Hầu hết các công trình nghiên cứu trên đều đề cập đến tư tưởng giải
thoát trong triết học Phật giáo. Tuy nhiên, chưa có một công trình nào
nghiên cứu một cách cụ thể, hệ thống về vấn đề “Tư tưởng giải thoát trong
Triết học Phật giáo sơ kỳ”. Vì vậy, khoá luận này trên cơ sở kế thừa các
công trình nghiên cứu của các học giả đi trước, tiếp cận vấn đề này một cách
cụ thể và hệ thống.
B+C0=70*D!-*"EFDC *"2-0A40;<= !"
Mục đích của đề tài là làm rõ về hệ thống tư tưởng giải thoát, nội
dung cốt lõi trong triết học Phật giáo sơ kỳ, từ đó đứng trên lập trường chủ
nghĩa Mác- Lênin đánh giá những đóng góp và hạn chế của nó.
Nhiệm vụ: để đạt được mục tiêu của đề tài, đề tài cần nghiên cứu:
bối cảnh ra đời, khái quát những nội dung cơ bản của triết học Phật giáo sơ
kỳ và hệ thống tư tưởng giải thoát trong triết học- tôn giáo Ấn Độ cổ- trung
đại.
G+H" IJ *"2-0A40;<= !"
Đề tài lấy hệ thống của những tư tưởng giải thoát của triết học Phật
giáo sơ kỳ làm đối tượng nghiên cứu trọng tâm. Ngoài ra còn có những nội
dung cơ bản của tư tưởng giải thoát trong triết học- tôn giáo Ấn Độ cổ-
trung đại để góp phần làm phong phú, sâu sắc hơn cho nội dung chính của
đề tài.
K+L?MNON4P-D!9*IL 9*Q9 *"2-0A40;<= !"
Đề tài được thực hiện dựa trên cơ sở thế giới quan và phương pháp
luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, đồng thời
vận dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học cụ thể khác nhau như;
phương pháp phân tích- tổng hợp, phương pháp lôgic- lịch sử, phương pháp
khái quát hoá, trừu trượng hoá, phương pháp so sánh để làm rõ các vấn đề
mà nhiệm vụ nghiên cứu đã đặt ra.
R+S .S90;<= !"
5
Khoá luận là một công trình nghiên cứu khoa học ở trình độ cử nhân.
Vì vậy, tác giả chỉ mong rằng góp phần nhỏ bé của mình vào việc làm rõ nội
dung tư tưởng giải thoát trong triết học Phật giáo sơ kỳ, thấy được những
hạn chế, đóng góp của nó để lý giải cho những vấn đề nhân sinh quan và giá
trị của nó trong thời đại ngày nay. Từ đó thấy được đỉnh cao của triết học
Mác- Lênin về giải phóng con người.
Ngoài ra kết quả nghiên cứu của đề tài còn góp phần nhỏ bé làm tài
liệu tham khảo cho những ai quan tâm đến vấn đề này.
T+: 0840;<= !"
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo,
phần nội dung của khoá luận gồm có 3 chương.
6
*IL 6
U)V&'W
6+6+XH"0Y-*Z[*\"D! I IM *P *70*<+
1.1.1. Bối cảnh xã hội khi Đức Phật ra đời
Là một hình thái ý thức xã hội, sự hình thành, phát triển của triết học
gắn liền với điều kiện kinh tế- xã hội, với cuộc đấu tranh giữa các giai cấp,
các lực lượng xã hội, với các thành tựu khoa học tự nhiên và khoa học xã
hội, với sự thâm nhập và đấu tranh giữa các trường phái triết học với nhau.
Sự hình thành và phát triển của tư tưởng triết học- tôn giáo Phật giáo tất
nhiên không nằm ngoài quy luật.
Phật giáo ra đời vào khoảng thế kỷ VII đến VI Tcn. Thời kỳ này lịch sử
Ấn Độ có sự chuyển biến lớn. Các quan hệ chính trị văn hoá, học thuật
dường như đang nằm trong một cuộc vận động mạnh mẽ.
Đây là thời kỳ chế độ nô lệ mang tính chất gia trưởng, và chế độ công
xã nông thôn ở Ấn Độ đã khá phát triển. Các quốc gia chiến hữu nô lệ nhỏ
phân tán nay có xu hướng thống nhất lại. Trong đó hưng thịnh nhất là thời
kỳ của các vương triều Magadha và vương triều Maurya. Sự thống nhất
quốc gia đã tạo cho sự phát triển tri thức khoa học, lực lượng sản xuất và đô
thị hoá xã hội.
Về mặt kinh tế, thời kỳ này đã có những bước tiến bộ đáng kể. Việc sử
dụng đồ sắt làm công cụ lao động đã trở thành phổ biến. Nông nghiệp đã
phát triển cao. Người Ấn Độ cổ đã biết mở mang công trình thuỷ lợi, trên cơ
sở đó tiến hành khai khẩn đất đai, mở rộng diện tích canh tác, trồng các loại
ngũ cốc mới. Nghề thủ công cũng đã đạt được những thành tựu đáng kể, nó
tách ra khỏi nông nghiệp ở một số vùng kinh tế phát triển. Những người thợ
thủ công đã tụ tập thành những tổ chức đặc biệt kiểu như phường hội.
Những nghề thủ công phát đạt nhất thời đó là nghề dệt bông, đay, tơ lụa,
nghề làm đồ gỗ và đồ trang sức. Mặc dù nền kinh tế tự nhiên chiếm ưu thế,
7
nhưng thương nghiệp cũng đã phát triển, do vậy trong cơ cấu giai cấp xã hội
đã xuất hiện một tầng lớp mới - tầng lớp thương nhân quí tộc. Nhiều thành
phố trở thành trung tâm thủ công nghiệp và thương nghiệp quan trọng như
Varanisi (Benares), Snavaski (nay Savathi), Ratjagua (nay là Radjia),
Pataliputiry (nay Patha) Nhiều con đường giao thông thương mại thuỷ bộ
nối liền các thành thị đó với nhau và thông từ Ấn Độ qua các nước khác như
Trung Hoa, Ai Cập và miền Trung Á dần dần xuất hiện.
Chế độ nô lệ Ấn Độ rất hà khắc. Nô lệ được coi là tài sản tư hữu của
chủ nô như những tài sản khác. Nô lệ được coi như là “tài sản hai chân” có
thể đem bán mua trao đổi như những “tài sản bốn chân” khác. Ấn Độ có 15
loại nô lệ:
1. Con của nô lệ là nô lệ.
2. Nô lệ mua về.
3. Nô lệ do người khác cho.
4. Nô lệ do thừa kế tài sản.
5. Quá bần cùng trở thành nô lệ.
6. Phạm tội bị xử làm nô lệ.
7. Con tin được coi là nô lệ.
8. Tù binh trong các cuộc chiến là nô lệ.
9. Nô lệ được thưởng qua các cuộc thi.
10. Vì bội ước trở thành nô lệ.
11. Tự nguyện làm nô lệ.
12. Nô lệ tạm thời.
13. Vì được kẻ khác nuôi nấng xin làm nô lệ.
14. Lấy vợ là nô lệ thành nô lệ.
15. Bán mình làm nô lệ.
8
Quan hệ chủ nô - nô lệ Ấn Độ mang nét bóc lột gia trưởng là điển hình.
Trong lao động nô lệ và chủ nô rất gầnn gũi. Nhưng những thành viên
thường của gia đình chủ nô vẫn có uy thế tuyệt đối trong mọi mặt đối với nô
lệ như phạt lao động khổ sai, kìm kẹp, đánh đập, thích vào mặt nô lệ Chủ
nô cũng có thể tự do đánh đập, hành hạ hay đem bán con mình tuỳ thích.
Chế độ nô lệ ở Ấn Độ có tính chất khá đặc biệt, đó là một chế độ xã hội
chưa đạt tới trình độ phát triển thành thục như ở Hy Lạp - La Mã cổ đại, bị
kìm hãm bởi sự kiên cố của chế độ công xã nông thôn vốn dựa trên mối liên
hệ có tính chất gia trưởng giữa lao động nông nghiệp và lao động thủ công
nghiệp đã làm cho nền kinh tế của công xã mang nặng tính chất tự nhiên, tự
cấp tự túc, và do đó đời sống xã hội phát triển hết sức trì trệ và chậm chạp.
Công xã nông thôn ở Ấn Độ cổ không chỉ là một đơn vị kinh tế độc lập
mà còn là một đơn vị hành chính có quyền tự trị rất lớn. Nhà nước hầu như
không hề can thiệp vào được nội bộ của công xã, và làng xã cũng không hề
quan tâm đến vận mệnh của Nhà nước. Mọi nghĩa vụ của nhà nước đều bổ
vào công xã nói chung chứ không bổ vào đầu cá nhân mỗi thành viên công
xã. Trong mỗi công xã có cơ quan hành chính của nó, và những chức vụ
hành chính của cơ quan này hoặc do công xã bầu ra hoặc do cha truyền con
nối.
Tính chất đặc biệt đó của chế độ nô lệ ở Ấn Độ cổ đã tác động mạnh
mẽ không chỉ đến đời sống vật chất mà còn ghi dấu ấn sâu đậm trong đời
sống tinh thần, tư tưởng, tôn giáo của người dân Ấn Độ cổ. Nó đã hạn chế lý
trí con người, biến con người trở thành công cụ ngoan ngoãn của mê tín tôn
giáo, cam chịu trước hoàn cảnh Điều đó, C.Mác đã viết "chúng ta không
được quên rằng những công xã nông thôn thơ mộng ấy, dầu cho chúng có vẻ
vô hại như thế nào chăng nữa, bao giờ cũng vẫn là cơ sở bền vững của chế
độ chuyên chế phương Đông, rằng những công xã ấy đã hạn chế lý trí của
con người trong một khuân khổ chật hẹp nhất, làm cho nó trở thành một
công cụ ngoan ngoãn của mê tín, buộc nó bằng những xiềng xích nô lệ của
các qui tắc cổ truyền, Chúng ta không quên rằng những công xã nhỏ bé ấy
9
mang dấu ấn của sự phân biệt đẳng cấp và của chế độ nô lệ, rằng những
công xã ấy làm cho con người phục tùng những hoàn cảnh bên ngoài chứ
không nâng con người lên địa vị làm chủ và những hoàn cảnh ấy, rằng
những công xã ấy đã biến trạng thái tự động phát triển của xã hội thành một
số phận không thay đổi do thiên nhiên quyết định trước, và do đó đã tạo ra
sự thờ cúng thiên nhiên một cách thô lỗ, mà sự thoái hoá biểu hiện trong
việc con người, kẻ làm chủ thiên nhiên, lại phải thành kính quì gối trước con
khỉ Hanuman và trước con bò Sabbla" [1,177-178].
Xã hội Ấn Độ cổ không chỉ bị đè nặng bởi nổi khổ do quan hệ bất công
và sự bóc lột hà khắc của giai cấp quí tộc chủ nô đối với giai cấp nô lệ và
những kẻ tôi tớ, mà còn bị bóp nghẹt bởi chế độ phân biệt chủng tính, màu
da, sắc tộc, còn gọi là chế độ đẳng cấp hết sức nghiệt ngã gây nên. Chế độ
đẳng cấp không chỉ góp phần qui định cơ cấu, trật tự xã hội Ấn Độ mà còn
ảnh hưởng sâu sắc đến nội dung và tính chất của các quan điểm triết lý tôn
giáo Ấn Độ cổ đại.
Theo thánh điển của Bà La Môn và theo bộ luật Manu, người ta đã
phân chia xã hội Ấn Độ ra thành rất nhiều chủng tính. Nhưng có thể qui
thành bốn chủng tính lớn và đó cũng là 4 đẳng cấp chính của xã hội Ấn Độ:
a) Bàlamôn (Brahmana) gồm những giáo sĩ, những người giữ quyền
thống trị tinh thần, phụ trách về lễ nghi, cúng bái. Họ tự nhận mình là hạng
cao thượng, sinh từ lỗ miệng phạm thiên (Brahmana) hay phạm thiên cầm
vương lãnh đạo tinh thần dân tộc, nên có quyền ưu tiên được tôn kính, và an
hưởng cuộc đời sung sướng nhất.
b) Sát đế lợi (Kshatriya) là hàng vua chúa quí phái, tự cho mình sinh ra
từ cánh tay phạm thiên, thay mặt phạm thiên nắm giữ quyền hành thống trị
dân chúng.
c) Vệ xá (Vaishya) là những hàng thương gia chủ điền và dân tự do tin
mình sinh ra từ bắp chân phạm thiên và phạm thiên có nhiệm vụ đảm đương
về kinh tế trong nước (mua bán, trồng trọt, thu huệ lợi cho quốc gia).
10
d) Thu đà la (Shudra) là những người lao động bao gồm đa số tiện dân
và nô lệ tin mình sinh ra từ gót chân phạm thiên nên thủ phận làm khổ sai
suốt đời cho giai cấp trên.
Ngoài bốn đẳng cấp trong xã hội còn có một hạng người nữa là hạng hà
tiện nhất là giống Ba-tia-a (Pariahs) giống dân tộc mọi rợ, bị coi như sống
loài lề xã hội loài người, bị các giai cấp trên đối xử như thú vật, vô cùng khổ
nhục tăm tối.
Năm giai cấp này mặc y phục khác nhau. Mỗi giai cấp sống theo luật lệ
hệ thống cha truyền con nối, không được thay đổi nghề nghiệp hay cưới hỏi
lẫn nhau "người ở đẳng cấp khác nhau mà lấy nhau thì sẽ bị giáng đẳng cấp
ti tiện, hèn hạ nhất của xã hội đó là đẳng cấp Paria"[3, 39], và không được
di chuyển chỗ ở khác. Theo luật Bàlamôn chỉ có đẳng cấp trên mới được
học đạo, còn hai đẳng cấp dưới đời đời chỉ làm nô lệ cho giai cấp trên mà
thôi. "Nếu một người Shudra mà nghe thánh kinh thì tai sẽ bị điếc, bị đổ trì
vào tai, nếu tụng thánh kinh thì lưỡi sẽ bị cắt đứt ra, nếu muốn học thuộc
lòng thánh kinh thì thân thể sẽ bị chặt đứt ra làm đôi. Đạo Bàlamôn là đạo
của riêng đẳng cấp Bàlamôn, không bao giờ có bất cứ người nào len lỏi
vào"[3, 38].
Chế độ phân biệt đẳng cấp xã hội ở Ấn Độ cổ là hết sức đặc biệt. Nó
không chỉ được giáo lý đạo Bàlamôn biện hộ mà còn được pháp luật nhà
nước bảo vệ. Nó không chỉ là sự phân biệt về địa vị, học vấn, sang hèn, giàu
nghèo theo kiểu phân biệt giai cấp ở các quốc gia chiếm hữu nô lệ phương
Tây mà còn là sự phân biệt về màu da, chủng tính, nghề nghiệp, tôn giáo;
chế độ hôn nhân, quan hệ giao tiếp ngay trong đời sống hằng ngày. Điều
đó nói lên từ sự bất công xã hội không thể nào diễn tả nổi. Giữa người với
người, thật không có một nhịp cầu thông cảm nào, nguồn yêu thương tắc
nghẹn, giai cấp này đối với giai cấp khác là địch thủ mà càng bóc lột bao
nhiêu là càng tốt bấy nhiêu.
Trong hoàn cảnh ấy, Đức Phật Thích Ca đã xuất hiện đúng lúc để cứu
vớt cõi đời sầu khổ.
11
1.1.2. Bối cảnh tư tưởng khi Đức phật ra đời
Về phương diện tư tưởng thì xã hội Ấn Độ thời bấy giờ cũng diễn ra
một cảnh tượng vô cùng hỗn tạp, nhiều trào lưu tư tưởng, tín ngưỡng vận
động bên nhau, chống đối nhau không kém phần quyết liệt mạnh mẽ.
Bên cạnh trào lưu tư tưởng suy tôn thánh kinh Veda, Upanishad và
giáo lý Bàlamôn còn xuất hiện một trào lưu tư tưởng mới thoát ly truyền
thống Vêda, chống lại giáo lý Bàlamôn, phê phán chế độ phân biệt đẳng
cấp, sắc tộc nghiệt ngã của Ấn Độ, nói lên tiếng nói tiến bộ, đòi hỏi bình
đẳng xã hội.
Dưới sự tác động chi phối, thống trị của triết lý Veda, Upanishad và
giáo lý Bàlamôn được mệnh danh là tư tưởng truyền thống chính thống.
Chính người Ấn Độ đã gom các hệ thống triết học của họ thành hai loại lớn:
Các hệ thống chính thống: hữu, và hệ thống không chính thống: vô. Các
trường phái triết học được gọi là hệ thống Bàlamôn chính thống, tức các
darshanas, là các trào lưu bằng cách này hay cách khác đều thừa nhận ưu thế
mặc khải tối cao của Veda và triết lý về tinh thần sáng tạo của vũ trụ tuyệt
đối cao Brahmas, trong Upanishad biện hộ cho giáo lý của đạo Bàlamôn,
bảo vệ chế độ phân biệt đẳng cấp xã hội. Hệ thống triết học chính thống
gồm có 6 trường phái, gọi là sáu darshamas:
1. Trường phái triết học Samkhuya.
2. Trường phái triết học Nyaya.
3. Trường phái triết học Vaiseika.
4. Trường phái triết học Mimansa.
5. Trường phái triết học Yoga.
6. Trường phái triết học Vendanta.
Các trường phái triết học không chính thống đó là các trường phái có
tư tưởng phủ nhận uy thế tối cao của Veda và Upanishad, phê phán giáo lý
12
của Bàlamôn, đã phá chế độ đẳng cấp xã hội. Hệ thống triết học không
chính thống gồm có 3 trường phái:
1. Phật giáo.
2. Trường phái triết học Jaira.
3. Các trường phái triết học duy vật vô phần trong phong trào mới về tự
do tư tưởng ở Đông Ấn, gọi là "lục sư ngoại đạo" (Sattirthakarah), trong đó
nổi bật nhất là trường phái triết học Lokayata hay còn gọi là Charvaka.
Các trường phái triết học không chính thống, tuy cùng có những điểm
chung như không tin có thượng đế, nghi ngờ và phủ nhận quyền uy của kinh
Vêda, phê phán giáo lý Bàlamôn, đã kích chế độ phân biệt đẳng cấp trong
xã hội, nhưng giữa họ lại có sự khác biệt nhau trong cả quan điểm về thế
giới cũng như quan điểm về nhân sinh. Nếu như trường phái Lokayata luôn
thể hiện một cách nhất quán rõ ràng và triệt để thế giới quan duy vật, vô
thần trong lập trường tư tưởng và tính chất triết học của mình, chỉ thừa nhận
bốn yếu tố cơ bản đầu tiên cấu thành nên vạn vật gồm: đất, nước, lửa, không
khí, gọi là "từ đại", phủ nhận thượng đế,đả phá quan niệm về "sự bất tử của
linh hồn" đề cao chủ nghĩa hiện thực, thì trường phái triết học Jaina lại là
một hệ thống triết học mang tính chất nhị nguyên, có nhiều hướng ngã về
chủ nghĩa duy tâm. Nó chỉ thừa nhận hai bản nguyên cấu tạo nên thế giới
vạn vật, đó là Jva (linh hồn, tinh thần) và adjiva (gồm tất cả những gì không
phải là tinh thần hay linh hồn). Đặc biệt họ cho nguyên tử của các yếu tố:
đất, nước, lửa, khí là giống nhau, chúng kết hợp với nhau tạo ra các sự vật
phong phú đa dạng khác nhau.
Đối với các trường phái triết học chính thống thì họ chỉ cần thừa nhận
những nguyên lý căn bản của xã hội Ấn Độ chính thống, chấp nhận quyền
uy của kinh Vêda, Upanishad, biện hộ cho giáo lý đạo Bàlamôn, bảo vệ cho
chế độ phân biệt đẳng cấp, rồi họ có thể tự do phát triển tư tưởng của họ
theo các hình thức và khuynh hướng khác nhau tuỳ ý thích. Cả sáu phái đó
khác nhau nhưng đều đồng nhất về một số nguyên tắc cơ bản của tư tưởng
13
Ấn Độ như: 1. Các kinh Vêda là do mặc khải; 2. Để tìm sự thật và đặt chân
lý thì phép lý luận không chắc chắn bằng phép trực giác; 3. Mục đích của trí
thức và triết học không phải để thống trị thế giới mà là để thoát ly khỏi thế
giới; 4. Suy tư là để tự giải thoát khỏi khổ não, dựt dục vọng và chính dục
vọng không được thoả mãn là nguyên nhân của đau khổ. Điều đó nói lên
tính phức tạp trong quá trình phát triển của tư tưởng triết học tôn giáo Ấn
Độ cổ đại.
Phản ánh hiện thực xã hội, triết học tôn giáo Ấn Độ thời kỳ này còn
diễn ra quá trình đấu tranh gay gắt giữa các trường phái triết học duy vật vô
thần, hay "những người theo thuyết hư vô", "bọn hoài nghi" với môn phái
triết học duy tâm tôn giáo, đặc biệt là triết lý Vêda, Upanishad, và giáo lý
đạo Bàlamôn, nhằm phủ nhận quan điểm suy tôn thượng đế, phạm thiên hay
"tinh thần sáng tạo ưu trụ tối cao" Brahman, chống lại những quan điểm về
sự bất tử linh hồn và sự siêu thoát của linh hồn con người, sang thế giới bên
kia" nào đó. Tiêu biểu cho phong trào chống chủ nghĩa duy tâm tôn giáo
thời đó là các phái nổi tiếng "lục sư ngoại đạo", mà trường phái duy vật vô
thần triệt để Lokayata là tiêu biểu nhất.
Khoảng thế kỷ VI Trcn, trong lòng xã hội Ấn Độ cổ đại đã diễn ra sự
biến đổi mạnh mẽ về kinh tế, chính trị, văn hoá, và cùng với sự phát triển
mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật, thu được nhiều thành quả trên nhiều lĩnh
vực như toán học, thiên văn học, y học đã tạo ra những nấc thang nhận
thức quan trọng góp phần đắc lực vào việc giải thích thế giới và cải tạo thế
giới phục vụ cho lợi ích của con người. Hơn thế nữa chúng còn là cơ sở cho
quá trình phát triển khả năng tư duy trừu tượng. Hình thành nên các hệ
thống triết học phong phú đa dạng, vừa thống nhất, vừa đấu tranh chống đối
nhau.
Xã hội Ấn Độ lúc bấy giờ là một xã hội về vật chất thì đang rên siết
dưới ách bất công áp bức, về tinh thần thì đang quay cuồng, điên đảo trong
những luồng tư tưởng lý thuyết rối reng, khiến con người thời đại hoang
mang, không có một tư tưởng chủ đạo chủ quán. Xã hội ấy đang khao khát
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét