Chương 1: Thương mại điện tử - cơ sở lý luận và thực tiễn
- Hệ thống hóa dưới góc độ lý thuyết những vấn đề cơ bản về thương
mại điện tử.
- Phân tích, đánh giá quá trình hình thành và phát triển thương mại
điện tử trên phạm vi quốc tế và Việt Nam, chỉ ra các nhân tố và điều kiện
cần thiết cho sự phát triển thương mại điện tử ở Việt Nam. Từ đó, bước đầu
xác định những vấn đề đặt ra đối với sự phát triển TMĐT ở Việt Nam.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm tạo lập cơ sở cho sự tiếp cận và từng
bước phát triển thương mại điện tử ở Việt Nam.
7. Bố cục của luận văn:
Luận văn gồm 3 chương.
Chương 1: Thương mại điện tử - cơ sở lý luận và thực tiễn, gồm 3 tiết.
Chương 2: Thực trạng phát triển thương mại điện tử ở Việt Nam, gồm
2 tiết.
Chương 3: Một số kiến nghị nhằm đẩy mạnh sự phát triển thương mại
điện tử ở Việt Nam, gồm 2 tiết.
- 5 -
Chương 1: Thương mại điện tử - cơ sở lý luận và thực tiễn
CHƯƠNG 1
THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ - CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ - KHÍA CẠNH LÝ THUYẾT.
1.1.1. Định nghĩa Thương mại điện tử.
Trải qua gần một thập kỷ hình thành và phát triển, thương mại điện tử
(electronic commerce hay e-commerce) đã từng có nhiều tên gọi như:
"thương mại trực tuyến" (online trade), "thương mại điều khiển học"
(cybertrade), "kinh doanh điện tử" (electronic business hay e-business),
"thương mại không giấy tờ" (paperless commerce hoặc paperless trade)
Gần đây, cách gọi "thương mại điện tử" (e-commerce) được sử dụng phổ
biến, rồi trở thành quy ước chung, đưa vào văn bản pháp luật quốc tế, dù
rằng các tên gọi khác vẫn có thể được sử dụng và được hiểu tương tự [2, 5].
Tới nay, quan niệm về “thương mại điện tử” cũng rất khác nhau
trên phạm vi quốc tế, rất nhiều tổ chức và cá nhân đã đưa ra nhiều định
nghĩa khác nhau về “thương mại điện tử” (e-commerce). Các định nghĩa
về thương mại điện tử rất đa dạng và có khá nhiều điểm khác biệt. Sự khác
biệt chủ yếu trên 2 khía cạnh: phương tiện thực hiện (qua Internet hay qua
các phương tiện điện tử nói chung, ) và nội dung của hoạt động thương
mại (bao gồm nhiều lĩnh vực hay chỉ bó hẹp trong một số lĩnh vực).
Một số định nghĩa xác định nội dung hoạt động là các hoạt động
thương mại và phương tiện thực hiện là các phương tiện điện tử hay các
mạng viễn thông nói chung. "Thương mại điện tử, định nghĩa một cách đơn
giản, là những giao dịch thương mại trong lĩnh vực dịch vụ bằng các
phương tiện điện tử”. (Transatlantic Business Dialogue Electronic
- 6 -
Chương 1: Thương mại điện tử - cơ sở lý luận và thực tiễn
Commerce White Paper, 1997) [28]. “Thương mại điện tử gồm tất cả các
hình thức giao dịch thương mại, với chủ thể tham gia gồm cả các tổ chức và
các cá nhân, dựa trên sự xử lý và truyền các dữ liệu số hóa, bao gồm văn
bản, âm thanh, hình ảnh” (OECD, 1997) [30]. “Thương mại điện tử là sự
tiến hành các hoạt động thương mại, mà các hoạt động đó dẫn tới sự trao
đổi giá trị thông qua các mạng viễn thông” (European Information
Technology Obervatory 1997) [24]. "Thương mại điện tử là việc sử dụng
công nghệ có liên quan đến Internet để cải tiến và chuyển hình thái của các
hoạt động kinh doanh quan trọng. Thương mại điện tử là bất kỳ hoạt động
nào có thể nối các hệ thống kinh doanh trực tiếp tới khách hàng, nhân viên,
người bán hàng và các nhà cung cấp thông qua các mạng nhỏ (nội bộ bên
trong và bên ngoài) và trên mạng toàn thế giới"[1].
Một số định nghĩa xác định phương tiện thực hiện hẹp hơn, chỉ bao
gồm Internet. “Thương mại điện tử là thuật ngữ dùng để chỉ mua bán hàng
hóa và các dịch vụ trên mạng Internet, đặc biệt là qua dịch vụ World Wide
Web”[21, 334]. Việc giới hạn hẹp phương tiện hoạt động chỉ qua Internet
có ưu điểm là xác định cụ thể phương tiện thực hiện, thuận lợi cho việc
đánh giá, đo lường nhưng không bao quát được toàn bộ môi trường hoạt
động TMĐT, nhất là trong xu thế hiện nay CNTT dang phát triển không
ngừng, các phương tiện thực hiện TMĐT ngày càng mở rộng và phát triển.
Theo UNCTAD, rất nhiều định nghĩa về TMĐT chủ yếu dựa trên
những kinh nghiệm thực tế và thường không đánh giá hết sự quan trọng
thực sự của TMĐT cũng như những ảnh hưởng của nó tới nền kinh tế.
UNCTAD cho rằng đó là những định nghĩa mang tính mô tả (descriptive
definitions) và đã đưa ra hai định nghĩa mang tính hành động (operational
definitions) về TMĐT, với quan niệm định nghĩa mang tính hành động sẽ
là cơ sở thực tiễn cho hành động. Định nghĩa thứ nhất (định nghĩa theo
chiều ngang - horizontal definition), dưới góc độ quan tâm của doanh
- 7 -
Chương 1: Thương mại điện tử - cơ sở lý luận và thực tiễn
nghiệp, chủ yếu đề cập tới các khía cạnh giao dịch của TMĐT, còn định
nghĩa thứ hai (định nghĩa theo chiều dọc - vertical definition), dưới góc độ
quan tâm của chính phủ, chủ yếu đề cập tới các yêu cầu cần thiết đề có thể
thực thi một chiến lược TMĐT [25, 14-16].
Định nghĩa trên phương diện doanh nghiệp:
Nếu một doanh nghiệp có ý định bước vào lĩnh vực TMĐT, doanh
nghiệp đó cần xem xét có thể đáp ứng các yêu cầu cần thiết để có thể thực
hiện TMĐT hay không. Những nhà quản lý của các doanh nghiệp sẽ so
sánh "chuỗi cung ứng thông thường" với "chuỗi cung ứng TMĐT" họ có
thể thiết lập. Khi làm việc đó, họ sẽ phải xem xét tới khả năng thực hiện và
cơ sở thực tiễn qua các chức năng kinh doanh theo thứ tự nối tiếp như sau:
Tiếp thị - Bán hàng - Giao hàng - Thanh toán (Marketing - Sales - Delivery
- Payment). Có thể tóm tắt mô hình MSDP như đồ hình dưới đây :
Hình 1. MSDP: mô hình TMĐT theo chiều ngang
Định nghĩa thứ nhất có giá trị cả trên phương diện thực tiễn và trong
việc phân tích. Trên phương diện thực tiễn, định nghĩa này có thể giúp doanh
- 8 -
Chương 1: Thương mại điện tử - cơ sở lý luận và thực tiễn
nghiệp dễ dàng nhận diện những cơ hội và những khó khăn, cản trở khi bắt
đầu chiến lược TMĐT. Trên góc độ phân tích (và thống kê), định nghĩa này
cũng gợi mở một sự lựa chọn giữa rất nhiều định nghĩa mang tính mô tả. Có
thể xác định rằng nếu tối thiểu 2 trong 3 công đoạn cuối cùng của mô hình
trên (ký kết hợp đồng, giao nhận và thanh toán) được thực hiện qua Internet
thì đó là một giao dịch TMĐT.
Định nghĩa trên phương diện quốc gia:
Thay vì chú trọng tới các bước của một giao dịch TMĐT, định nghĩa
TMĐT theo chiều dọc nhấn mạnh tới vai trò của các đối tượng tham dự
khác nhau trong TMĐT (ví dụ như: chính phủ, các thể chế luật pháp, các
doanh nghiệp ). Hiểu theo cách thông thường, định nghĩa này rất gần với
những quan tâm của chính phủ trong việc đưa ra những sự lựa chọn mang
tính chiến lược để tạo môi trường thích hợp cho sự phát triển TMĐT.
Mô hình thứ hai (mô hình IMBSA) có thể được diễn tả theo cách
thức sau:
1. I viết tắt của hạ tầng (Infrastructure) - điều kiện đầu tiên cho sự
phát triển TMĐT và sử dụng Internet là hạ tầng viễn thông - lớp đầu tiên
của mô hình này.
2. M viết tắt của thư tín (Messages) - Một trong những điều kiện cần
thiết đầu tiên là phát triển các công cụ nhằm tiêu chuẩn hóa và làm tương
thích các thư tín điện tử - những thứ sẽ được trao đổi trong quá trình giao
dịch TMĐT. Mặc dù về cơ bản thư tín mang một “chức năng quốc tế” (thư
tín cần được trao đổi trên phạm vi toàn cầu) nhưng chính phủ đóng vai trò
quan trọng trong việc chấp thuận và phổ biến.
3. B là các cơ sở pháp lý căn bản (Basic Rules) - những đạo luật cơ
bản và mang tính quốc tế, bao gồm những lĩnh vực liên quan tới TMĐT. Ví
- 9 -
Chương 1: Thương mại điện tử - cơ sở lý luận và thực tiễn
dụ như luật thương mại (WTO), luật sở hữu trí tuệ (WIPO), cũng như các
qui định liên quan đến việc trao đổi thư tín điện tử,
4. S là các cơ sở pháp lý trong từng lĩnh vực (Sectoral Rules). Các
hoạt động trong mỗi lĩnh vực liên quan tới giao dịch TMĐT (như các hoạt
động thuộc ngân hàng, các mặt hàng cụ thể có thể mua bán qua mạng thông
tin, hay thậm chí những hoạt động cụ thể chịu ảnh hưởng của TMĐT như
giáo dục, y tế, ) cần phải dựa trên một hệ thống pháp luật và qui định nhất
quán, có thể đoán định.
5. A là các ứng dụng (Applications). Khi các điều kiện trên đã được
đảm bảo, sự thành công của một chiến lược TMĐT cần được đảm bảo rằng
các doanh nghiệp tham gia TMĐT có thể thực sự thu lợi từ môi trường đã
được tạo ra. Thiết kế các trang web hiệu quả, thiết kế và thực thi các chiến
lược liên minh thích hợp (gồm thông qua liên doanh hoặc liên minh) sẽ là
một trong những điều kiện đảm bảo thành công trong TMĐT.
Hình 2. IMBSA: một sự mô tả mang tính cấu trúc hóa
TMĐT toàn cầu
Mô hình theo chiều ngang có hai điều đáng quan tâm. Thứ nhất, mô
hình này là cơ sở để các chính phủ có thể xác định các nội dung cần có
nhằm tạo ra một môi trường thích hợp cho sự phát triển của TMĐT. Thứ
- 10 -
Chương 1: Thương mại điện tử - cơ sở lý luận và thực tiễn
hai, dựa trên mô hình này, các tổ chức quốc tế có thể xác định phương
hướng góp phần xây dựng hệ thống các hướng dẫn, các điều luật, các tiêu
chuẩn, các qui định để TMĐT toàn cầu có thể trở thành hiện thực.
Nhìn chung, khái niệm “thương mại điện tử” vẫn đang trong quá trình
định hình. Các tổ chức, các doanh nghiệp, các cá nhân, các chính phủ
thường đưa ra định nghĩa về TMĐT căn cứ theo từng mục tiêu cụ thể như:
tiến hành TMĐT, đo lường giá trị TMĐT hay xây dựng chiến lược TMĐT,
ban hành chính sách phát triển TMĐT,
Từ những quan niệm khác nhau về thương mại điện tử, có thể hiểu
khái niệm này với những đặc trưng cơ bản sau:
- Thương mại điện tử là loại hình thương mại hiện đại, đánh dấu bước
phát triển vượt bậc của hoạt động thương mại. Thương mại điện tử hình
thành trên cơ sở sự phát triển cao của lực lượng sản xuất, đặc biệt nhờ sự
phát triển vượt bậc của công nghệ thông tin và mạng Internet.
- Cùng với sự phát triển của kinh tế thị trường và sự phát triển không
ngừng của công nghệ thông tin, TMĐT ngày càng được ứng dụng trong
nhiều lĩnh vực và ngày càng phát triển các hình thức TMĐT mới.
- Hoạt động thương mại điện tử thu hút sự tham gia của mọi đối
tượng xã hội, đặc biệt cần có sự phối hợp và thống nhất trên phạm vi quốc
tế.
1.1.2. Các loại hình hoạt động chủ yếu trong thương mại điện tử.
- Thương mại điện tử giữa các doanh nghiệp (B2B)
Thương mại điện tử giữa các doanh nghiệp (Business to Business -
B2B) là loại hình hoạt động thương mại điện tử giữa các doanh nghiệp. Đặc
trưng quan trọng của loại hình hoạt động này là các hàng hóa, dịch vụ trong
giao dịch sẽ được sử dụng làm đầu vào để sản xuất các hàng hóa, dịch vụ
khác.
- 11 -
Chương 1: Thương mại điện tử - cơ sở lý luận và thực tiễn
B2B thường bao gồm các hoạt động giao dịch thương mại, trao đổi
dữ liệu điện tử (EDI), giao gửi số hóa các dung liệu
- Thương mại điện tử giữa doanh nghiệp với người tiêu dùng (B2C)
B2C là loại hình hoạt động TMĐT giữa doanh nghiệp với người tiêu
dùng. Đặc trưng quan trọng của loại hình hoạt động này là các hàng hóa,
dịch vụ trong giao dịch sẽ được sử dụng để phục vụ các nhu cầu của người
tiêu dùng.
Một trong những hoạt động chính của loại hình B2C là bán lẻ các sản
phẩm, dịch vụ (hữu hình và vô hình).
- Thương mại điện tử giữa doanh nghiệp và chính phủ (B2G)
Trên mạng thông tin quốc tế Internet, B2G (Business-to-Government)
là thuật ngữ chung chỉ việc các cơ quan của chính phủ và doanh nghiệp có
thể sử dụng các Web site trung ương để trao đổi thông tin và làm việc với
nhau có hiệu quả hơn. Chẳng hạn, các Web site của chính phủ có thể cung
cấp cho doanh nghiệp các thông tin về thuế, thủ tục hải quan, thông tin về
các mối quan hệ hợp tác, trả lời các câu hỏi và yêu cầu Các doanh nghiệp
và các cơ quan chính phủ cũng có thể trao đổi thông tin và hợp tác với nhau
khi thực hiện các dự án được ký kết bằng cách sử dụng một Web site chung
để tổ chức các cuộc họp trên mạng, đánh giá các kế hoạch và tổng kết các
kết quả đạt được qua mạng.
Hình 3: Các loại hình hoạt động chủ yếu trong TMĐT
- 12 -
Chương 1: Thương mại điện tử - cơ sở lý luận và thực tiễn
1.1.3. Những điều kiện phát triển thương mại điện tử.
1.1.3.1. Kết cấu hạ tầng công nghệ thông tin.
Thương mại điện tử không phải là một sáng kiến ngẫu hứng, mà là
hệ quả tất yếu của sự phát triển kỹ thuật số hoá của công nghê thông tin,
mà trước hết là kỹ thuật máy tính điện tử. Vì thế, chỉ có thể tiến hành
thương mại điện tử với nội dung và hiệu quả đích thực khi đã có một kết
cấu hạ tầng công nghệ thông tin vững chắc (bao gồm hai lĩnh vực: tin học
và truyền thông) trên qui mô quốc gia, cùng vói sự tham gia của toàn xã
hội. Trong đó, hai yếu tố quan trọng nhất là khả năng kết nối Internet (bao
gồm tốc độ đường truyền, số cổng kết nối, số người sử dụng Internet, số
lượng tên miền và web site, ) và hạ tầng viễn thông. Chi phí truy cập và
kết nối, thuê cổng Internet là một vấn đề không mang tính kỹ thuật, công
nghệ, nhưng có mối quan hệ mật thiết đối với trình độ khoa học - công
nghệ và quản lý của mỗi quốc gia. Theo quy luật cung - cầu, mức chi phí
đó sẽ tác động tới số lượng người sử dụng Internet, hay tác động tới tiềm
năng thị trường của TMĐT. Hạ tầng cơ sở công nghệ không chỉ cần sự hiện
hữu (availability) mà còn cần có tính khả dụng (affordability), nghĩa là chi
- 13 -
Chương 1: Thương mại điện tử - cơ sở lý luận và thực tiễn
phí trang bị các phương tiện công nghệ thông tin (điện thoại, máy tính,
modem v.v.) và chi phí dịch vụ truyền thông (phí điện thoại, phí nối mạng
và truy cập mạng) phải đủ rẻ để đông đảo người sử dụng có thể tiếp cận
được. Ðiều này có ý nghĩa đặc biệt to lớn đối với các nước đang phát triển,
mức sống nói chung còn thấp.
Cũng cần lưu ý rằng hạ tầng cơ sở công nghệ thông tin chỉ có thể có
và hoạt động đáng tin cậy trên nền tảng một nền công nghiệp điện năng
vững chắc, đảm bảo cung cấp điện năng đầy đủ, ổn định, và với mức giá
hợp lý.
Thiết lập và củng cố được một hạ tầng công nghệ trên nền tảng công
nghiệp điện năng như vậy đòi hỏi thời gian, hơn nữa phải đầu tư rất lớn.
Đây là điều đặc biệt khó khăn đối với các nước đang phát triển.
1.1.3.2. Nguồn lực con người.
Thương mại trong khái niệm "thương mại điện tử" liên quan tới mọi
người, từ người tiêu thụ tới người sản xuất phân phối, tới các cơ quan chính
phủ, tới cả các nhà công nghệ và phát triển.
Áp dụng thương mại điện tử tất yếu làm nảy sinh hai yêu cầu: một là
mọi người đều cần quen thuộc và có khả năng thành thạo hoạt động trên
Internet, hai là có một đội ngũ chuyên gia tin học nhanh, thường xuyên bắt
kịp các công nghệ thông tin mới phát triển ra để phục vụ cho kinh tế số hoá
nói chung và thương mại điện tử nói riêng, cũng như có khả năng thiết kế
các công cụ phần mềm đáp ứng được nhu cầu hoạt động của một nền kinh
tế số hoá, tránh bị động lệ thuộc hoàn toàn vào nước khác.
Ngoài ra, nếu sử dụng Internet/Web, thì một yên cầu tự nhiên nữa của
kinh doanh trực tuyến là tất cả những người tham gia đều phải thành thạo
Anh ngữ, vì tới nay (và có lẽ còn tới một thời điểm rất xa nữa) ngôn ngữ chủ
yếu sử dụng trong thương mại nói chung và thương mại điện tử qua mạng
Internet nói riêng vẫn là tiếng Anh. Đây cũng sẽ là một khó khăn không nhỏ
- 14 -
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét