Lợi nhuận và các biện pháp Đại học Ngoại thơng
Lời mở đầu
Q
ua hơn 10 năm thực hiện chính sách đổi mới với cơ chế
kinh tế mới kinh tế thị tr ờng, hơn bao giờ hết, tính tự chủ của
doanh nghiệp đợc đề cao trong môi trờng cạnh tranh khốc liệt.
Muốn tồn tại và phát triển đợc, các doanh nghiệp chỉ có một con
đờng duy nhất đó là kinh doanh năng động, sáng tạo và không
ngừng nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh nói chung và nâng
cao lợi nhuận nói riêng.
Trong nền kinh tế thị trờng, lợi nhuận đợc coi là một tiêu
chí cốt lõi, là mục tiêu quan trọng mà mỗi doanh nghiệp đều hớng
tới. Vì sự phát triển của mình, doanh nghiệp cần phải phát huy tối
khả năng và tinh thần tự chủ để từ đó thu đợc lợi nhuận cao đủ để
duy trì và mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh.
Cùng với quá trình phát triển chung của toàn nền kinh tế-xã
hội, khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng đang ngày một tỏ rõ
vai trò quan trọng và tiềm năng to lớn, bớc đầu đã có những đóng
góp tích cực vào tổng thu nhập xã hội, giải quyết một số lợng đáng
kể công ăn việc làm cho ngời lao động. Ngoài ra, qua hoạt động
của các doanh nghiệp vừa và nhỏ còn cho phép nền kinh tế tận
dụng triệt để và có hiệu quả các nguồn lực xã hội cũng nh góp
phần thực hiện mục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hớng
công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Tuy nhiên, hiện tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam
đang gặp phải rất nhiều khó khăn, từ phía chủ quan cũng nh khách
quan, trong quá trình hoạt động, mà thể hiện rõ nhất là hiệu quả
hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung và tình hình thực hiện
lợi nhuận nói riêng còn thấp.
Phạm Thị Quỳnh Mai Lớp A11- K37F
5
Lợi nhuận và các biện pháp Đại học Ngoại thơng
Do đó, tác giả quyết định chọn đề tài Lợi nhuận và các biện
pháp nâng cao lợi nhuận trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở
Việt Nam .
Bằng phơng pháp tổng hợp và phân tích, kết hợp giữa lý luận
và thực tiễn, khoá luận này đi vào nghiên cứu và phân tích vị trí,
vai trò, thực trạng hoạt động nói chung và cụ thể là tình hình lợi
nhuận của các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong giai đoạn
1999-2001, từ đó đề xuất những kiến nghị góp phần tăng hiệu quả
hoạt động của khu vực này.
Trên cơ sở đó, Khoá luận đợc bố cục nh sau:
Ch ơng I : Những vấn đề cơ bản về lợi nhuận của doanh nghiệp
Ch ơng II : Tình hình thực hiện lợi nhuận trong các doanh nghiệp
vừa và nhỏ Việt Nam thời gian qua (1999-2000)
Ch ơng III : Một số đề xuất nhằm tăng lợi nhuận trong các
doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam
Mặc dù đã rất cố gắng, song do những hạn chế về trình độ,
kiến thức của bản thân, và do nguồn số liệu chính thức cha đợc
đầy đủ, chi tiết nên Khoá luận chắc chắn không tránh khỏi thiếu
sót. Ngời viết rất mong nhận đợc những ý kiến đóng góp chân tình
của các thày giáo, cô giáo cũng nh các bạn sinh viên quan tâm tới
vấn đề này.
Xin chân thành cảm ơn.
Hà nội, tháng 12 năm 2002.
Phạm Thị Quỳnh Mai Lớp A11- K37F
6
Lợi nhuận và các biện pháp Đại học Ngoại thơng
Chơng I
Những vấn đề lý luận cơ bản về lợi nhuận của
doanh nghiệp
I. Lợi nhuận và vai trò của lợi nhuận đối với doanh nghiệp
1. Nguồn gốc và bản chất của lợi nhuận
Lợi nhuận vốn là một khái niệm rất trừu tợng và có ý nghĩa
quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Ngay từ thời sơ khai của các quan hệ sản xuất, trao đổi, mua bán
hàng hoá, lợi nhuận đã là đề tài nghiên cứu, tranh luận, tìm tòi của
nhiều trờng phái kinh tế học với mục đích xác định khái niệm này
một cách chính xác và rõ ràng.
Adam Smith - đại diện tiêu biểu của trờng phái kinh tế học cổ
điển - là ngời đầu tiên có những nghiên cứu khá toàn diện về lợi
nhuận. Xuất phát từ quan điểm giá trị trao đổi của mọi hàng hoá là
do lao động để sản xuất ra hàng hoá đó quyết định, Adam Smith cho
rằng nếu lao động để sản xuất ra một sản phẩm nào đó có giá trị
càng lớn thì giá trị trao đổi càng lớn. Nhng ông bác bỏ quan điểm
cho rằng giá trị của hàng hoá quy định giá trị trao đổi, rằng trong
cấu thành nên giá trị của hàng hoá có tiền lơng, địa tô và lợi nhuận.
Theo ông, lợi nhuận của nhà t bản đợc sinh ra trong quá trình sản
xuất là hình thức biểu hiện khác của giá trị thặng d - tức là phần giá
trị không đợc trả công - tạo ra. Trên cơ sở đó, Adam Smith cho rằng
"lợi nhuận là khoản khấu trừ thứ hai vào sản phẩm lao động", còn
khoản khấu trừ thứ nhất là địa tô - tiền trả cho việc sử dụng đất.
Kế thừa học thuyết của Adam Smith, David Ricardo đã phân
tích và tìm hiểu sâu hơn về nguồn gốc và bản chất của lợi nhuận
trong xã hội T bản chủ nghĩa. Ông cho rằng giá trị tạo đợc gồm có
hai phần: tiền lơng và lợi nhuận. Từ những nghiên cứu của mình,
Phạm Thị Quỳnh Mai Lớp A11- K37F
7
Lợi nhuận và các biện pháp Đại học Ngoại thơng
ông đi đến kết luận quan trọng về sự đối kháng giữa hai bộ phận
này: khi năng suất lao động tăng lên thì tiền lơng giảm đi và lợi
nhuận thì tăng. David Ricardo cho rằng lợi nhuận là phần giá trị
thừa ra ngoài tiền công. Mặc dù cha biết đến phạm trù giá trị thặng
d song ông vẫn khẳng định rằng giá trị do công nhân tạo ra lớn hơn
số tiền công mà họ nhận đợc. Đây là bớc tiến bộ của David Ricardo
so với Adam Smith.
Phát huy học thuyết của hai bậc tiền bối Adam Smith và David
Ricardo, Sismondi đi sâu phân tích và đã có những bớc tiến bộ mới.
Theo ông, lợi nhuận là khoản khấu trừ từ sản phẩm lao động , đó là
thu nhập không lao động, là kết quả của sự cớp bóc công nhân, tai
họa kinh tế của giai cấp vô sản. Việc san bằng lợi nhuận chỉ đạt đợc
bằng cách phá huỷ những t bản cố định bằng sự tiêu vong của công
nhân trong các ngành bị suy sụp.
Dựa vào học thuyết giá trị thặng d, Karl Marx là ngời đầu tiên
đã phân tích một cách khoa học, sâu sắc, có ý nghĩa cả về kinh tế và
chính trị nguồn gốc và bản chất của lợi nhuận. Lợi nhuận của doanh
nghiệp, địa tô của địa chủ, lợi tức của tiền cho vay, đều là các
hình thức chuyển hoá của giá trị thặng d. Ông khẳng định: về nguồn
gốc, lợi nhuận là do lao động làm thuê tạo ra; về bản chất, lợi
nhuận là hình thái biểu hiện của giá trị thặng d, là kết quả của lao
động không đợc trả lơng do nhà t bản chiếm lấy, là quan hệ nô dịch
và bóc lột trong xã hội T bản chủ nghĩa. Karl Marx viết: "giá cả sức
lao động biểu hiện dới hình thái lợi nhuận trong các doanh nghiệp
t bản chủ nghĩa vì mục tiêu lợi nhuận dẫn tới việc trả công có xu h-
ớng giảm sút". Ông đã tóm tắt " tiền công và lợi nhuận tỷ lệ nghịch
với nhau, tức là lợi nhuận tăng lên khi mức độ tiền công giảm
xuống và giảm xuống theo mức độ tiền công tăng lên, và lợi nhuận
tăng lên không phải là tiền công giảm, nhng tiền công giảm vì lợi
nhuận tăng".
Phạm Thị Quỳnh Mai Lớp A11- K37F
8
Lợi nhuận và các biện pháp Đại học Ngoại thơng
Sang thế kỷ XX, nhiều nhà kinh tế học đã đa ra nhiều cách giải
thích khác nhau, song nhìn chung đều nhằm biện hộ cho lợi nhuận,
khẳng định sự tồn tại đơng nhiên và hợp lý của lợi nhuận trong nền
kinh tế thị trờng. Theo A.Marshall thì lợi nhuận là tiền công trả cho
năng lực điều hành và tổ chức hoạt động kinh doanh. F.H.Knight
trong luận án tiến sỹ bảo vệ năm 1921 của mình đã đa ra luận
thuyết " lợi nhuận là kết quả của sự không chắc chắn, là kết quả của
sự khác biệt giữa thu nhập thực tế nhận đợc và thu nhập mong
muốn".
Quan điểm của J.Schompeter lại hoàn toàn khác. Ông cho rằng
lợi nhuận là kết quả của mọi sự cách tân, cụ thể là sự đổi mới của
chức năng sản xuất, của sản phẩm, của công nghệ và phơng pháp tổ
chức sản xuất,
Nh vậy, gần 200 năm sau ngày ra đời của khoa học kinh tế, các
nhà lý luận vẫn không thống nhất về cách chứng minh nguồn gốc
cũng nh sự chiếm hữu lợi nhuận.
Tuy nhiên, trong phạm vi nền kinh tế thị trờng, lợi nhuận đợc
coi là một tiêu chí quan trọng, là mục tiêu cuối cùng mà mỗi doanh
nghiệp đều hớng tới. Khi tiến hành bất cứ hoạt động sản xuất kinh
doanh nào, ngời ta đều phải tính đến khoản lợi nhuận mà mình có
thể thu đợc từ hoạt động đó. Có thể nói kinh tế thị trờng là kết quả
tất yếu của sự phát triển xã hội, mà ở đó các doanh nghiệp, các cá
nhân tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh theo cách này hay
cách khác cạnh tranh với nhau nhằm chiếm lĩnh thị trờng để đạt đợc
mục tiêu cuối cùng là thu đợc lợi nhuận cao. Điều đó đòi hỏi các
doanh nghiệp phải phát huy tối đa khả năng và tinh thần tự chủ của
mình để tạo ra thu nhập và lợi nhuận vì sự phát triển của chính bản
thân mình.
2. Vai trò của lợi nhuận trong doanh nghiệp
Phạm Thị Quỳnh Mai Lớp A11- K37F
9
Lợi nhuận và các biện pháp Đại học Ngoại thơng
Trong điều kiện hạch toán kinh doanh theo cơ chế thị trờng,
doanh nghiệp có tồn tại và phát triển hay không, điều đó phụ thuộc
vào việc doanh nghiệp có tạo ra đợc lợi nhuận hay không. Bởi vậy
lợi nhuận đợc coi là đòn bẩy kinh tế quan trọng, là một chỉ tiêu cơ
bản để đánh giá hiệu quả của quá trình sản xuất kinh doanh ở mỗi
doanh nghiệp.
Việc thực hiện tốt lợi nhuận là điều kiện quan trọng đảm bảo
tình hình tài chính của doanh nghiệp đợc vững chắc. Lợi nhuận cao
hoặc thấp có ảnh hởng trực tiếp tới khả năng thanh toán của doanh
nghiệp. Nếu doanh nghiệp thu đợc nhiều lợi nhuận có nghĩa là tình
hình kinh doanh nói chung là tốt. Trên cơ sở đó doanh nghiệp có thể
trang trải các khoản chi phí đã bỏ ra, nhanh chóng thanh toán các
khoản tiền vay, lãi vay, . Từ đó có điều kiện tăng thêm uy tín của
doanh nghiệp trên thị trờng.
Mặt khác lợi nhuận là kết quả cuối cùng của chu trình sản xuất
kinh doanh, nó bị ảnh hởng bởi tất cả các nhân tố trớc. Nhng không
phải vì thế mà lợi nhuận là chỉ tiêu không kiểm soát đợc, thể hiện ở
chỗ doanh nghiệp có thể hoạch định trớc lợi nhuận là mục tiêu phấn
đấu trong kỳ và hạn chế các nhân tố ảnh hởng đến nó. Lợi nhuận là
nguồn tích luỹ cơ bản của doanh nghiệp, là nguồn bổ sung vốn
trong quá trình sản xuất kinh doanh, đầu t chiều sâu và cải thiện đời
sống cán bộ công nhân viên.
Lợi nhuận là phơng tiện để khai thác, tận dụng thế mạnh và tạo
điều kiện để doanh nghiệp chiếm lĩnh thị trờng. Lợi nhuận giúp
doanh nghiệp hoàn thành nghĩa vụ với ngân sách nhà nớc, bảo toàn
và phát triển vốn, đồng thời đảm bảo thu nhập và nâng cao mức
sống cho ngời lao động.
Lợi nhuận cao thể hiện năng lực, trình độ quản lý sản xuất kinh
doanh của đội ngũ cán bộ quản lý doanh nghiệp. Trong điều kiện cơ
chế quản lý mới, doanh nghiệp thu đợc lợi nhuận một cách hợp lý,
Phạm Thị Quỳnh Mai Lớp A11- K37F
10
Lợi nhuận và các biện pháp Đại học Ngoại thơng
hợp pháp là doanh nghiệp đáp ứng đợc với môi trờng kinh doanh.
Tuy lợi nhuận là mối quan tâm hàng đầu của mỗi doanh nghiệp, nh-
ng không vì thế mà doanh nghiệp bỏ qua lợi ích chung của xã hội.
Đứng trên góc độ này thì doanh nghiệp phải đề ra những giải pháp
tăng lợi nhuận trong khuôn khổ pháp luật, phù hợp với lợi nhuận
chung của nền kinh tế xã hội.
Nói tóm lại, lợi nhuận vừa là mục tiêu vừa là động lực, vừa là
điều kiện tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Lợi nhuận là thớc
đo tổng hợp trình độ quản lý, trình độ tổ chức, chuyên môn của
doanh nghiệp. Nhờ có lợi nhuận, doanh nghiệp mở rộng quy mô sản
xuất kinh doanh. Lợi nhuận còn là nguồn tích luỹ cơ bản để Nhà n-
ớc tái sản xuất mở rộng nền kinh tế quốc dân, xây dựng cơ sở hạ
tầng, kích thích sản xuất kinh doanh phát triển. Lợi nhuận cũng còn
là nguồn thu nhập để ngời lao động tái sản xuất sức lao động, tạo
mối quan hệ chặt chẽ với doanh nghiệp.
3. Lợi nhuận là một mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp
Vì sự phát triển bền vững của chính mình, mỗi doanh nghiệp
đều phải nỗ lực hài hoà các mục tiêu kinh doanh, trong đó phải kể
đến lợi nhuận; chất lợng sản phẩm, dịch vụ; khách hàng; cạnh
tranh; đổi mới. Tuỳ từng giai đoạn sản xuất kinh doanh nhất định và
có tính đến đặc điểm thị trờng, mà doanh nghiệp đa ra thứ tự u tiên
cho các mục tiêu này. Chẳng hạn, khi mới thâm nhập thị trờng,
muốn sản phẩm của mình có sức thu hút sự chú ý của khách hàng và
chấp nhận tình huống xấu là thua lỗ, doanh nghiệp sẽ chú trọng tới
mục tiêu khách hàng và mục tiêu chất lợng sản phẩm. Vấn đề hoàn
thiện chất lợng sản phẩm sẽ là u tiên hàng đầu nhằm tạo đợc lợi thế
cạnh tranh cho sản phẩm của mình, lôi kéo đợc khách hàng của các
doanh nghiệp khác. Đó đã là một thành công lớn, một tiền đề khả
Phạm Thị Quỳnh Mai Lớp A11- K37F
11
Lợi nhuận và các biện pháp Đại học Ngoại thơng
quan đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp trên thị
trờng.
Song hơn hết thảy, lợi nhuận là yếu tố phản ánh tổng hợp kết
quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.Và nh đã phân tích, lợi
nhuận là động lực kinh doanh, là mục tiêu cuối cùng của doanh
nghiệp, đồng thời là đòn bẩy kinh tế lợi hại trong quản lý kinh tế
nói chung và quản lý doanh nghiệp nói riêng. Bởi vì, muốn đứng
vững trong cuộc cạnh tranh khốc liệt của thị trờng thì hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp phải có hiệu quả, tức là trớc hết phải
có lợi nhuận. Có lợi nhuận, các doanh nghiệp mới có tiền đề vật
chất để bảo toàn và phát triển nguồn vốn kinh doanh, mở rộng quy
mô kinh doanh, hay nói cách khác là để tồn tại và phát triển.
Do đó, duy trì một mức độ lợi nhuận kinh doanh hợp lý là cần
thiết để giữ đợc sản xuất ở mức độ cao và cung cấp tài chính cho
tăng trởng kinh tế quốc dân. Lợi nhuận chỉ phát sinh tác động khi
nó là quá mức, nghĩa là nó đợc tăng lên một cách bất hợp lý so với
khoản tiền đầu t và mức rủi ro mà chủ doanh nghiệp phải gánh chịu.
Hiện tợng này sẽ chỉ xảy ra trong điều kiện cạnh tranh bị hạn chế.
II.Các yếu tố cấu thành lợi nhuận
1. Doanh thu
1.1. Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ
Chỉ tiêu này phản ánh tổng doanh thu bán hàng hoá, thành
phẩm và cung cấp dịch trong kỳ báo cáo của doanh nghiệp. Nó bao
gồm toàn bộ số tiền mặt thu đợc và các khoản phải thu từ khách
hàng mua chịu hàng hoá và đợc xác định ngay tại thời điểm bán
hàng.
Các khoản giảm trừ:
Chỉ tiêu này phản ánh tổng hợp các khoản đợc ghi giảm trừ
vào tổng doanh thu trong kỳ, bao gồm: các khoản chiết khấu thơng
Phạm Thị Quỳnh Mai Lớp A11- K37F
12
Lợi nhuận và các biện pháp Đại học Ngoại thơng
mại, giảm giá hàng bán, hàng bán bị trả lại và thuế tiêu thụ đặc
biệt, thuế xuất khẩu, thuế giá trị gia tăng tính theo phơng pháp trực
tiếp phải nộp tơng ứng với số doanh thu đợc xác định kỳ báo cáo.
+) Chiết khấu thơng mại: Chỉ tiêu này phản ánh tổng số chiết
khấu thơng mại cho ngời mua hàng của doanh nghiệp cho số hàng
hoá, thành phẩm, dịch vụ đã bán phát sinh trong kỳ báo cáo.
+) Giảm giá hàng bán : Chỉ tiêu này phản ánh số giảm giá
hàng bán cho ngời mua hàng của doanh nghiệp cho số hàng hoá,
thành phẩm đã bán bị kém, mất phẩm chất phát sinh trong kỳ
báo cáo.
+) Hàng bán bị trả lại : Chỉ tiêu này phản ánh tổng giá bán
của số hàng hoá, thành phẩm đã bán bị trả lại trong kỳ báo cáo.
+) Thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu phải nộp, thuế giá trị
gia tăng tính theo phơng pháp trực tiếp : Chỉ tiêu này phản ánh tổng
số thuế tiêu thụ đặc biệt hoặc thuế xuất khẩu phải nộp, thuế GTGT
theo phơng pháp trực tiếp cho ngân sách nhà nớc theo số doanh thu
phát sinh trong kỳ báo cáo.
Doanh thu thuần về bán hàng và cung cấp dịch vụ
Chỉ tiêu này phản ánh số doanh thu bán hàng hoá, thành phẩm
và cung cấp dịch vụ đã trừ các khoản giảm trừ (chiết khấu thơng
mại, giảm giá hàng bán, hàng bán bị trả lại, thuế tiêu thụ đặc biệt,
thuế xuất khẩu, thuế GTGT theo phơng pháp trực tiếp ) trong kỳ báo
cáo, làm căn cứ tính kết quả hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp.
1.2. Doanh thu hoạt động tài chính
Chỉ tiêu này phản ánh doanh thu hoạt động tài chính thuần
(tổng doanh thu trừ (-) thuế GTGT theo phơng pháp trực tiếp (nếu
có) liên quan đến hoạt động khác) phát sinh trong kỳ báo cáo của
doanh nghiệp.
Phạm Thị Quỳnh Mai Lớp A11- K37F
13
Lợi nhuận và các biện pháp Đại học Ngoại thơng
1.3. Thu nhập khác
Chỉ tiêu này phản ánh các khoản thu nhập khác (đã trừ thuế
GTGT phải nộp tính theo phơng pháp trực tiếp) phát sinh trong kỳ
báo cáo
2. Chi phí
2.1. Giá vốn hàng bán
Chỉ tiêu này phản ánh tổng giá vốn của hàng hoá, giá thành
sản xuất của thành phẩm đã bán, chi phí trực tiếp của các dịch vụ
đã cung cấp, chi phí khác đợc tính vào hoặc ghi giảm giá vốn hàng
bán trong kỳ báo cáo.
2.2. Chi phí bán hàng
Chỉ tiêu này phản ánh tổng chi phí bán hàng phân bổ cho số
hàng hoá, thành phẩm, dịch vụ đã bán trong kỳ báo cáo.
2.3. Chi phí quản lý doanh nghiệp
Đây là chỉ tiêu phản ánh tổng chi phí quản lý doanh nghiệp
phân bổ cho số hàng hoá, thành phẩm, dịch vụ đã bán trong kỳ báo
cáo.
2.4. Chi phí tài chính
Chỉ tiêu này phản ánh tổng chi phí tài chính, gồm tiền lãi vay
phải trả, chi phí bản quyền, chi phí hoạt động liên doanh, phát
sinh trong kỳ báo cáo của doanh nghiệp.
2.5. Chi phí khác
Chỉ tiêu này phản ánh các khoản chi phí khác.
3. Thuế thu nhập doanh nghiệp
Chỉ tiêu này phản ánh tổng số thuế thu nhập doanh nghiệp
phải nộp trong kỳ báo cáo.
Phạm Thị Quỳnh Mai Lớp A11- K37F
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét