Thứ Ba, 21 tháng 1, 2014

Phát triển nghiệp vụ Tái bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển tại Công ty cổ phần Bảo hiểm Bưu điện (PTI).DOC

Chuyên đề tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
Năm 2007, sau nhiều năm tham gia đàm phán, Việt Nam đã
chính thức gia nhập Tổ chức kinh tế thế giới WTO, mở ra giai đoạn phát triển
mới cho nền kinh tế nước nhà nói chung và ngành bảo hiểm nói riêng. Tuy nhiên,
trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt này, cơ hội sẽ chia đều cho mọi thành viên chứ
không phải là các công ty nước ngoài chiếm ưu thế.Sự cạnh tranh gay gắt trên thị
trường bảo hiểm khi Việt Nam là thành viên chính thức của WTO chính là cơ hội
để sàng lọc và chỉ những DN thực sự “khoẻ” mới đủ sức để trụ vững và phát
triển. "
Sự hiện diện của nhiều công ty nước ngoài đã giúp thay đổi cách thức quản
lý cũng như tiếp cận thị trường của ngành bảo hiểm. Thị trường được tái cấu trúc
lại theo hướng tốt hơn về mặt pháp luật trở nên minh bạch hơn Điều đặc biệt là
các công ty trong nước cũng bắt đầu niêm yết tại các thị trường chứng khoán
nước ngoài để khẳng định vị trí của mình.
Đối với dịch vụ bảo hiểm hàng hoá vận chuyển, tỷ trọng hàng hoá xuất nhập
khẩu mua bảo hiểm còn quá khiêm tốn so với tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của
Việt Nam. Các cam kết về dịch vụ bảo hiểm của Việt Nam cũng chưa có tác động
đáng kể đối với dịch vụ bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu".
Việc trở thành thành viên của WTO không chỉ tạo ra những thay đổi to lớn
đối với mỗi doanh nghiệp bảo hiểm, mà riêng đối với nghiệp vụ bảo hiểm hàng
hoá XNK vận chuyển bằng đường biển, điều này cũng khiến thị trường xuất nhập
khẩu của Việt Nam có những biến động nhất định.
Song song với việc thực hiện các cam kết về thuế, chúng ta cũng triến khai
một loạt các cam kết liên quan khác. Về quyền kinh doanh xuất nhập khẩu: Việt
Nam đồng ý cho doanh nghiệp nước ngoài được quyền xuất nhập khẩu hàng hóa
như doanh nghiệp Việt Nam kể từ khi gia nhập, trừ các mặt hàng thuộc danh mục
"thương mại nhà nước"
Có thể khẳng định, sau 2 năm gia nhập WTO, mặc dù còn nhiều khó khăn
trước mắt, nhưng nền kinh tế Việt nam đã vượt qua được những thách thức, rút ra
Bùi Hồng Trinh
Kinh tế bảo hiểm 47B
1
Chuyên đề tốt nghiệp
được những bài học bổ ích để từng bước phát triển bền vững. Với xuất phát điểm
là một nền kinh tế đang trong giai đoạn chuyển đổi, ở trình độ thấp và có quy mô
nhỏ so với kinh tế thế giới, các biến động phức tạp và khó lường trước của nền
kinh tế thế giới thời gian qua đã có tác động không nhỏ tới nền kinh tế Việt Nam.
Tuy nhiên, so với nhiều nước trong khu vực, chúng ta vẫn đạt được những chỉ
tiêu kinh tế đáng khích lệ. Hoạt động xuất nhập khẩu vẫn tiếp tục khởi sắc, duy
trì tăng trưởng cao, năm 2008 dự kiến xuất khẩu xấp xỉ 63 tỉ USD, tăng trên
29,5% so với 2007, nhập khẩu ước đạt 79,9 tỉ USD, tăng 27,5% so với 2007. 10
mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam có kim ngạch trên 1 tỉ USD như: Dệt may, cà
phê, cao su, thủy sản, dầu thô, giầy dép, điện tử và linh kiện điện tử, sản phẩm gỗ
và nhóm sản phẩm cơ khí, tiếp tục được giữ vững; đồng thời mặt hàng dây điện
và cáp điện cũng có khả năng trở thành thành viên của «câu lạc bộ 1 tỉ USD»
này.
Môi trường kinh doanh được cải thiện một cách rõ rệt, minh bạch hơn nhờ
thực thi các cam kết về minh bạch hóa chính sách, không phân biệt đối xử, giảm
bớt rào cản trong tiếp cận thị trường và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ. Nhận thức
của người dân và các doanh nghiệp về việc tham gia WTO đã có sự chuyển biến
tích cực.
Việt Nam trở thành nơi hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài vào một số
ngành như điện tử, tin học, dệt may, luyện và cán thép, ngân hàng, tài chính bảo
hiểm, bất động sản Mặc dù chịu ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính tiền tệ
toàn cầu năm 2008, nhưng GDP vẫn đạt mức tăng trưởng khoảng 6,5%, tuy có
giảm hơn so với năm 2007, thu hút đầu tư nước ngoài tăng rất mạnh trong năm
2007, năm 2008, số vốn đăng kí đạt gần 64 tỉ USD.
Tất cả những thay đổi trên đã tác động mạnh mẽ đến hoạt động kinh doanh
của các doanh nghiệp bảo hiểm.
Là một công ty dù đã được thành lập hơn 10 năm, nhưng so với các công ty
lâu năm trên thị trưởng như Bảo Việt, PJICO…và các công ty nước ngoài, khả
năng tài chính của Công ty cổ phần Bảo hiểm Bưu điện hết sức quan tâm và đã
thực hiện nghiệp vụ tái bảo hiểm để đảm bảo ổn định kinh doanh. Trong quá trình
Bùi Hồng Trinh
Kinh tế bảo hiểm 47B
2
Chuyên đề tốt nghiệp
thực hiện vẫn còn nhiều vần đề cần nghiên cứu và làm rõ để giải quyết vướng
mắc ở các khâu nghiệp vụ.
Với vốn kiến thức còn hạn chế của một sinh viên sắp ra trường và niềm yêu
thích với nghiệp vụ Tái bảo hiểm, trong thời gian thực tập ở Công ty cổ phần Bảo
hiểm Bưu điện, em xin mạnh dạn đề xuất đề tài:
“Phát triển nghiệp vụ Tái bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận
chuyển bằng đường biển tại Công ty cổ phần Bảo hiểm Bưu điện (PTI)”.
Bài viết được chia thành ba chương:
CHƯƠNG I: Lý luận chung về nghiệp vụ TBH hàng hóa xuât nhập khẩu
vận chuyển bằng đường biển.
CHƯƠNG II: Hoạt động kinh doanh TBH nghiệp vụ Bảo hiểm Hàng hóa
xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển tại Công ty Cổ phần Bảo hiểm
Bưu điện trong giai đoạn 2004-2008.
CHƯƠNG III. Một số kiến nghị nhằm phát triển nghiệp vụ TBH hàng hoá
xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển.
Mặc dù hết sức cố gắng, nhưng chắc chắn bài viết không thể tránh khỏi
những thiếu sót nhất định. Kính mong sự đóng góp ý kiến, nhận xét của thầy cô
giáo, các cán bộ và các bạn để bài viết của em được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tình của cô giáo – Ths. Bùi
Quỳnh Anh và ban lãnh đạo và tập thể các cán bộ công ty PTI, đặc biệt là các cán
bộ TBH/Trưởng nhóm nghiệp vụ bộ phòng Tái bảo hiểm đã giúp đỡ em hoàn
thành bài viết này.
Bùi Hồng Trinh
Kinh tế bảo hiểm 47B
3
Chuyên đề tốt nghiệp
CHƯƠNG I: Lý luận chung về nghiệp vụ TBH hàng hóa xuât
nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển.
1.1. Khái quát về Bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng
đường biển
1.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển
Việc các quốc gia Châu Âu thông qua các cuộc viễn chinh tới Châu Á và
Châu Mỹ nhằm tìm ra những tuyến đường thương mại mới vào thế kỷ 15 và 16
đã tạo ra “Cuộc cách mạng thương mại”. Chính điều này đã cho phép các quốc
gia hùng mạnh ở Châu Âu xây dựng một mạng lưới thương mại quốc tế mới
nhằm tìm kiếm nguồn tài nguyên mang lại sự giàu có. Để đáp ứng nhu cầu này,
nhiều học thuyết kinh tế mới và thực tiễn đã xuất hiện, trong đó có ý tưởng về
quỹ chung và rủi ro đồng loạt. Trong thời kỳ này, thương mại gặp rất nhiều rủi ro
kinh doanh làm giảm lợi nhuận của những thương gia. Nguyên nhân là do trong
cả đội tàu, một số tàu có thể bị chìm do bão tố, cạn kiệt nguồn cung cấp hoặc đội
thuỷ thủ chết vì bệnh tật, lạc đường, bị chìm do quá tải, hoặc bị mọt ăn thủng.
Những người tham gia đầu tư vào những chuyến như kể trên cảm thấy cần thiết
phải cùng nhau chia sẻ rủi ro tránh tình trạng một số nhà đầu tư mất trắng toàn bộ
chuyến hàng do một hiện tượng khá phổ biến: tàu bị mất tích. Có 2 hình thức hay
được sử dụng là:
Cách thứ nhất là Hình thức cổ phần, theo đó các chủ hàng tập hợp lại, cùng
sở hữu cổ phần của chuyến hàng. Khi tổn thất xảy ra tất cả cùng phải gánh chịu.
Cách thứ hai là Bảo hiểm, một hệ thống theo đó chủ tàu hay chủ hàng (có
thể là một cá nhân hay một công ty) trả một số tiền mặt cho công ty bảo hiểm nếu
họ thoả thuận sẽ bồi thường khi con tàu đã nêu trên không hoàn thành một
chuyến đi cụ thể nào đó. Những công ty bảo hiểm này đã tạo lập một quỹ chung
dùng để thanh toán cho người được bảo hiểm khi xảy ra tổn thất.
Có thể nói, bảo hiểm hàng hải là loại hình bảo hiểm lâu đời nhất. Một trong
những đơn bảo hiểm hàng hải đầu tiên mà người ta tìm thấy là đơn bảo hiểm cấp
Bùi Hồng Trinh
Kinh tế bảo hiểm 47B
4
Chuyên đề tốt nghiệp
vào năm 1347 tại Genoa (Italia) cho tàu Santaclara đi đến quần đảo Magioca
thuộc Tây Ban Nha. Người ta cho rằng bảo hiểm hàng hải ra đời bắt đầu từ những
người cho vay nặng lãi sống ở miền Bắc Italia. Những người này thường cho chủ
tàu vay nợ với điều kiện là nếu tàu đi trót lọt thì chủ tàu phải trả một khoản lãi rất
nặng. Ngược lại, nếu tàu bị đắm, mất hết thì được xoá nợ. Lối cho vay này gọi là
vay “được ăn cả ngã về không” hay cho vay kiêm bảo hiểm.
Bảo hiểm hàng hải là bảo hiểm những rủi ro trên biển hoặc những rủi ro trên
bộ, trên sông liên quan đến hành trình đường biển, gây tổn thất cho các đối tượng
bảo hiểm chuyên chở trên biển.
Bảo hiểm sau đó phát triển sang Anh. Nước Anh là nước có nền ngoại
thương phát triển nên bảo hiểm cũng phát triển sớm và đầy đủ hơn. Ngay từ thế
kỷ 17 Anh đã có mẫu đơn bảo hiểm tàu và hàng (Lloyd’s SG Form) vẫn được áp
dụng cho đến ngày nay. Ở Mỹ công ty bảo hiểm hàng hải đầu tiên là the
Insurance Company of North American, được thành lập vào năm 1792, bảo hiểm
cho các tàu (clipper) và hàng hoá chuyên chở của Mỹ.
Theo thời gian, bảo hiểm hàng hải phát triển thành một hỗn hợp các đơn bảo
hiểm tài sản mở rộng đối với các rủi ro trên đất liền (bảo hiểm hàng nội địa) và
rủi ro trên biển (bảo hiểm hàng hoá vận chuyển bằng đường biển).
Bảo hiểm hàng hải được chia thành 3 loại chính là:
− Bảo hiểm thân tàu: Bảo hiểm thân tàu là bảo hiểm những thiệt hại vật
chất xảy ra đốí với vỏ tàu, máy móc và các thiết bị trên tàu đồng thời bảo hiểm
cước phí, các chi phí hoạt động của tàu và một phần trách nhiệm mà chủ tàu phải
chịu trong trường hợp hai tàu đâm va nhau.
− Bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ tàu: là bảo hiểm những thiệt hại
phát sinh từ trách nhiệm của chủ tàu trong quá trình sở hữu, kinh doanh khai thác
tàu biển gây ra đối với hàng hoá họ chịu trách nhiệm trông coi; tử vong hay bị
thương của hành khách, thuỷ thủ và người bốc dỡ; thiệt hại đối với đê chắn sóng,
cầu, cảng, cáp ngầm dưới biển; và gần đây nhất là cả những tổn thất gây ra do ô
nhiễm.
Bùi Hồng Trinh
Kinh tế bảo hiểm 47B
5
Chuyên đề tốt nghiệp
− Bảo hiểm hàng hoá: được các chủ hàng sử dụng khi vận chuyển hàng
theo đường biển hoặc đường hàng không trong thương mại quốc tế.
1.1.2. Sự cần thiết khách quan
Vận chuyển bằng đường biển là phương thức vận chuyển lâu đời nhất của
loài người. Mặc dù vai trò lịch sử của vận chuyển hàng hoá bằng đường biển ở
một mức độ nào đó đã suy giảm do sự ra đời của các phương tiện vận chuyển hữu
hiệu khác như ôtô hay máy bay, nhưng nó vẫn đóng vai trò hết sức quan trọng do
có những ưu thế vượt trội như:
− Có thể vận chuyển được nhiều chủng loại hàng hoá như các loại hàng hoá
siêu trường, siêu trọng (nguyên liệu thô: than đá, dầu, … hoặc các phương tiện
vận tải, máy móc…) với khối lượng lớn, mà các phương tiện vận tải khác như:
đường bộ, đường hàng không… không thể đảm nhận được.
− Các tuyến vận chuyển đường biển rộng lớn nên trên một tuyến có thể tổ
chức được nhiều chuyến tàu trong cùng một lúc cho cả hai chiều.
− Việc xây dựng và bảo quản các tuyến đường biển dựa trên cơ sở lợi dụng
điều kiện thiên nhiên của biển, do đó không phải đầu tư nhiều về vốn, nguyên,
vật liệu, sức lao động. Đây là một trong những nguyên nhân làm cho giá thành
vận chuyển bằng đường biển thấp hơn so với các phương tiện khác.
− Vận chuyển bằng đường biển góp phần phát triển tốt mối quan hệ kinh tế
với các nước, thực hiện đường lối kinh tế đối ngoại của nhà nước; góp phần tăng
thu ngoại tệ…
Tuy nhiên, vận chuyển đường biển cũng có một số nhược điểm cố hữu sau:
− Vận chuyển bằng đường biển gặp rất nhiều yếu tố rủi ro. Các rủi ro này có
thể do các yếu tố tự nhiên, yếu tố kỹ thuật hay yếu tố xã hội, con người.
Do yếu tố tự nhiên: Vận chuyển bằng đường biển phụ thuộc rất nhiều vào
điều kiện tự nhiên. Thời tiết, khí hậu trên biển đều ảnh hưởng trực tiếp đến quá
trình vận chuyển bằng đường biển. Nhửng rủi ro do thiên tai bất ngờ như bão,
sóng thần, lốc… có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Yếu tố tự nhiên diễn ra không theo
Bùi Hồng Trinh
Kinh tế bảo hiểm 47B
6
Chuyên đề tốt nghiệp
một quy luật nhất định nào. Vì vậy, mặc dù khoa học kỹ thuật ngày càng phát
triển và có thể dự báo thời tiết, nhưng rủi ro vẫn có thể xảy ra.
Do yếu tố kỹ thuật: Trong hoạt động của mình, con người ngày càng sử dụng
nhiều hơn các phương tiện khoa học kỹ thuật hiện đại. Nhưng dù máy móc hiện
đại chính xác đến đâu cũng không tránh khỏi trục trặc về kỹ thuật, đó là trục trặc
của chính con tàu, kỹ thuật dự báo thời tiết, các tín hiệu điều khiển từ đất liền…
từ đó gây ra đổ vỡ, mất mát hàng hoá trong quá trình XNK.
Do yếu tố xã hội, con người: Hàng hoá có thể bị mất trộm, mất cắp, bị cướp,
hoặc bị thiệt hại do chiến tranh…
− Tốc độ của tàu biển còn chậm, hành trình trên biển có thời gian dài, nên xác
suất rủi ro tai nạn trên biển càng cao nhưng việc ứng cứu rủi ro, tai nạn rất khó
khăn.
− Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, mỗi chuyến tàu thường có giá trị rất
lớn bao gồm giá trị tàu và hàng hoá chở trên tàu. Vì vậy, nếu rủi ro xảy ra sẽ gây
tổn thất rất lớn về tài sản, trách nhiệm và con người.
− Trong quá trình vận chuyển, hàng hoá được chủ phương tiện chịu trách
nhiệm chính. Nhưng trách nhiệm này rất hạn chế về thời gian, phạm vi và mức độ
tuỳ theo điều kiện giao hàng và vận chuyển. Từ năm 1921, Dự thảo luật có tên
Hague đã được soạn thảo nhằm điều chỉnh các hoạt động vận chuyển trên biển.
Bộ luật này chính thức được áp dụng vào năm 1924 sau khi được nhiều nước
thông qua tại Hội nghị Brussel (Bỉ) cũng trong năm này. Năm 1968, Uỷ ban
Hàng hải Quốc tế đã sửa đổi Bộ luật này và lấy tên mới là Hague -Visby. Theo
đó, trách nhiệm của người vận chuyển đối với tổn thất chỉ giới hạn ở mức 666.7
SDR một đơn vị hàng hoá, tương đương 2 SDR một kilogram hàng hoá bị mất
hoặc hư hỏng, mặc dù họ được miễn trách nhiệm trong trường hợp hiểm hoạ tự
nhiên, trộm cắp.
Trong thực tế, đòi bồi thường từ các công ty vận chuyển rất phức tạp và tốn
chi phí. Trong hầu hết các trường hợp, các các công ty này đều đến từ nước
ngoài, thậm chí từ châu lục khác, do vậy, tư vấn về luật hàng hải từ các chuyên
gia là điều cần thiết.
Bùi Hồng Trinh
Kinh tế bảo hiểm 47B
7
Chuyên đề tốt nghiệp
Tất cả những phân tích nêu trên cho thấy, bảo hiểm là rất cần thiết cho vận
chuyển hàng hoá bằng đường biển.
1.1.3. Đặc điểm cơ bản
a) Quá trình xuất nhập khẩu (XNK) hàng hoá có nhiều bên liên quan, được
thực hiện thông qua ba loại hợp đồng:
− Hợp đồng mua bán: giữa người mua và người bán trong đó thể hiện sự
chuyển giao quyền sở hữu hàng hoá từ người bán sang người mua.
− Hợp đồng vận chuyển.
− Hợp đồng bảo hiểm.
Hai loại hợp đồng sau cùng tuỳ theo điều kiện giao hàng được áp dụng là
FOB hay CIF mà xác định các bên liên quan. Nếu sử dụng điều kiện FOB, dịch
vụ vận chuyển và mua bảo hiểm cho hàng hoá do người mua đảm nhận với người
vận chuyển và công ty bảo hiểm. Còn trong điều kiện CIF, các dịch vụ này sẽ do
người bán đảm nhận.
b)Hàng hoá XNK thường được vận chuyển qua biên giới quốc gia, chịu sự
kiểm soát của hải quan, kiểm dịch… theo quy định của từng nước và phải được
mua bảo hiểm theo tập quán thương mại quốc tế.
c) Hàng hoá XNK thường được vận chuyển bằng nhiều loại phương tiện
khác nhau theo phương thức vận chuyển đa phương tiện.
1.2. Tái bảo hiểm Hàng hóa xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển
1.2.1. Khái niệm chung về TBH
Bảo hiểm là một phạm trù kinh tế. Đặc trưng của nó là việc thành lập mang
tính chất tập thể một quỹ dự trữ tài chính thông qua sự vận dụng các quy luật
thống kê và nguyên tắc cân đối cũng như việc phân phối mang tính chất riêng rẽ
quỹ đó để đáp ứng những nhu cầu có thể dự đoán được trong tương lai phát sinh
ra từ những sự cố bất ngờ gây thiệt hại hay xảy ra.
Như vậy khái niệm bảo hiểm chứa đựng hai yếu tố cơ bản sau:
− Tính tập thể của việc thành lập quỹ dự trữ, có nghĩa là mỗi thành viên tham
gia bảo hiểm đều phải đóng góp một khoản tiền nhất định (Phí bảo hiểm). Phí
Bùi Hồng Trinh
Kinh tế bảo hiểm 47B
8
Chuyên đề tốt nghiệp
này được tính dựa trên quy luật thống kê (bao gồm thống kê tổn thất và mức độ
trung bình của các tổn thất, thống kê các đơn vị rủi ro) và nguyên tắc cân đối (có
nghĩa là tổng số phí thu được phải bằng tổng số tiền chi trả bồi thường).
− Tính riêng rẽ của việc phân phối quỹ dự trữ, có nghĩa là chỉ phân phối quỹ
cho những thành viên khi có rủi ro bất ngờ gây thiệt hại thuộc phạm vi bảo hiểm
xảy ra. Những rủi ro bất ngờ này về tổng thể phải dự đoán được và hay xảy ra.
Trên đây cũng là những yếu tố cơ bản cần phải chú ý khi tiến hành việc lập,
quản lý và phân phối quỹ tiền tệ thông qua hình thức bảo hiểm. Dựa theo các rủi
ro được bảo hiểm, các ngành kinh tế khác nhau và các quá trình tiến hành bảo
hiểm được chia thành nhiều loại và được tổ chức thành một hệ thống độc lập của
nền kinh tế quốc dân (ở nhiều nước nó còn được gọi là ngành kinh tế bảo hiểm).
Một trong những loại hình đó là Tái bảo hiểm (TBH).
Tái bảo hiểm là một hình thức bảo hiểm lại những rủi ro đã được bảo hiểm
cho các công ty bảo hiểm (công ty bảo hiểm gốc) tại một hay nhiều công ty bảo
hiểm khác nhau (công ty TBH). Nói cách khác, TBH là bảo hiểm cho người bảo
hiểm.
Đối với các nước có nền kinh tế tập trung như Việt Nam, TBH là một lĩnh
vực đặc biệt của hệ thống bảo hiểm nhà nước và đồng thời cũng là một bộ phận
của ngành kinh tế đối ngoại, mà chủ yếu là các quan hệ tài chính đối ngoại. Cũng
như đối với các loại hình bảo hiểm khác, việc tiến hành nghiệp vụ TBH đòi hỏi
phải có các điều kiện sau:
− Số lượng rủi ro phải đủ lớn để quy luật số đông phát huy được tác dụng qua
đó, yếu tố ngẫu nhiên được loại trừ.
− Mức độ tổn thất có thể xảy ra từ các rủi ro được bảo hiểm không được phép
chênh lệch quá lớn, cũng như không được phép có nhiều tổn thất quá lớn xảy ra
trong số hợp đồng bảo hiểm (Tình trạng này dẫn đến sự không đồng nhất trong
hợp đồng bảo hiểm).
− Khả năng thường xuyên xảy ra tổn thất (Nếu không có điều kiện này thì
không phát sinh nhu cầu bảo hiểm).
Bùi Hồng Trinh
Kinh tế bảo hiểm 47B
9
Chuyên đề tốt nghiệp
Nhiệm vụ chủ yếu của TBH là phân chia các rủi ro đã được bảo hiểm của
các công ty bảo hiểm gốc cho một tập thể những công ty TBH và thông quá đó sẽ
tận dụng được một cách tối ưu các quy luật thống kê. Với nhiệm vụ trên, TBH ổn
định kinh doanh cho các công ty bảo hiểm gốc và tạo điều kiện cho các công ty
này có thể nhận bảo hiểm cho những rủi ro vượt quá khả năng tài chính của
mình Ví dụ sau đây sẽ minh họa cho điều đó:
Một công ty bảo hiểm A chỉ có khả năng thanh toán tiền bồi thường tối đa là
$1 triệu, muốn bảo hiểm cho một chiêc tàu chở một khối lượng hàng hóa lớn trị
giá $10 triệu. Nếu giả sử không có TBH thì công ty A không thể ký hợp đồng bảo
hiểm với chủ tàu đó được, vì khi không may có tổn thất toàn bộ xảy ra thì công ty
A sẽ bị phá sản. Nhưng do có hình thức TBH nên công ty bảo hiểm A vẫn ký
được hợp đồng bảo hiểm với chủ tàu bảo hiểm cho con tàu trị giá $10 triệu đó.
Sau khi ký hợp đồng, công ty bảo hiểm A dùng phương pháp TBH phân tán bớt
mức trách nhiệm mà mình phải gánh chịu. Trong trường hợp này, công ty bảo
hiểm A chỉ giữ lại 10%, còn 90% của $10 triệu công ty bảo hiểm A chuyển cho
các công ty TBH khác, ví dụ như 50% cho công ty TBH B và 40% cho công ty
TBH C.
Thông qua ví dụ trên chúng ta thấy được vai trò và nhiệm vụ của TBH. Ở
đây cần phải phân biệt sự khác nhau của TBH và Đồng bảo hiểm. Mặc dù có
điểm giống nhau giữa TBH và đồng bảo hiểm là cùng có nhiều công ty bảo hiểm
tham gia bảo hiểm cho cùng một đơn vị rủi ro, nhưng giữa chúng có nhiều điểm
khác nhau. Đó là:
Ký hợp đồng: - Trong TBH: Công ty bảo hiểm gốc đứng ra ký hợp đồng
bảo hiểm với người tham gia và sau đó phân chia trách
nhiệm cho các công ty TBH theo sự thỏa thuận giữa họ và
các công ty TBH.
- Trong đồng bảo hiểm: Việc ký hợp đồng do nhiều công ty
bảo hiểm tiến hành, mỗi một công ty tham gia đồng bảo
hiểm đều phải ký tên vào giấy chứng nhận bảo hiểm.
Bùi Hồng Trinh
Kinh tế bảo hiểm 47B
10

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét