang-nong-nghiep-va-phat-trien-nong-thon-chi-nhanh-cau-giay.htm


Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
cho vay nhất định. Theo quy chế cho vay khách hàng do Ngân hàng Nhà nước ban
hành, các điều kiện vay vốn khách hàng cần có bao gồm :
Có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự và chịu trách nhiệm
dân sự theo quy định của pháp luật.
Có mục đích vay vốn hợp pháp
Có khả năng tài chính đảm bảo trả nợ trong thời hạn cam kết.
Có phương án sản xuất kinh doanh, dịch vụ khả thi và có hiệu quả.
Thực hiện các quy định về đảm bảo tiền vay theo quy định của Chính phủ và
hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
Tuy nhiên, các điều kiện vay vốn trên đây chỉ là hướng dẫn chung cần thiết
cho các NHTM. Khi cụ thể hóa các điều kiện cho vay này, các NHTM có thể cụ thể
hóa và đặt điều kiện riêng cho mình.
1.1.2.3 Giới hạn cho vay
Trong hoạt động tín dụng, ngân hàng thương mại bị giới hạn cho vay theo
quy định của Luật Các Tổ chức tín dụng nhằm đảm bảo an toàn. Các giới hạn tín
dụng khi cho vay ngắn hạn bao gồm:
-Tổng dư nợ cho vay đối với 1 khách hàng không vượt quá 15% vốn tự có
của ngân hàng, trừ những trường hợp đối với những khoản cho vay từ các nguồn
vốn ủy thác của Chính phủ, của các tổ chức và cá nhân. Trường hợp nhu cầu vốn
của 1 khách hàng vượt quá 15% vốn tự có của ngân hàng hoặc khách hàng có nhu
cầu huy động vốn từ nhiều nguồn thì ngân hàng có thể cho vay hợp vốn theo quy
định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
-Trong trường hợp đặc biệt, ngân hàng chỉ được cho vay vượt quá mức giới
hạn cho vay theo quy định nêu trên khi được Thủ tướng Chính phủ cho phép đối
với từng trường hợp cụ thể.
-Việc xác định vốn tự có của các ngân hàng để làm căn cứ tính toán giới hạn
cho vay được thực hiện theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
Ngoài ra, ngân hàng không được cho vay không có đảm bảo, cho vay với các
điều kiên ưu đãi về lãi suất, về mức cho vay đối với các đối tượng sau:
-Tổ chức Kiểm toán, Kiểm toán viên có trách nhiêm kiểm toán tại tổ chức tín
dụng cho vay; Thanh tra viên thực hiện nhiệm vụ thanh tra tại tổ chức tín dụng cho
vay; Kế toán trưởng của tổ chức tín dụng cho vay.
-Các cổ đông lớn của tổ chức tín dụng.
SV: Vũ Thị Tâm Lớp: Tài chính Doanh nghiệp 48C
4
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
-Doanh nghiệp là một trong các đối tượng quy định tại Khoản 1 Điều 77 của
Luật Các Tổ chức tín dụng sở hữu trên 10% vốn điều lệ của doanh nghiệp đó.
Ngoài những giới hạn và hạn chế tín dụng nêu trên, ngân hàng còn không
được cho vay với những trường hợp sau đây:
-Thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Tổng giám đốc (Giám đốc),
Phó Tổng giám đốc (Phó Giám đốc) của tổ chức tín dụng.
-Cán bộ nhân viên chính của tổ chức tín dụng đó thực hiện nhiệm vụ thẩm
định, quyết định cho vay.
-Bố, mẹ, vợ, chồng, con của thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát,
Tổng giám đốc (Giám đốc), Phó Tổng giám đốc (Phó Giám đốc) của tổ chức tín
dụng.
Cho vay khách hàng doanh nghiệp là loại cho vay chiếm tỷ trọng lớn nhất
trong hoạt động tín dụng của Ngân hàng. Nó còn là loại cho vay phức tạp và rủi ro
nhất. Do vậy phải có những quy định cụ thể để hoạt động cho vay có hiệu quả.
1.1.2.4 Quy trình cho vay.
Quy trình cho vay là tổng hợp các nguyên tắc, các thủ tục của ngân hàng
trong việc cho vay. Quy trình cho vay được bắt đầu khi cán bộ tiếp nhận hồ sơ
khách hàng và kết thúc khi kế toán viên tất toán hợp đồng cho vay.
Quy trình cho vay được khái quát qua các bước sau:
Bước 1: Lập hồ sơ vay vốn.
Bước này do cán bộ tín dụng thực hiện ngay sau khi tiếp xúc khách hàng.
Nhìn chung một bộ hồ sơ vay vốn cần phải thu thập các thông tin như:
• Năng lực pháp lý, năng lực hành vi dân sự của khách hàng.
• Khả năng sử dụng vốn vay.
• Khả năng hoàn trả nợ vay ( gốc+lãi)
Bước 2: Phân tích tín dụng:
Phân tích tín dụng là xác định khả năng hiện tại và tương lai của khách hàng
trong việc sử dụng vốn vay và hoàn trả nợ.
Mục tiêu:
Tìm kiếm những tình huống có thể dẫn đến rủi ro cho ngân hàng, dự đoán
khả năng khắc phục những rủi ro đó, dự kiến những biện pháp giảm thiểu rủi ro và
hạn chế tổn thất cho ngân hàng.
SV: Vũ Thị Tâm Lớp: Tài chính Doanh nghiệp 48C
5
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Phân tích tính chân thật của những thông tin đã thu thập được từ phía khách
hàng trong bước 1, từ đó nhận xét thái độ, thiện chí của khách hàng làm cơ sở cho
việc ra quyết định cho vay.
Bước 3: Ra quyết định tín dụng:
Trong khâu này, ngân hàng sẽ ra quyết định đồng ý hoặc từ chối cho vay đối
với một hồ sơ vay vốn của khách hàng.
Bước 4: Giải ngân.
Ở bước này, ngân hàng sẽ tiến hành phát tiền cho khách hàng theo hạn mức
tín dụng đã ký kết ở trong hợp đồng.
Nguyên tắc giải ngân: phải gắn liền sự vận động của tiền tệ với sự vận động
hàng hóa hoặc dịch vụ có liên quan, nhằm kiểm tra mục đích sử dụng vốn vay của
khách hàng và đảm bảo khả năng thu nợ. Nhưng đồng thời cũng phải tạo sự thuận
lợi, tránh gây phiền hà cho công việc sản xuất kinh doanh của khách hàng.
Bước 5: Giám sát tín dụng:
Nhân viên tín dụng thường xuyên kiểm tra việc sử dụng vốn vay thực tế của
khách hàng, hiện trạng tài sản đảm bảo, tình hình tài chính của khách hàng…để
đảm bảo khả năng thu nợ.
Bước 6: Thanh lý hợp đồng tín dụng.
1.1.2.5: Lãi suất cho vay.
Ngân hàng có các mức lãi suất cho vay khác nhau tùy theo kỳ hạn ( ngắn,
trung và dài hạn), tùy theo loại tiền thậm chí tùy theo loại khách hàng ( khách hàng
quen, khách hàng vay lớn có thể tính lãi suất thấp hơn). Ngân hàng khi tính đến lãi
suất tín dụng phải tính đến rủi ro, lãi suất hòa vốn, lãi suất cạnh tranh trên thị
trường. Bên cạnh khung lãi suất quy định trước, ngân hàng còn cung cấp các lãi
suất thỏa thuận đối với từng khách hàng cụ thể. Lãi suất có thể biến đổi trong suốt
kì hạn cho vay hoặc biến đổi tùy theo thay đổi của lãi suất tham khảo hoặc chỉ số
làm cơ sở điều chỉnh lãi suất. hoặc kết hợp cố định có điều chỉnh sau một khoảng
thời gian xác định.
Lãi suất tín dụng do Ban giám đốc ngân hàng thông qua và cần được phổ
biến tới mọi cán bộ tín dụng, bao gồm lãi suất cơ bản và lãi suất bình quân đối với
các kì hạn, các ngành và lĩnh vực chủ yếu. Chính sách này cần khuyến khích tính
linh hoạt, đa dạng hóa trong việc đặt giá trên cơ sở đảm bảo khả năng sinh lời cũng
như cạnh tranh của ngân hàng.
SV: Vũ Thị Tâm Lớp: Tài chính Doanh nghiệp 48C
6
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
1.1.2.6: Các phương thức cho vay.
Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại
rất đa dạng và phong phú với nhiều hình thức khác nhau. Tùy theo đặc điểm chu
chuyển vốn của khách hàng, ngân hàng và khách hàng có thể thỏa thuận lựa chọn
phương thức cho vay thích hợp.
Cho vay từng lần:Mỗi lần vay vốn, khách hàng và ngân hàng làm thủ tục vay
vốn cần thiết và ký kết hợp đồng tín dụng. Ngân hàng áp dụng cho vay từng lần khi
khách hàng có nhu cầu vay vốn không thường xuyên. Mỗi lần có nhu cầu vay vốn
khách hàng lập hồ sơ vay vốn theo quy định.
Cho vay theo hạn mức tín dụng: Khách hàng và ngân hàng xác định và thỏa
thuận một hạn mức tín dụng duy trì trong một thời hạn nhất định hoặc theo chu kỳ
sản xuất kinh doanh. Cho vay theo hạn mức tín dụng được áp dụng với khách hàng
có nhu cầu vay vốn thường xuyên.
Cho vay theo dự án đầu tư: Ngân hàng cho khách hàng vay vốn để thực hiện
các dự án đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh, dịch vụ và các dự án đầu tư phục
vụ đời sống.
Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng: Ngân hàng cam kết đảm bảo sẵn
sàng cho khách hàng vay vốn trong phạm vi hạn mức tín dụng nhất định để giúp
khách hàng chủ động thu xếp các nguồn vốn cần thiết nhằm thực hiện các dự án đầu
tư phát triển hoặc phương án sản xuất kinh doanh. Khách hàng có quyền rút vốn
trong thời hạn hiệu lực rút vốn của hợp đồng tín dụng dự phòng. Trong thời hạn
hiệu lực rút vốn của hợp đồng khách hàng phải trả phí cam kết theo mức quy định
của ngân hàng.
Cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng: Ngân hàng
chấp nhận cho khách hàng được sử dụng vốn vay trong phạm vi hạn mức tín dụng
để thanh toán tiền mua hàng hóa, dịch vụ và rút tiền mặt tại máy rút tiền tự động.
Việc cho vay này theo quy định của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
về phát hành và sử dụng thẻ.
Cho vay hợp vốn: là hình thức cho vay mà một nhóm các tổ chức tín dụng
cùng cho vay vào một dự án vay vốn hoặc phương án vay vốn trong đó một tổ chức
làm đầu mối dàn xếp, phối hợp với các tổ chức khác.
Cho vay trả góp: Khi vay, tổ chức tín dụng và khách hàng xác định và thỏa
thuận số lãi vốn vay phải trả cộng với số nợ gốc được chia ra để trả nợ theo nhiều
kỳ hạn trong thời hạn cho vay.
SV: Vũ Thị Tâm Lớp: Tài chính Doanh nghiệp 48C
7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Cho vay theo hạn mức thấu chi: Là việc cho vay mà tổ chức tín dụng thỏa
thuận cho khách hàng chi vượt số tiền có trên tài khoản thanh toán của khách hàng
phù hợp với các quy định của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về hoạt
động thanh toán qua các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán.
Cho vay ủy thác :Ngân hàng cho vay theo ủy thác của Chính phủ, của tổ
chức, cá nhân ở trong và ngoài nước theo hợp đồng nhận ủy thác cho vay đã ký kết
với cơ quan đại diện của Chính phủ hoặc tổ chức, cá nhân ở trong nước và ngoài
nước, các khoản vay như: Vay ODA, nguồn vốn của các Chính phủ Anh, Pháp,
Đức, Nhật….các tổ chức quốc tế như Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng phát
triển Châu Á (ADB), OECD,
Các phương thức cho vay khác: Các phương thức cho vay khác mà pháp luật
không cấm, phù hợp với các quy định tại Quy chế cho vay và điều kiện hoạt động
kinh doanh của tổ chức tín dụng và đặc điểm của khách hàng vay.
1.2 Khái quát chung về doanh nghiệp vừa và nhỏ và vai trò của hoạt động cho
vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ.
1.2.1 Khái niệm và các đặc điểm của doanh nghiệp vừa và nhỏ.
1.2.1.1 Khái niệm:
Khái niệm doanh nghiệp vừa và nhỏ được biết đến trên thế giới từ những
năm đầu của thế kỷ XX. Khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ được các nước trên thế
giới quan tâm đến vào những năm 50 của thế kỷ XX. Thực tế trên thế giới, các nước
có quan điểm khác nhau về doanh nghiệp vừa và nhỏ, nguyên nhân cơ bản dẫn đến
sự khác nhau này là tiêu thức dùng để phân loại quy mô doanh nghiệp khác nhau.
Tuy nhiên trong hàng loạt các tiêu thức phân loại đó có hai tiêu thức được sử dụng
ở phần lớn các nước là quy mô vốn và số lượng lao động.
Mặt khác việc lượng hóa các tiêu thức để phân loại quy mô doanh nghiệp
còn phụ thuộc vào những yếu tố như:
• Trình độ phát triển kinh tế-xã hội của mỗi nước và những quy định phù hợp
với trình độ phát triển kinh tế xã hội trong từng giai đoan.
• Trong ngành nghề khác nhau thì tiêu chí độ lớn cũng khác nhau.
Điều này ta có thể thấy rõ thông qua số liệu ở bảng sau:
SV: Vũ Thị Tâm Lớp: Tài chính Doanh nghiệp 48C
8
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Bảng 1: Tiêu thức xác định doanh nghiệp vừa và nhỏ ở một số nước và vùng
lãnh thổ.
Nước
Inđônêxia
Singgapore
Thailand
Hàn quốc
Nhật bản
EU
Mêhico
Mỹ
Số lao động
< 100
<100
< 100
<300 trong CN, XD
< 100 trong TM&DV
< 50 trong bán lẻ
<100 trong bán buôn
< 250
< 250
< 500
Tổng vốn hoặc giá trị tài sản
< 0.6 tỷ Rupi
<499 triệu SGD
<20 triệu bath
< 0.6 triệu USD
< 0.25 triệu USD
< 10 triệu yên
< 30 triệu yên
< 27 triệu EUR
< 7 triệu USD
< 20 triệu USD
Tại Việt Nam, tiêu chí xác định DNV&N được thể hiện trong nghị định
56/2009/NĐ-CP ngày 30/06/2009. Theo Nghị định này DNV&N được định nghĩa
như sau: Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo
quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng
nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân
đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là
tiêu chí ưu tiên), cụ thể như sau:
SV: Vũ Thị Tâm Lớp: Tài chính Doanh nghiệp 48C
9
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Quy mô


Khu vực
Doanh
nghiệp siêu
nhỏ
Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa
Số lao
động
Tổng nguồn
vốn
Số lao động
Tổng nguồn
vốn
Số lao động
I. Nông, lâm
nghiệp và thủy
sản
10 người trở
xuống
20 tỷ đồng
trở xuống
từ trên 10
người đến
200 người
từ trên 20 tỷ
đồng đến 100
tỷ đồng
từ trên 200
người đến
300 người
II. Công nghiệp
và xây dựng
10 người trở
xuống
20 tỷ đồng
trở xuống
từ trên 10
người đến
200 người
từ trên 20 tỷ
đồng đến 100
tỷ đồng
từ trên 200
người đến
300 người
III. Thương mại
và dịch vụ
10 người trở
xuống
10 tỷ đồng
trở xuống
từ trên 10
người đến 50
người
từ trên 10 tỷ
đồng đến 50 tỷ
đồng
từ trên 50
người đến
100 người
Như vậy, tất cả các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, có đăng kí
kinh doanh và thỏa mãn các điều kiện trên đều được coi là DNV&N.
1.2.1.2 Đặc điểm của doanh nghiệp vừa và nhỏ.
a, Tính chất hoạt động kinh doanh
Doanh nghiệp vừa và nhỏ thường tập trung nhiều ở khu vực chế biến và dịch
vụ, tức là gần với người tiêu dùng hơn. Trong đó cụ thể là :
• Doanh nghiệp vừa và nhỏ thực hiện các dịch vụ đa dạng và phong phú
trong nền kinh tế như các dịch vụ trong quá trình phân phối và thương mại hóa, dịch
vụ sinh hoạt và giải trí, dịch vụ tư vấn và hỗ trợ
• Trực tiếp tham gia chế biến các sản phẩm cho người tiêu dùng cuối cùng
với tư cách là nhà sản xuất toàn bộ.
Chính nhờ tính chất kinh doanh này mà các DNV&N có lợi thế về tính linh
hoạt. Nhờ cấu trúc và quy mô nhỏ nên khả năng thay đổi mặt hàng, chuyển hướng
kinh doanh, thậm chí là địa điểm kinh doanh được coi là mặt mạnh của DNV&N.
b, Về nguồn nhân lực
SV: Vũ Thị Tâm Lớp: Tài chính Doanh nghiệp 48C
10
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Nhìn chung các DNV&N bị hạn chế bởi tài nguyên, đất đai và công nghệ,
nguồn nhân công. Mặt khác còn do sự hạn hẹp với các quan hệ trong thị trường tài
chính – tiền tệ, quá trình tự tích lũy thường đóng vai trò quan trọng trong các doanh
nghiệp vừa và nhỏ. Đội ngũ lao động nhỏ, thường tay nghề ko cao.
c, Về năng lực quản lý điều hành.
Chủ doanh nghiệp thường vừa là người quản lý, vừa trực tiếp them gia sản
xuất, còn mang nhiều tính “gia đình trị” trong quản lý doanh nghiệp. Các cấp quản
lý thường thường ít được đào tạo qua trường lớp về quản lý doanh nghiệp. Chính vì
vậy mà nhiều kỹ năng nghiệp vụ quản lý trong các DNV&N còn rất thấp so với yêu
cầu.
d, Về tính phụ thuộc hay bị động.
Do các đặc trưng kể trên nên các doanh nghiệp vừa và nhỏ bị thụ động nhiều
hơn ở thị trường. Cơ hội “dẫn dăt” “đánh thức” thị trường của họ rất nhỏ.
1.2.1.3 Vai trò của doanh nghiệp vừa và nhỏ đối với nền kinh tế Việt Nam.
Doanh nghiệp vừa và nhỏ có vị trí quan trọng trong nền kinh tế mỗi nước, kể
các các nước phát triển cao. Trong xu thế hội nhập và toàn cầu hóa như hiện nay thì
các nước đều chú ý hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ nhằm huy động tối đa các
nguồn lực và hỗ trợ cho công nghiệp lớn, tăng sức cạnh tranh của sản phẩm.
Đối với Việt Nam vai trò của doanh nghiệp vừa và nhỏ lại càng quan trọng:
Tạo ra nhiều công ăn việc làm cho xã hội, giảm tỷ lệ thất nghiệp.Các
DNV&N do có vốn ít quy mô nhỏ nên kỹ thuật sản xuất chủ yếu là nửa cơ giới nên
lao động sức người chiếm tỷ trọng khá lớn trong các doanh nghiệp này. Mặt khác
các DNV&N hoạt động ở nhiều lĩnh vực khác nhau, ngành nghề khác nhau nên có
khả năng thu hút nhiều lao động từ đó tạo công ăn việc làm cho xã hội, giải quyết
được vấn đề việc làm cho xã hội, giảm tỷ lệ thất nghiệp. Cụ thể các số liệu ở tổng
cục thống kê cho thấy DNV&N tuyển dụng gần 1.3 triệu lao động hàng năm chiếm
49% lực lượng lao động trong nước.
Đóng góp quan trọng vào GDP và tốc độ tăng trưởng kinh tế. Mặc dù quy
mô nhỏ nhưng nhờ có sự phân bố rộng khắp mọi nơi, mọi ngành nghề lĩnh vực nên
DNV&N có những đóng góp đáng kể vào tốc độ tăng trưởng GDP của nền kinh tế.
Đáp ứng tích cực vào nhu cầu chi tiêu xã hội ngày càng phong phú. Doanh
nghiệp vừa và nhỏ do có quy mô sản xuất nhỏ, có khả năng điều chỉnh hoạt động
nên có thể đáp ứng yêu của người tiêu dùng một cách nhanh chóng, thuận tiện.
SV: Vũ Thị Tâm Lớp: Tài chính Doanh nghiệp 48C
11
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Góp phần phục hồi các ngành nghề truyền thống, đồng thời góp phần vào
quá trình đẩy mạnh áp dụng công nghệ mới. Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện
đại hóa các ngành nghề truyền thống đang đứng trước sự cạnh tranh khốc liệt giữa
chế tạo sản phẩm thủ công với sản xuất dây chuyền hàng loạt. Loại hình DNV&N
rất thích hợp cho sản xuất thủ công. Nhờ có các DNV&N, các ngành nghề truyền
thống không những không bị mai một mà còn phát triển, góp phần quảng bá văn
hóa truyền thống đất nước. Bên cạnh đó công nghệ tiên tiến cũng sẽ dần tiếp cận
vào các ngành nghề này. Đó là điều cần phải xảy ra trong thời đại công nghiệp hóa,
hiện đại hóa.
Nâng cao tính năng động và hiệu quả của nền kinh tế. Các công ty và tập
đoàn lớn không có được tính năng động của các đơn vị kinh tế nhỏ hơn chúng là vì
quy mô của chúng quá lớn. Các đơn vị kinh tế càng to lớn thì càng thiếu tính linh
hoạt, thiếu khả năng phản ứng nhanh, nói cách khác là sức ì càng lớn. Một nền kinh
tế đặt tỷ lệ quá lớn nguồn lao động và tài nguyên vào các doanh nghiệp quy mô lớn
sẽ trở nên chậm chạp, không bắt kịp và phản ứng với các thay đổi trên thị trường.
Ngược lại, một nền kinh tế có một tỷ lệ thích hợp các DNV&N sẽ trở nên nhanh
nhẹn hơn, phản ứng kịp thời hơn. Tính hiệu quả của nền kinh tế sẽ được tăng cao.
Có vai trò trung gian lưu thông hàng hóa. Các doanh nghiệp lớn có thể gặp
khó khăn trong trong việc tìm ra khâu tiêu thụ sản phẩm, thiết lập một mạng lưới
bán lẻ. Khi đó, các doanh nghiệp lớn có thể phải thông qua mạng lưới bán lẻ của
DNV&N vì các DNV&N thường hoạt động kinh doanh trong các lĩnh vực thương
mại, dịch vụ.
Góp phần phát triển kinh tế địa phương đồng thời khai thác tiềm năng thế
mạnh của từng vùng. Các công ty lớn thường bỏ qua các khu vực quy mô nhỏ, kém
phát triển, giao thông chưa thuận lợi vì họ cho rằng chi phí cơ hội cao. Tuy nhiên,
các DNV&N với quy mô nhỏ có thể len lỏi vào các vùng miền sâu xa, khai thác
tiềm năng thế mạnh của vùng này. Mặt khác, do lao động của các DNV&N chủ yếu
là lao động chân tay ít có trình độ tay nghề cao nên có thể tận dụng được lực lượng
tại chỗ của các vùng kinh tế đó.
Là nơi rèn luyện đội ngũ doanh nhân mới trong nền kinh tế. Bắt đầu từ một
doanh nghiệp nhỏ, nếu tận dụng được tốt cơ hội kinh doanh, nắm bắt tốt tình hình,
các DNV&N có thể tăng được quy mô, trở thành những doanh nghiệp lớn. Các
công ty nhỏ cũng là nơi huấn luyện nguồn nhân lực cho các công ty lớn. Qua thời
SV: Vũ Thị Tâm Lớp: Tài chính Doanh nghiệp 48C
12
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
gian làm việc ở các doanh nghiệp nhỏ, người lao động sẽ tích lũy cho mình những
kỹ năng sống nhất định, có cơ hội làm việc ở những nơi cao hơn.
Chính nhờ những vai trò quan trọng như vậy mà số DNV&N không ngừng
tăng lên cả về số lượng và chất lượng.
1.2.2 Vai trò của hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Cùng với sự phát triển của sản xuất và lưu thông hàng hóa, hoạt động
cho vay của ngân hàng càng đóng vai trò quan trọng đối với hoạt động sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp nói chung và của DNV&N nói riêng.
Hoạt động cho vay hỗ trợ DNV&N tái sản xuất mở rộng theo chiều rộng và
chiều sâu: Trong nền kinh tế thị trường, nếu chị dựa vào lợi nhuận giữ lại để tái sản
xuất kinh doanh và mở rộng sản xuất theo chiều rộng và chiều sâu thì doannh
nghiệp vừa và nhỏ sẽ mất rất nhiều thời gian để có thể tích lũy đủ số vốn cần thiết
đầu tư mở rộng sản xuất. Tuy nhiên, các doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể thông qua
ngân hàng để có thể có lượng vốn cần thiết bằng hình thức đi vay vốn. Từ đó doanh
nghiệp vừa và nhỏ có thể thực hiện phương án sản xuất của mình mà không cần
phải chờ tích lũy đủ vốn, qua đó chớp được thời cơ. Như vậy, hoạt động cho vay có
vai trò quan trọng trong việc mở rộng sản suất theo chiều rộng và chiều sâu của
DNV&N.
Giúp DNV&N có thể tự do di chuyển vốn từ ngành này sang ngành khác.
Việc ngân hàng cho vay vốn đối với các DNV&N thuộc các ngành sản xuất khác
nhau đã giúp nền kinh tế phân phối vốn vào các ngành phù hợp với yêu cầu sử dụng
vốn của nền kinh tế quốc dân một cách có hiệu quả, góp phần thúc đẩy chuyển dịch
cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa hiện đại hóa. Mặt khác, hoạt động cho
vay còn góp phần vào việc bình quân hóa tỷ suất lợi nhuận giữa các doanh nghiệp
thuộc các ngành nghề khác nhau trong nền kinh tế một cách hợp lý.
Góp phần nâng cao cạnh tranh giữa các DNV&N. Trong nền kinh tế thị
trường với sự cạnh tranh khốc liệt giữa các tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp vừa
và nhỏ muốn đứng vững thì cần phải nỗ lực phát triển không ngừng. Tuy nhiên, do
vốn ít, trình độ quản lý yếu kém, trình độ công nghệ lạc hậu đã gây không ít khó
khăn cho các DNV&N trong quá trình cạnh tranh và mở rộng phát triển. Để có
được lượng vốn phục vụ cho sự phát triển của doanh nghiệp, mặc dù vốn tự có có
hạn mà tích lỹ vốn thấp, các DNV&N buộc phải tìm đến vốn từ ngân hàng. Hoạt
động cho vay của ngân hàng sẽ mang lại nhiều lợi ích đến cho DNV&N với mức lãi
SV: Vũ Thị Tâm Lớp: Tài chính Doanh nghiệp 48C
13

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét